VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (11): DỊCH ĐỒNG SÁNG THẾ.

(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(11)

DỊCH ĐỒNG SÁNG THẾ

NHÓM TRỐNG VŨ TRỤ.

Nguyễn Xuân Quang

Chúng ta đã biết Việt dịch đồng Đông Sơn qua các nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng như trống Ngọc Lũ I, Cổ Loa I, Sông Đà, Miếu Môn I, nhóm trống thái âm có mặt trời 16 nọc tia sáng như trống Hoàng Hạ, có mặt trời 8 nọc tia sáng như trống Quảng Xương, nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng có một khuôn mặt như trống Vienna (Khai Hóa), Hữu Chung… và nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng như trống Phù Lưu và Đắc Giao.

Các trống này là trống thế gian có mặt trời có nọc tia sáng bằng hay lớn hơn 8 và trên mặt trống có cảnh sinh hoạt nhân sinh hay các thú bốn chân sống trên mặt đất và thường có dịch thế gian tức dịch Hậu Thiên mang tính chủ.

Bài viết này nói tới dịch đồng diễn tả dịch sáng thế tạo hóa thường thấy ở loại trống vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay dưới 7 hay ở một số trống thế gian đơn giản (không có cảnh sinh hoạt nhân sinh hay thú bốn chân) diễn tả sáng thế cõi trời thế gian.

Lưu Ý

Xin nhắc lại tôi chia trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn ra làm hai loại. Loại trống thế gian có mặt trời bằng hay lớn hơn 8. Nhóm thứ hai là nhóm trống vũ trụ có mặt trời bằng hay nhỏ hơn 7. Vì sao? Vì như đã biết, 64 quẻ dịch chia ra làm 8 chuỗi hay 8 tầng. Mỗi chuỗi, mỗi tầng có 8 quẻ ba vạch (trigrams). 64 quẻ gồm hai nhánh: nhánh thượng từ 0 tới 31 mang dương tính và nhánh hạ từ 32 tới 64 mang âm tính.

Trong nhánh thượng, dương, tám quẻ của chuỗi hay tầng đầu tiên gồm từ quẻ 0 tới 7 diễn tả cõi tạo hóa tối cao, Thượng Thế vì thế mà các trống đồng có mặt trời có số nọc tia sáng từ 0 tới 7 tôi xếp vào loại trống vũ trụ. Loại này thường có mặt trống trống trơn (trong trường hợp mặt trống chỉ diễn tả một thứ mandala, xem Trống Đồng và Mandala) hay chỉ có chim, hầu hết là cò bay (chim biểu tượng cho cõi trên, cõi trời, Thượng Thế.)

Từ chuỗi thứ hai trở xuống nghĩa là các quẻ lớn hay bằng 8 trở lên thuộc Trung và Hạ Thế. Trung Thế thường có cảnh nhân sinh hay thú bốn chân sống trên mặt đất.

Dịch sáng thế diễn tả vũ trụ tạo sinh ở cõi tạo hóa hay đại vũ trụ và ở cõi trên (trời) thế gian hay tiểu vũ trụ. Loại dịch này diễn tả khái quát qui trình của vũ trụ tạo sinh nên giản dị thường không có hình người, thú mà vài khi chỉ có hình chim bay biểu tượng cõi trên, tạo hóa, cõi trời. Vì tính cách khái quát hay đơn sơ, giản dị nên dịch sáng thế có thể thấy ở các trống tối cổ (kỹ thuật còn thô sơ) hay ở các trống rất muộn ở vào thời kỳ nền văn minh Đông Sơn tàn lụi.

I. DỊCH SÁNG THẾ ĐẠI VŨ TRỤ

-Trống vũ trụ có số nọc tia sáng dưới hay bằng 7.

Như đã nói ở trên, Dịch này diễn tả qui trình sinh tạo, sáng thế, khai thiên lập địa, tạo hóa thuở ban sơ, một cách khái quát thấy ở các trống có mặt trời có số nọc tia sáng nhỏ hơn hay bằng 7.

TRỐNG LẠI THƯƠNG

Trống được tìm thấy ở xã Lại Thương, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Sơn Bình năm 1975.

clip_image002

Trống Lại Thương (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Nhìn tổng quát trống nong nóng vì khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có nhiều nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương chồng lên nhau, ngoài biên cũng có hai vành nọc mũi mác. Tuy nhiên các vành giới hạn lại là các vành trống không mang âm tính.

Trống có mặt trời 6 nọc tia sáng, Tốn (tầng 1, vũ trụ) thuộc nhóm trống thái dương nhánh nọc dương thái dương vì có sự hiện diện của hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương. Như thế trống này cùng nhóm với trống Ngọc Lũ I nhưng trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng, Tốn tầng 2 (6, 14) là trống thế gian nên có vành sinh hoạt nhân sinh và thú hươu bốn chân (còn trống này là trống vũ trụ).

Trống này thuộc loại trống vũ trụ và chỉ có vành cò bay.

Như đã biết, nhóm trống thái dương (ở đây với mặt trời có số 6 Tốn nọc tia sáng) có những khuôn mặt chính là Càn 7, Li 5, thấy qua thứ tự các con số 5-6-7 và Tốn hôn phối với Đoài và Chấn.

Mặt trống có 7 vành. Số 7 là số Càn. Như thế trống nghiêng về khuôn mặt chủ Càn.

Hư Vô, Thái Cực

Ở đây vỏ hư vô và vỏ trứng vũ trụ (thái cực) trùng nhau có độ dầy trung bình mang âm tính trung bình tức ở dạng thiếu dương OI (âm O của dương I). Như thế trống có một khuôn mặt thiếu dương Li 5.

Lưỡng Nghi

Cực dương là mặt trời 6 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thái dương vũ trụ.

Cực âm là không gian có hình thái 7 nọc mũi mác chồng lên nhau. Số 7 là số Càn. Trong khung nhỏ đầu bằng có hình núi tháp nhọn trong có nọc trụ que diễn tả núi lửa đất tháp Li. Hình thái khoảng không gian giữa các nọc tia sáng là hình thái đôi liên hợp phía nọc dương Càn 7 Li 5 (khuôn mặt tương đồng bản thể lửa, thái dương của Tốn 6 nọc tia sáng âm thái dương).

Như thế khoảng không gian giữa các nọc tia sáng không diễn tả trọn vẹn tứ tượng tức chỉ diễn tả sự sinh tạo của nhóm nọc dương Càn Li.

Vành Sinh Tạo

Ở đây chỉ có hai vành:

Vành 1 là vành sóng vòng tròn có chấm có một nghĩa là Li thấy rõ qua tiếp tuyến đi từ tiếp điểm ở đáy vòng tròn mang âm tính nòng O (dưới đáy là âm) lên tiếp điểm ở đỉnh vòng tròn kế tiếp mang dương tính I (trên đỉnh là dương). Tiếp tuyến theo chiều âm O lên dương I tức OI, thiếu dương, nguyên thể của Li. Kiểm điểm lại ta cũng thấy đúng vì trống có khuôn mặt Li thì vành Li phải để trong cùng sát gần mặt trời.

Như thế vành 1 diễn tả Li vận hành sinh tạo.

Vành 2 ngược lại là vành Đoài vận hành sinh tạo.

Như vậy hai vành sinh tạo diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li-thiếu âm Đoài.

Vành chính yếu của mặt trống là vành trống không có một khuôn mặt Khôn hôn phối với Càn.

Tứ Tượng

Phần còn lại của mặt trống chỉ có một vành là vành 4 cò bay. Rất tiếc hình cò mòn mờ mất nên không rõ là cò Càn hay Li? Nhưng vì số nọc tia sáng nhỏ hơn 7, ở đây cò có nhiều triển vọng nghiêng về biểu tượng cho cõi thượng thế, vũ trụ, tạo hóa tức mang tính Càn.

Những Vành Ngoài Biên.

4 vành ngoài biên gồm hai vành mũi mác thái dương và hai vành Li-Đoài. Bốn vành cho biết trống diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ Li Đoài nhánh nọc dương thái dương.

Tóm lại trống này có mặt trời 6 nọc tia sáng thuộc nhóm trống vũ trụ thái dương có khuôn mặt Càn, có 7 vành Càn, có vành trống không chính Càn Khôn nhưng lại có những vành chấm vòng tròn và vòng tròn chấm có tiếp tuyến chuyển động diễn tả lưỡng hợp tiểu vũ trụ Li-Đoài (tức có khuôn mặt Li) và vỏ không gian khá dầy mang tính Li. Như thế trống diễn tả nhánh nọc lửa Càn-Li. Tuy nhiên vì là trống vũ trụ, theo chính thống thì khuôn mặt Càn mang tính chủ.

Dịch Tiên Thiên Lại Thương Càn Li.

Như thế trống diễn đạt một loại dịch Tiên Thiên một cách khái quát thấy qua qui trình vũ trụ tạo sinh là hư vô, thái cực, lưỡng nghi và tứ tượng của nhánh Càn Li với Càn mang tính chủ.

Kết luận

Trống Lại Thương là trống vũ trụ diễn tả dịch Tiên Thiên Lại Thương Càn một cách khái quát.

Trống Lại Thương thuộc nhóm trống thái dương có mặt trời có nọc tia sáng Tốn (6, 14, 22) thuộc nhánh nọc dương thái dương như trống Ngọc Lũ I, Sông Đà, Cồ Loa I, Miếu Môn I, Phú Xuyên. Nhóm trống thái dương có những khuôn mặt chính tương đồng bản thể lửa là Càn, Li và hôn phối là Đoài, Chấn.

Trống Ngọc Lũ I diễn tả nhóm nọc thái dương Càn Li với Li đội lốt Càn mang tính chủ vì là trống thế gian. Trống Sông Đà diễn tả nhóm nòng thái dương Đoài Chấn với Đoài mang tính chủ, trống Phú Xuyên diễn tả đại tộc Li thế gian (vì có hình thú mang sủa), trống Miếu Môn I diễn tả Chấn thế gian… Trống vũ trụ Lại Thương này diễn tả Càn vũ trụ. Ngoài ra trống Cổ Loa I diễn tả Đoài nhánh nọc âm thái dương.

-Loại có mặt trời có số nọc tia sáng bằng 8.

Theo chính thống, trống vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng dưới hay bằng 7, tuy nhiên trong vài trường hợp mặt trời có 8 nọc tia sáng cũng xử sự như một trống vũ trụ vì số Khôn 8 thay thế cho số Khôn 0. Vì vậy trống có mặt trời 8 nọc tia sáng lúc này mang khuôn mặt trống vũ trụ.

Lưu Ý

Xin nhắc lại, vì trên trống đồng nòng nọc (âm dương) có khuôn mặt chính là trống biểu của ngành trống, đực, nọc, dương nên gần như không thấy có mặt trời đĩa tròn âm, không có ánh sáng tức 0 nọc tia sáng. 0 là số Khôn tầng 1. Không có trống vũ trụ Khôn 0 nọc tia sáng. Vì thế nhiều khi số 8 Khôn tầng 2 được dùng thay cho Khôn 0. Khôn 8 ứng xử như Khôn 0 nghĩa là khi đó trống có mặt trời 8 nọc tia sáng coi như thay thế, đại diện cho trống có nọc tia sáng khôn 0. Nói một cách khác khi đó trống có mặt trời Khôn 8 nọc tia sáng là một trống thuộc loại trống vũ trụ. Trong trường hợp này bắt buộc trống không thể có vành sinh hoạt nhân sinh hay thú bốn chân sống trên mặt đất (đây là đặc tính đặc thù của trống thế gian). Cùng lắm trống Khôn 8 vũ trụ chỉ có chim bay biểu tượng cho cõi trên, vũ trụ.

Ví dụ:

TRỐNG ĐÔNG SƠN IV.

clip_image004

Trống Đông Sơn IV (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Tâm trống:

Hư Vô, Vô Cực

Vỏ hư vô nhỏ nét mang dương tính cho biết hư vô trung tính tiến hóa tới không gian dương trước.

Thái Cực

Vỏ trứng thái cực trùng với vỏ hư vô cho biết không gian mang dương tính.

Lưỡng Nghi

-Cực dương

Mặt trời 8 nọc tia sáng thuộc nhóm thái âm Khôn có khuôn mặt chính là Chấn 9, Càn 7 (7-8-9)

Ngoài ra Khôn cũng hôn phối với Càn. Ở đây là mặt trời Càn vì vỏ hư vô, vỏ trứng vũ trụ mang dương tính.

-Cực âm

Khoảng không gian giữa các nọc tia sang có hình thái đơn đồng nhất có các sọc chéo song song diễn tả không gian Khôn.

Ta có mặt trời-không gian Càn Khôn của đại tộc Càn.

Vùng Sinh Tạo

Ở đây là vành trống không Khôn 0 cho biết trống mang khuôn mặt Càn Khôn tạo hóa. Khôn 8 dương thế gian ở đây ứng xử đích thực như Khôn tạo hóa 0.

Tứ Tượng

Vành chủ chốt có 4 cò bay. Cò có đầu to như dương vật, không có bờm. Trong cổ có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình que mang nghĩa nọc, cọc, dương, thái dương. Đây là tộc cò Càn trong Liên Bang Cò Lang Văn Lang Hùng Vương.

Hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ngoài biên cho biết trống thuộc nhánh nọc dương thái dương.

Tóm lại ta có một loại dịch Tiên Thiên diễn đạt một cách khái quát thấy qua qui trình vũ trụ tạo sinh là hư vô, thái cực, lưỡng nghi và tứ tượng của đại tộc Càn nhánh nọc dương thái dương.

TRỐNG HÀ NỘI III.

Trống này giống trống Đông Sơn IV chỉ khác hai vành ngoại biên là hai vành thanh thang cho biết thuộc nhánh nọc âm thái dương.

clip_image006

Trống Hà Nội III (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Tâm trống:

Hư Vô, Vô Cực

Vỏ hư vô nhỏ nét mang dương tính cho biết hư vô trung tính tiến hóa tới không gian dương trước.

Thái Cực

Vỏ trứng thái cực trùng với vỏ hư vô cho biết không gian mang dương tính.

Lưỡng Nghi

-Cực dương

Mặt trời 8 nọc tia sáng thuộc nhóm thái âm Khôn có khuôn mặt chính là Chấn 9-Càn 7 (7-8-9).

Ngoài ra Khôn cũng hôn phối với Càn. Ở đây là mặt trời Càn vì vỏ hư vô, vỏ trứng vũ trụ mang dương tính.

-Cực âm

Khoảng không gian giữa các nọc tia sang có hình thái đơn đồng nhất có các sọc chéo song song diễn tả không gian Khôn.

Ta có mặt trời-không gian Càn Khôn của đại tộc Càn. Khôn 8 thế gian ở đây ứng xử như Khôn tạo hóa 0.

Tứ Tượng

Vành chủ chốt có 4 cò bay.

Có đầu to như dương vật, không có bờm. Trong cổ có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình que mang nghĩa nọc, cọc, dương, thái dương. Đây là tộc cò Càn trong Liên Bang Cò Lang Văn Lang Hùng Vương.

Hai vành thanh thang ngoài biên cho biết trống thuộc nhánh nọc âm thái dương.

Dịch Tiên Thiên Hà Nội III Càn.

Tóm lại ta có một loại dịch Tiên Thiên diễn đạt một cách khái quát thấy qua qui trình vũ trụ tạo sinh là hư vô, thái cực, lưỡng nghi và tứ tượng của đại tộc Càn nhánh nọc âm thái dương.

Ta thấy rõ Khôn 8 dương thế gian ở đây ứng xử như Khôn 0 tạo hóa.

II. DỊCH SÁNG THẾ TIỂU VŨ TRỤ

Tiểu vũ trụ là cõi thế gian, nhân gian, con người là tiểu vũ trụ.

Dịch loại này thấy ở các trống thế gian có mặt trời có số nọc tia sáng lớn hơn 8 nhưng không có cảnh sinh hoạt nhân sinh hay các thú bốn chân trên mặt trống mà cùng lắm chỉ có chim bay.

TRỐNG XUÂN LẬP I.

clip_image008

Trống Xuân Lập I (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống tìm thấy ở xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa năm 1981.

Trống thuộc nhóm thiếu âm có mặt trời có số nọc tia sáng là số 10, số Khảm tầng 2 (2, 10) có những khuôn mặt chính là 11 Đoài-9 Chấn, thấy qua thứ tự các con số 9-10-11. Ngoài ra Khảm 10 hôn phối với Li 13.

Hư Vô

Vỏ khá dầy mang âm tính.

Thái Cực

Vỏ trứng vũ trụ trùng với vỏ hư vô có tính âm như đã nói ở trên.

Lưỡng Nghi

-Cực dương

Mặt trời 10 nọc tia sáng ở đây có khuôn mặt Đoài mang tính chủ vì vỏ hư vô và trứng thái cực khá dầy mang tính thiếu âm.

Ta cũng thấy rõ qua nọc tia sáng hình đầu bút lông mang âm tính cho thấy mặt trời mang âm tính tức thiếu âm (thái dương II của âm tức IIO, Đoài).

-Cực âm

Không gian có các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đôi diễn tả nhánh nọc dương Càn Li. Có 5 nọc mũi mác Li chồng lên nhau. Ở dưới có hình thái mũi tên do ba nọc que nhỏ lại. Ba nọc que là Càn. Ở đây Li mang tính trội vì là trống thế gian và Li hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió theo lưỡng hợp tiểu vũ trụ.

Vành Sinh Tạo.

Gồm 3 vành: 2 vành thanh thang nọc âm thái dương kẹp giữ vành vòng tròn có chấm ở đây lấy nghĩa Đoài vũ trụ khí gió vì trống thuộc nhóm thiếu âm và nằm giữa hai vành thanh thang nọc âm thái dương.

Ba vành sinh tạo diễn tả Đoài nọc âm thái dương vận hành.

Tứ Tượng

Đây là vành chủ yếu của mặt trống, có 4 cò bay.

Cò có bờm nọc như sợi tóc, cánh hình vung vòm trời. Đây là tộc cò Đoài vũ trụ của Liên Bang Cò Lang Văn Lang.

Vành Ngoài Biên.

Ba vành ngoài biên giống ba vành sinh tạo mang nghĩa Đoài nọc âm thái dương.

Tóm lại trống Xuân Lập I diễn tả vũ trụ tạo sinh cõi trời sinh tạo thế gian của đại tộc Đoài vũ trụ khí gió thuộc nhánh nọc âm thái dương.

Dịch Tiên Thiên Xuân Lập I Đoài Vũ Trụ.

Thượng thế diễn tả hư vô, thái cực, lưỡng nghi của đại tộc Đoài.

Vành chủ yếu có 4 cò Đoài diễn tả tứ tượng.

Như thế ở trống Xuân Lập I thế gian này, ta có một thứ dịch Tiên Thiên Xuân Lập I Đoài diễn tả dịch sáng thế cõi trời thế gian, thuộc nhánh nọc âm thái dương.

Kết Luận

Tóm lại ở loại trống vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng dưới hay bằng 7 và vài khi trống thế gian có mặt trời có 8 nọc tia sáng diễn tả một loại dịch sáng thế đại vũ trụ hay dịch Tiên Thiên đại vũ trụ. Những trống thế gian có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay hơn 8 ở dưới dạng đơn giản không có cảnh sinh hoạt nhân sinh hay thú bốn chân chỉ diễn tả sự sáng thế ở cõi trên thế gian ta có dịch Tiên Thiên tiểu vũ trụ. Hai loại dịch này gọi chung là Dịch Đồng Sáng Thế.

Dịch đồng sáng thế có những đặc tính:

-dịch mang tính Tiên Thiên.

-giản dị diễn tả khái quát các giai kỳ của vũ trụ tạo sinh, dịch.

-vì giản dị, thô sơ diễn tả khái quát qui trình của vũ trụ tạo sinh thường không có hình người, thú mà vài khi chỉ có hình chim bay biểu tượng cõi trên, tạo hóa, cõi trời. Vì tính cách khái quát hay đơn sơ, giản dị nên dịch sáng thế có thể thấy ở các trống tối cổ (kỹ thuật còn thô sơ) hay ở các trống rất muộn ở vào thời kỳ nền văn minh Đông Sơn tàn lụi.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: