VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐỒNG SƠN (10): DỊCH ĐỒNG PHÙ LƯU và ĐẮC GIAO.

(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(10)

DỊCH ĐỒNG PHÙ LƯU và ĐẮC GIAO

NHÓM TRỐNG THIẾU ÂM MẶT TRỜI 10 NỌC TIA SÁNG.

Nguyễn Xuân Quang

Chúng ta đã biết về dịch của ba nhóm trống:

-Nhóm trống thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn (tầng 2: 6, 14) của ngành mặt trời nọc thái dương gồm hai nhánh là: nhánh nọc dương thái dương như trống Ngọc Lũ I, Sông Đà và nhánh nọc âm thái dương như trống Cổ Loa I.

-Nhóm trống thái âm có mặt trời với số nọc tia sáng Khôn (16, 8) của ngành nọc thái dương gồm hai nhánh là: nhánh nọc dương thái dương như: trống Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng và nhánh nọc âm thái dương như trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng.

-Nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn (tầng 2: 4, 12) của ngành nọc thái dương gồm hai nhánh là:

-Nhánh nọc dương thái dương: trống Vienna (Viên) hay Khai Hóa

-Nhánh nọc âm thái dương: nhóm trống cóc/ếch, trong đó trống Hữu Chung là tiêu biểu.

Bài viết này nói về nhóm trống thiếu âm có mặt trời có số nọc tia sáng Khảm (tầng 2: 2, 10) của ngành nọc thái dương gồm:

-Nhánh nọc âm thái dương: trống Phù Lưu Đắc Giao

-Nhánh nọc dương thái dương: tôi chưa gặp trống có hình mặt trống vẽ chi tiết rõ ràng.

TRỐNG PHÙ L ƯU.

Trong mớ tài liệu các trống đồng nòng nọc (âm dương) cũ tìm thấy ở Việt Nam, ở nhóm trống có mặt trời 10 nọc tia sáng, tôi chỉ tìm thấy một hai trống rất muộn là trống Phù Lưu và Đắc Giao là có hình người có nghĩa là có diễn tả một thứ dịch. Tôi sẽ tìm dịch ở các trống cổ hơn khi gặp.

Tổng quát

Nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng với số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10). Khảm OIO là âm O thiếu âm IO có Đoài, IIO khí gió tức dương I thiếu âm OI làm đại diện. Qua thứ tự các con số 9-10-11, ta thấy số 10 bước thêm một bước nữa là số 11, Đoài tầng 2 (3, 11) và lùi 1 bước về phía trái, âm là số 9, Chấn tầng 2 (1, 9). Ngoài ra Khảm 10 hôn phối vợ chồng với Li 13. Như thế nhóm trống có mặt trời 10 nọc tia sáng thiếu âm này có ba khuôn mặt chính là Đoài 11, Chấn 9, Li 13 và Càn 15 là phụ nhất.

Trống tìm thấy ở thôn Phù Lưu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Bình Trị Thiên, năm 1977.

Mặt Trống

clip_image002

Trống Phù Lưu (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Mặt trống trông mát lạnh cho biết thuộc ngành nòng âm Khôn. Trống Phù Lưu cũng thuộc nhóm trống cóc ếch như trống Hữu Chung nhưng khác trống Hữu Chung. Trống Phù Lưu có mặt trời 10 nọc tia sáng thuộc nhóm trống thiếu âm trong khi trống Hữu Chung có mặt trời 12 nọc tia sáng tức thuộc nhóm trống thiếu dương.

Mặt trống có 8 vành. Số 8 là số Khôn. Khôn dương là thiếu âm Đoài. Ba vành ngoài biên trống có hai vành thanh thang kẹp giữ vành vòng tròn có chấm có một nghĩa là Đoài nọc cho biết trống có khuôn mặt Đoài nhánh nọc âm thái dương mang tính trội.

Thượng Thế.

-Hư Vô

Vỏ hư vô nhỏ nét cho biết hư vô, vô cực trung tính tiến hóa tới không gian dương, khí gió trước.

-Thái cực

Vỏ trứng vũ trụ trùng với vỏ hư vô, vô cực mang ý nghĩa như đã nói ở trên.

-Lưỡng nghi

Cực dương:

Mặt trời thiếu âm có 10 nọc tia sáng.

Cực âm:

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái nhánh nòng âm bờm chim-hình hai giọt nước thể điệu hóa thành hai hình tháp diễn tả nhánh Đoài Chấn. Xen kẽ với hình thái Đoài Chấn này là hình thái đồng nhất gồm có 4 hay 5 nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) chồng lên nhau có nghĩa là Cấn, Li. Đúng ra phải là 5 nọc mũi mác Li.

Theo chính thống phải là nhánh nọc Li Càn đối ứng với nhánh nòng Đoài Chấn. Đây là trống quá muộn nên đã làm sai.

-Vùng tứ hành

Có 3 vành :

-vành 1: hình sóng N gẫy nhỏ diễn tả lửa thái dương Càn (N gồm 3 nọc que III tức Càn ghép lại). Ở hai bên chữ N có hai hình tam giác đen do hai giọt nước chuyển động thể điệu hóa diễn tả Chấn.

Ta có dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương lửa Càn và thái âm nước Chấn chuyển hành.

-vành chấm vòng tròn ở đây gần mặt trời ta lấy nghĩa là thiếu dương Li, hôn phối với khuôn mặt Khảm của trống.

-vành thanh thang ở đây, theo duy dương như thấy qua vỏ hư vô/trứng vũ trụ rất nhỏ, mang nghĩa dương của âm tức Đoài vũ trụ khí gió vận hành.

Ta có đủ 4 hành. Nhưng tứ hành đã diễn tả không cò theo chính thống.

Ở đây cho thấy rất rõ khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở nhánh Li đã làm sai. Vì ở đây có tứ hành thì ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng phải có tứ tượng, tức phải có Li-Càn đối ứng với Đoài Chấn.

Trung Thế

-Vành nhân sinh

Vành này có 25 người thể điệu hóa. Sốn 25 là số Chấn tầng 4 (1, 9, 17, 25).

clip_image003

Người và cò trên trống Phù Lưu.

Phía trước có nọc cong tua gió có chấm dương tính diễn tả Đoài khí gió. Phần giữa trang phục đầu hình cánh chim có hai hàng sọc nghiêng lông chim. Con mắt dương vòng tròn có chấm có một nghĩa là Đoài. Người mang vóc dáng người Đoài gió.

Với số Chấn, người ở đây là người nòng Khôn Đoài-Chấn với khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió  mang tính chủ.

-Vành cò bay

Có 6 cò bay. Số 6 là số Tốn, có khuôn mặt tương giao với Đoài.

-Ba vành ngoại biên

Gồm hai vành thanh thang nọc âm thái dương kẹp giữa vành chấm vòng tròn có một nghĩa Đoài vũ trụ khí gió. Ba vành mang nghĩa Đoài nọc âm thái dương. Ba vành này cho biết trống có khuôn mặt chủ là Đoài vũ trụ khí gió nọc âm thái dương.

Có 4 tượng ếch ở ngoài cùng mép trống.

Với khuôn mặt Đoài mang tính chủ thì đây là trống sấm dông gió và con vật lưỡng cư này nghiêng về con cóc.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, là Sấm Dông Phù Đổng Đổng Thiên Vương (Phù có một nghĩa là Gió như gió thổi phù phù và Đổng là Động, là Sấm). Ông là hậu thân hay hiện thân của Lạc Long Quân có một khuôn mặt là thần sấm mưa.

Dịch Tiên Thiên Phù Lưu.

Mặc dầu có 4 hành nhưng khoảng không gian giữa các nọc tia sáng làm sai chỉ có 3 tượng và mặt trống không phân chia ra hai bán viên nòng nọc (âm dương) được nên trống không diễn tả dịch Tiên Thiên.

Dịch Hậu Thiên Đoài Phù Lưu.

Trống có khuôn mặt Đoài mang tính chủ nên có dịch của một đại tộc tức dịch Hậu Thiên mang tính chủ yếu.

Vì là dịch Hậu Thiên ta lấy các quẻ ba vạch trên cả mặt trống.

Vì là trống muộn rất giản dị chỉ diễn tả những quẻ ba vạch chính, còn lại các quẻ ba vạch phụ khác suy ra qua tương giao hay tương hợp với các quẻ ba vạch chính này.

Vì Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ ta để cặp Đoài-Chấn lên trên hết.

-Cặp Đoài Chấn

25 người Đoài-Chấn. Số 25 là số Chấn tầng (1, 9, 17, 25).

Chấn tương giao với Đoài trong dịch Hậu Thiên.

-Cặp Tốn Cấn-

.Tốn

6 con cò bay.

.Cấn

4 tượng cóc.

Cấn hôn phối với Tốn.

-Khảm Li

Khảm:

10 nọc tia sáng với số 10 là số Khảm hôn phối với Li.

-Khôn-Càn.

Khôn

8 vành trên mặt trống.

Như thế rõ ràng ta có một dịch Hậu Thiên Đoài Phù Lưu theo khuôn mặt Đoài mang tính chủ của trống.

Kết Luận

Trống này thuộc nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng diễn tả khuôn mặt chính Đoài trong những khuôn mặt chính của nhóm trống là Đoài (11), Chấn (9) như thấy qua thứ tự cac con số (9-10-11).

Khuôn mặt Đoài của trống mang tính chủ nên chỉ có một dịch Hậu Thiên Đoài Phù Lưu.

Trống đã rất muộn nên diễn tả dịch không còn theo qui ước và có sai sót ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng.

TRỐNG ĐẮC GIAO.

Tổng quát

Nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng với số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10) cùng nhóm trống Phù Lưu có ba khuôn mặt chính là Đoài 11, Chấn 9, Li 13 và Càn 15 là phụ nhất. Trống Đắc Giao cũng rất muộn như trống Phù Lưu nên diễn tả rất thể điệu hóa và không còn giữ theo qui ước chính thống.

Trống tìm thấy ở bờ sông Đắc Giao, tỉnh Gia Lai, Kontum, năm 1921.

Mặt Trống

clip_image002[1]

Mặt trống Đắc Giao (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

clip_image004

Hình vẽ mặt trống Đắc Giao (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Mặt trống trông âm ấm vì có vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương, núi tháp nhọn đất dương sinh động và hai vành sọc nghiêng hình lông chim ngoài biên… cho biết thuộc ngành nòng âm Khôn dương khí gió Đoài mang tính chủ.

Mặt trống có 8 vành. Số 8 là số Khôn. Khôn dương là thiếu âm Đoài.

Thượng Thế.

-Hư Vô

Vỏ hư vô nét vừa phải cho biết hư vô, vô cực trung tính tiến hóa tới không gian dương, khí gió trước.

-Thái cực

Vỏ trứng vũ trụ trùng với vỏ hư vô, vô cực mang ý nghĩa như đã nói ở trên.

-Lưỡng nghi

Cực dương:

Mặt trời thiếu âm có 10 nọc tia sáng.

Cực âm:

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái ngành nòng âm bờm chim-hình hai giọt nước thể điệu hóa thành hai hình tháp diễn tả nhánh Đoài Chấn. Xen kẽ với hình thái Đoài Chấn này là hình thái đơn đồng nhất gồm có 3 hay 4 nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) chồng lên nhau có nghĩa là Đoài, Cấn. Đúng ra phải là 5-7 Càn Li. Theo chính thống phải là ngành nọc Li Càn đối ứng với ngành nòng Đoài Chấn. Đây là trống quá muộn nên đã làm sai.

-Vùng tứ hành

Có 3 vành :

-vành 1: hình sóng N gẫy nhỏ diễn ta lửa thái dương Càn (N gồm 3 nọc que III tức Càn ghép lại). Ở hai bên chữ N có hai hình tam giác trắng do hai giọt nước chuyển động thể điệu hóa diễn tả Chấn. Ở đây thể điệu hóa đến độ gần như không còn nhận ra nữa.

Ta có dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương lửa Càn và thái âm nước Chấn vận hành,

-vành 2: nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ở đây có nghĩa là nọc núi tháp nhọn đất dương Li.

-vành 3: vòng tròn nòng O trong có đánh dấu (mark, accent) nòng vòn tròn tí hon o cho biết là nòng Khôn. Ở đây mang dương tính là Khôn dương Đoài khí gió.

Ta có đủ 4 hành. Nhưng tứ hành đã diễn tả không còn theo chính thống.

Ở đây cho thấy rất rõ khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở nhánh Li-Càn đã làm sai. Vì ở đây có tứ hành thì ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng phải có tứ tượng, tức phải có Li-Càn đối ứng với Đoài Chấn.

Trung Thế

-Vành nhân sinh

Vành này có 17 người thể điệu hóa. Sốn 17 là số Chấn tầng 3 (1, 9, 17).

clip_image005

Người cò và ba vành ngoài biên trên trống Đắc Giao.

 Phía trước trang phục đầu có nọc cong tua gió có chấm dương tính diễn tả Đoài khí gió. Phần giữa trang phục đầu hình cánh chim có hai hàng sọc lông chim. Con mắt nòng O có đánh dấu nòng o  tí hon, như đã nói ở trên, có nghĩa là nòng dương khí gió Đoài. Người này thuộc đại tộc Đoài khí gió.

Lưu ý ở cả hai trống người Đoài có số Chấn diễn tả Đoài Chấn liên hợp với nhau với khuôn mặt Đoài mang tính chủ.

-Vành cò bay-dóng sấm.

Có 4 cò bay. Số 4 là số Cấn, có khuôn mặt tương giao với Đoài. Trên người cò cũng có những chữ nòng vòng tròn đánh dấu nòng o  tí hon Đoài và vẽ hình lông chim. Đây là những con cò đại tộc Đoài của liên bang cò Lang Văn Lang Hùng Vương Đoài vũ trụ.

Xen kẽ với cò bay có bốn dóng sấm hình túi hai đầu nhọn mang tính thái dương tức không gian dương khí gió Đoài (túi, bao biểu tượng cho bầu vũ trụ, không gian). Ở trên dóng sấm có 11 chữ nòng vòng tròn đánh dấu nòng tí hon Đoài. Số 11 cũng là số Đoài tầng 2 (3, 11). Như thế đây là dóng sấm dông gió Đoài cho biết sấm ở trống này là sấm dông.

-Ba vành ngoại biên

Vành 1: gồm hai chuỗi sóng chuyển động vòng tròn có đánh dấu nòng o tí hon Đoài ngành thái dương.

Vành 2 và 3 là hai vành những sọc nghiêng (nọc nghiêng), một dạng biến thể của hai vành nọc thanh thang hay đường rầy.

Đây là trống rất muộn, người làm trống đã dùng gạch nghiêng để diễn tả tính động của gió. Hai vành nọc nghiêng ngược chiều nhau này trông như lông chim. Hai vành nọc nghiêng là dạng chuyển động của hai vành nọc thanh thang với ngụ ý diễn tả nọc âm thái dương phía Khôn dương Đoài khí gió.

Lưu Ý

Hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương, mặt trời, núi tháp nhọn đất dương sinh động… Hiểu theo nghĩa tổng quát là hai dương, thái dương, nhánh thái dương, là Lửa. Tuy nhiên hai vành này đối nhau. Vành trong, mũi chỉ địa diễn tả ánh sáng từ mặt trời chiếu xuống tức nọc I thái dương II, Lửa thái dương tức III, Càn và vành ngoài chỉ thiên hình núi tháp nhọn diễn tả Đất dương, nọc I thiếu dương OI, Lửa thiếu dương IOI, Li.

Hai vành thanh thang hay đường rầy là chuỗi hai nọc âm đầu bắng chữ I hoa: II (đối tương ứng với hai nọc ghép lại thành nọc mũi mác, nọc dương thái dương) tổng quát mang nghĩa là nọc âm thái dương, nọc Khôn.

Ví dụ điển hình nhất hai tháp trụ vuông đầu bằng thấy ở tháp Champa như Tháp Đôi ờ Qui Nhơn, Bình Định xây theo kiến trúc VIshnu (có một khuôn mặt âm nam thái dương) và thấy ở Vương Cung Thánh Đường Saigon và Nôtre Dame de Paris (có một khuôn mặt thái dương  thần nữ tức âm nữ thái dương ). Hai tháp này diễn tả nọc âm thái dương.

Một vành diễn tả nọc Khôn dương tức nọc I thiếu âm IO là IIO, Đoài khí gió và một vành diễn tả nọc Khôn âm tức nọc I thái âm OO là IOO, Chấn nước dương (xem Chữ Nòng Nọc).

Vì thế ở đây tác giả làm trống này mới dùng các sọc nghiêng (gió tạt nghiêng ngả) một cách ‘bình dân học vụ’ để diễn tả Đoài khí gió của nhánh nọc âm thái dương.

Có 4 tượng cóc/ếch ở ngoài cùng mép trống.

Với khuôn mặt Đoài mang tính chủ thì đây là trống sấm dông gió và con vật lưỡng cư này nghiêng về con cóc.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, là Sấm Dông Phù Đổng Đổng Thiên Vương (Phù có một nghĩa là Gió như gió thổi phù phù và Đổng là Động, là Sấm). Ông là hậu thân hay hiện thân của Lạc Long Quân có một khuôn mặt là thần sấm mưa.

Qua hai trống Phù Lưu và Đắc Giao thuộc nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng thuộc nhánh nọc âm thái dương ta có sấm dông trong khi nhóm trống Hữu Chung thuộc nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng có sấm mưa ta rút ra một hệ luận như sau:

Trống có tượng lưỡng cư cóc/ếch thuộc nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng thường diễn tả sấm dông và con vật lưỡng cư là con cóc. Trong khi trống có tượng lưỡng cư ếch/cóc thuộc nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng thường diễn tả sấm mưa và con vật lưỡng cư là con ếch.

Điểm này cũng rất hữu lý. Trống thiếu âm Đoài khí gió có mặt trời 10 nọc tia sáng là số Khảm OIO tức âm thiếu âm vì thế nếu diễn tả sấm nghĩa là có tượng lưỡng cư thì tất nhiên sấm đó là sấm dông gió thiếu âm. Còn mưa do mây thường tích tụ ở đầu núi tạo ra như thi sĩ Tản Đà trong Tình Non Nước đã viết ‘Nước đi ra biển lại bay về nguồn’. Ông thần Sấm mưa có nhà ở đầu non. Trống thiếu dương Cấn (non, núi) có 12 nọc tia sáng nếu có tượng lưỡng cư diễn tả sấm tất nhiên là sấm mưa ở đầu non Cấn.

Dịch Tiên Thiên Đắc Giao.

Mặc dầu có 4 hành nhưng khoảng không gian giữa các nọc tia sáng làm sai chỉ có 3 tượng và mặt trống không phân chia ra hai bán viên nòng nọc (âm dương) được nên trống không diễn tả dịch Tiên Thiên.

Dịch Hậu Thiên Đoài Đắc Giao.

Trống có khuôn mặt Đoài mang tính chủ nên có dịch của một đại tộc tức dịch Hậu Thiên mang tính chủ yếu.

Vì là dịch Hậu Thiên ta lấy các quẻ ba vạch trên cả mặt trống.

Vì là trống muộn rất giản dị chỉ diễn tả những quẻ ba vạch chính, còn lại các quẻ ba vạch phụ khác ta suy ra qua tương giao hay tương hợp với các quẻ ba vạch chính này.

Vì Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ ta để cặp Đoài-Chấn lên trên hết.

-Cặp Đoài Chấn

17 người Đoài-Chấn. Số 17 là số Chấn tầng 3 (1, 9, 17).

Chấn tương giao với Đoài trong dịch Hậu Thiên.

-Cặp Cấn-Tốn

Cấn:

4 cò bay.

Cấn hôn phối với Tốn.

-Khảm Li

Khảm:

10 nọc tia sáng với số 10 là số Khảm, hôn phối với Li.

-Khôn-Càn.

Khôn

8 vành trên mặt trống.

Như thế rõ ràng ta có một dịch Hậu Thiên Đoài Đắc Giao theo khuôn mặt Đoài mang tính chủ của trống.

Kết Luận

Trống này thuộc nhóm trống thiếu âm có mặt trời 10 nọc tia sáng diễn tả khuôn mặt chính Đoài trong những khuôn mặt chính của nhóm trống là Đoài (11), Chấn (9) như thấy qua thứ tự các con số (9-10-11).

Khuôn mặt Đoài của trống mang tính chủ nên chỉ có một dịch Hậu Thiên Đoài Đắc Giao.

Trống đã rất muộn nên diễn tả dịch không còn theo qui ước và có sai sót ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng.

Ta thấy trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn có nhiều nhóm trống thái dương (trống Ngọc Lũ I, Sông Đà, Cổ Loa I), thái âm (trống Hoàng Hạ, Quảng Xương), thiếu dương (trống Vienna, Hữu Chung, Phú Phương II, Hà Giang I), thiếu âm (trống Phù Lưu, Đắc Giao)… Mỗi nhóm có một nhóm dịch tương ứng của nhóm đó diễn tả các khuôn mặt nòng nọc (âm dương) chính của nhóm. Về mặt dân tộc học, mỗi thứ dịch này là của ngành, nhánh, đại tộc, tộc. chi tộc tương ứng của chủng Người Vũ Trụ, ngành Mặt Trời Thái Dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là chủng Người Vũ Trụ Bách Việt, ngành Mặt Trời Thái Dương Viêm Đế, Họ Hồng Bàng Xích Quỉ, Liên Bang Người Việt Mặt Trời Văn Lang Hùng Vương.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: