VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (9): DỊCH ĐỒNG NHÓM TRỐNG CÓC/ẾCH HỮU CHUNG.

(*NẾU CẦN BẤM HAI LẦN VÀO TỰA BÀI ĐỂ MỞ BÀI).

VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(9)

DỊCH ĐỒNG NHÓM TRỐNG CÓC/ẾCH HỮU CHUNG.

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THIẾU DƯƠNG NHÁNH NỌC ÂM THÁI DƯƠNG.

Nguyễn Xuân Quang

B. Nhánh Nọc Âm Thái Dương

1. Dịch Nhánh Chấn-Đoài Hữu Chung.

Trống Hữu Chung là trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhánh nọc âm thái dương vì ngoài biên trống có sự hiện diện của hai vành nọc thanh thang hay đường rầy có một nghĩa là nọc âm thái dương. Trong khi đó, trống Vienna là trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhánh nọc dương thái dương vì ngoài biên trống có sự hiện diện của hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc thái dương.

Tổng quát

Trống Hữu Chung tìm thấy ở bờ sông Luộc, thuộc địa phận thôn Hữu Chung, xã Hòa Thành, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương năm 1961.

 

Mặt Trống.

clip_image002

Trống Hữu Chung (nguồn: Nguyễn Văn Huyên)

Nhìn tổng thể, mặt trống “mát lạnh” mang âm tính của nhánh nọc âm thái dương. Các vành giới hạn là các vành trống không Khôn và nhiều vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) cho thấy có một khuôn mặt nòng âm Khôn mang tính chủ.

Trống có 9 vành bên ngoài bọc vũ trụ mặt trời-không gian nên trống có một khuôn mặt là trống Chấn (số 9 là số Chấn (tầng 2) ăn khớp với một trong những khuôn mặt chính của nhóm trống thiếu dương này.

A. Cõi Trên, Thượng Thế.

Thượng Thế, theo nguyên tắc, là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống.

Cõi trên Thượng Thế chia ra bốn tầng: vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Vô Cực

Tâm trống ở đây có vỏ hư vô là vòng tròn bao quanh đầu tia nọc ánh sáng mặt trời. Vỏ không gian to, đậm nét mang nhiều âm tính tiến hóa về không gian thái âm trước và cũng cho biết là mặt trời 12 nọc tia sáng này mang âm tính trội. Vỏ này cho biết bọc Trứng Vũ Trụ và cũng là bọc Trứng Thế Gian sinh tạo thuộc ngành Khôn âm thái dương ứng với Lạc Long Quân, Thần Nông.

b. Thái Cực: Bọc Trứng Vũ Trụ.

Thái cực gồm mặt trời 12 nọc tia sáng và không gian. Như vừa nói, vỏ Trứng Vũ Trụ trùng với vỏ Hư Vô là một vòng tròn to, đậm nét mang âm tính nước. Vỏ này cũng cho biết không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt Khôn thái âm mang tính chủ.

b. Lưỡng nghi:

-Cực dương:

Mặt trời thuộc họ mặt trời rạng ngời, ngành nọc chói chang, đại tộc thái dương. Mặt trời có khối lửa cầu gai chói chang và nọc tia sáng thuộc nhóm nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là mặt trời nọc thái dương nhưng nọc tia sáng không có góc cạnh dương thái dương mà thuôn tròn mang âm tính và nhọn đỉnh mang dương tính tức nọc tia sáng thái dương âm cho biết mặt trời là mặt trời thái dương âm nam trông như búp hoa sen.Tôi gọi mặt trời cánh hoa sen đầu kim nhọn này là mặt trời nọc tia sáng búp hoa sen (hoa sen mọc dưới nước và mặt trời ở trống này có một khuôn mặt là Mặt Trời chi Nước của nhóm trống thiếu dương).

clip_image004

Thượng thế bầu vũ trụ trên trống Hữu Chung có vỏ không gian to, đậm nét mang âm tính cho biết hư vô, vô cực tiến hóa tới không gian hái âm nước trước. Mặt trời 12 tia sáng có nọc tia sáng búp hoa sen, cho biết mặt trời là mặt trời âm nam thái dương.

Mặt trời có 12 nọc tia sáng. Số 12 là số Cấn tầng hai thế gian (4, 12) có một nghĩa là Núi.  Cấn OOI là Nàng Đất, Nàng O thiếu dương OI, âm O thiếu dương OI. Trống Hữu Chung có mặt trời 12 nọc tia sáng thuộc nhóm trống nọc thiếu dương ngành nọc thái dương. Xin nhắc lại Cấn hôn phối với Chấn (Âu Cơ Cấn Non hôn phối với Chấn Biển Lạc Long Quân) và cũng hôn phối với Đoài (Hoàng Hậu Hùng Vương Cấn hôn phối với Hùng Vương Đoài vũ trụ khí gió). Ngoài ra Cấn non, đất âm có Li đất dương, đất lửa là đại diện. Ta thấy rõ qua thứ tự các con số 11-12-13, Cấn 12 bước thêm một bước nữa về phía tay phải, dương là số 13, Li và lùi một bước về phía tay trái, âm là số 11, Đoài. Tóm lại nhóm trống nọc thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng có ba khuôn mặt chính là Chấn, Đoài, Li. Trong nhóm trống này có những trống diễn tả dịch theo một trong ba khuôn mặt đó mang tính chủ. Ở đây, trống Hữu Chung này diễn tả khôn mặt Chấn mang tính chủ thuộc nhánh nọc âm thái dương [diễn tả bằng hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) ở biên trống] (xem dưới).

Như đã biết, nhóm trống có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn, núi non này thấy rất nhiều trong nhóm trống sấm mưa cóc/ếch (hơn 90%). Vì sao? Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, theo hôn phối Chấn-Cấn thì đây là trống Chấn-Cấn Lạc Long Quân-Âu Cơ . Ở cõi trời thế gian Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Chấn sấm (Chấn vi lôi). Trống là trống Chấn sấm ở trên núi Cấn. Điều này trăm phần trăm đúng với truyền thuyết nói rằng ông thần sấm có nhà ở đầu non. Thần Sấm Lạc Long Quân có nhà (nhà có một nghĩa là vợ, nhà tôi) ở đầu non Âu Cơ.

-Cực âm:

.Không gian

Cực âm là không gian chứa mặt trời. Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vòng tròn to, đậm mang âm tính nghiêng về thái âm nước. Vỏ này cho biết bọc không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt không gian mang tính thái âm.

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Các chữ viết, các hình ngữ nòng nọc vòng tròn-que trong khoảng không gian chỉ cho biết nghĩa gì của không gian theo vũ trụ luận. Những chữ nòng nọc, hình ngữ này mang ý nghĩa chính của khoảng không gian.

Ở đây khoảng không gian có hình thái hỗn hợp lưỡng ngành biểu tượng cho hai ngành nòng nọc, âm dương diễn tả tứ tượng nhưng không còn giữ dạng chính thống là hình thái tứ tượng (hiện gọi lầm là lông công). (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

clip_image005

Khoảng không gian kết hợp hai ngành nòng nọc, âm dương trên trống Hữu Chung.

Ta thấy dạng ngành nọc Càn Li có hình thái lông chim gồm có hình các nọc nhọn mũi mác (^) lửa vũ trụ Càn lồng vào nhau. Nếu đếm các nọc mũi mác ta có 8 nọc, số 8 là số Khôn hôn phối với Càn xác định các nọc mũi mác biểu tượng cho Càn ứng với khuôn mặt lửa Viêm của Viêm Đế. Một nọc que (gân lông chim) nối xuyên qua các đỉnh nọc nhọn mũi mác biểu tượng cho nọc, trụ lửa thế gian Li. Nọc lửa thế gian Li này mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian ứng với Đế (có một nghĩa là là cây trụ chống) của Viêm Đế.

Các khoảng không gian ngành nọc Càn-Li này xen kẽ với khoảng không gian ngành nòng âm gồm hình hai giọt nước hình hạnh nhân Chấn ứng với Thần của Thần Nông và bờm hay tua rèm gió Đoài ứng với Nông của Thần Nông. Như thế cả hai hình thái khoảng không gian nhập lại có mang đủ cả tứ tượng.

Trống này mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh nhưng diễn tả bằng dạng hai ngành nòng nọc (âm dương) hỗn hợp.

Lưu ý vì vỏ không gian to đậm mang âm tính nên ngành Thần Nông mang tính chủ ở trống này.

Ta thấy rõ Thượng Thế ở tâm trống là mặt trời Chấn-Cấn mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Thượng Thế diễn tả mặt trời Chấn thái dương (sấm, biển) Lạc Long Quân-Cấn núi Âu Cơ có một khuôn mặt sinh tạo đội lốt Thần Nông.

c. Những Vành Sinh Tạo

Những vành này khác ở trống Ngọc Lũ I.

Trước hết hai vành bên ngoài bao các vành sinh tạo là hai vành giới hạn. Hai vành này là hai vành trống không mang tính âm. Hai vành giới hạn âm này cho biết tứ hành chuyển hành nằm bên trong hai vành này mang âm tính chủ.

Tiếp đến là ba vành “hoa văn” chữ viết nòng nọc vòng tròn-que bao quanh vành mặt trời-không gian. Ba vành này ở dạng chuyển động theo vòng tròn mang tính vận hành, sinh động tức sinh tạo. Ở trống này ba vành sinh tạo này diễn tả tứ hành trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh.

clip_image007

Những vành sinh tạo vận hành.

.Vành 1

Trên trống Hữu Chung này ta thấy rõ vành 1 sát thượng thế bọc vũ trụ mặt trời-không gian gồm: ở giữa là hai chuỗi sóng gẫy do hai nọc mũi mác nhỏ nét chồng lên nhau tạo thành hình rặng núi tháp chuyển hành diễn tả Li vận hành, sinh tạo. Hai bên sóng núi tháp Li là hai vành nhỏ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hình tam giác đặc (đen) biểu tượng lửa thái dương Càn.

Như thế vành này diễn tả Li Càn vận hành.

.Vành 2

Vành hình sóng hai nòng vòng tròn đồng tâm có chấm nọc ở tâm với hai tiếp tuyến. Chuyển động hình sóng có một nghĩa giản dị là sinh tạo sinh động. Hai tiếp tuyế nlà hai nọc thái dương. Hai vòng tròn là hai nòng, hai âm, thái âm có một khuôn mặt là nước. Chấm nọc mang dương tính lửa. Như thế vành sóng hai vòng tròn đồng tâm có tiếp tuyến kép có chấm nọc lửa mang nghĩa sóng nước dương, nước chuyển động sinh động ứng với hành nước Chấn ngành thái dương .

.Vành 3

Vành 3 là vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược), theo duy dương, mang nghĩa không gian dương khí gió ứng với hành gió Đoài.

Vậy ba vành sinh tạo này biểu tượng Li, Càn, Chấn, Đoài vũ trụ dưới dạng tứ hành vận hành. Tuy vùng tứ hành này diễn tả khác với ở trống Ngọc Lũ I nhưng vẫn có một khuôn mặt mang trọn vẹn ý nghĩa triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.

Mặt trời Chấn/Cấn-có không gian tứ tượng, tứ hành sinh tạo cho thấy trống này có một nghĩa sinh tạo, tạo hóa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là trống Lạc Long Quân-Âu Cơ thế gian sấm-núi có một khôn mặt sinh tạo đội lốt Thần Nông-Viêm Đế ở cõi tạo hóa.

B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

a. Đất dương

.Vành 4

Vành này là vành hình sóng mũi nhọn, mũi tên chuyển động diễn tả nước thái dương Chấn vận hành.

Vành sóng này có 12 hình sóng nhọn đầu. Số 12 là số Cấn tầng 2. Ta thấy rõ có khuôn mặt hôn phối Cấn-Chấn ở đây.

.Vành 5

Trống này có mặt trời 12 nọc tia sáng là trống thế gian nên vành 5 diễn tả cảnh người thể điệu hóa. Lưu ý số 5 là số Li, Lửa thế gian biểu tượng cho vùng đất dương thế gian nên vành 5 có hình người rất chí lý.

clip_image008

Người trên trống Hữu Chung.

Người trên các trống muộn ở dưới dạng thể điệu hóa. Các nhà khảo cổ học hiện này thường cho là người hình chim, tức là người mặt trời.

Phía trước trang phuc đầu có hình nọc thẳng đứng cong đầu diễn tả nọc âm thái dương. Phần chính trang phục đầu ở đây trông giống hình chữ S tức hình sóng nước, hình con rắn. Các sọc nghiêng ngang diễn tả nước ở cõi bằng thế gian, các chấm nọc lửa cho thấy đây là lửa nước Chấn. Tổng cộng có 39 người. Số 39 là số Càn tầng 5 (7, 15, 23, 31, 39). Con mắt vòng tròn có chấm cũng có một nghĩa là mặt trời ăn khớp với lửa Càn. Như vậy người chim ở đây là người chim thái dương Càn-thái âm Chấn ở dạng lưỡng hợp thái dương thái âm đại vũ trụ. Điểm này cũng thấy rõ qua hình chữ S. Như đã nói ở trên, theo duy âm, sóng chữ S nước thái âm chuyển hành. Theo duy dương sóng chữ S là tia chớp lửa thái dương Càn. Nước thái âm (mưa) Chấn liên tác với lửa thái dương (chớp) Càn tạo ra sấm. Sấm có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa.

clip_image009

Chữ S trong Trứng Vũ Trụ hay Đĩa Thái Cực.

Nghĩa của hình chữ S này thấy rõ qua hình chữ S trong đĩa thái cực chuyển vận hòa hợp hai yếu tố âm dương đối nghịch. Mặt phía đen âm, S là sóng nước. Mặt phía trắng, dương, S là sóng lửa chớp. Chữ S này mang tính nòng nọc (âm dương) sinh tạo, sinh động. Vì thế chữ S này được coi là một biểu tượng của nước-lửa, chớp mưa, của sấm (Williams C.A.S). Chữ S trong đĩa thái cực có thể coi là sấm big bang do nòng nọc, âm dương, nước-lửa liên tác lúc khai thiên lập địa. Nếu nhìn dưới khía cạnh này, những người thể điệu hóa ở đây có hình chữ S rất cường điệu ở trang phục đầu có thêm một khuôn mặt nước lửa nguyên thể của Sấm. Những người này có một khuôn mặt người tộc sấm-mưa ứng với Chấn Lạc Long Quân.

Nhìn kỹ cổ người nghiêng nghiêng cũng mang âm tính ngả về phía cổ rắn cong.

Phía sau đầu có hình chiếc sừng hình hơi gợn sóng chữ S nằm. Chiếc sừng mang nghĩa thái dương âm.

Tóm lại người thể điệu hóa ở trống Hữu Chung này mang khuôn mặt Chấn thái dương rắn sừng (rắn Việt) ngành lửa thái dương. Nhìn dưới dạng nhất thể là lửa vũ trụ-nước vũ trụ, là chớp-mưa, là sấm, là người tộc sấm mưa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là người của đại tộc mặt trời nước Lạc Long Quân Quân-Âu Cơ, Rồng-Tiên có một khuôn mặt sấm mưa.

Có sự hiện diện của người tộc sấm mưa thì trống này là trống sấm mưa một trăm phần trăm.

.Vành 6

Vành này là vành hỗn hợp có 10 hình cò bay2 hình dóng sấm, búa thiên lôi thường gọi sai là ‘hình trâm’ (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

.Cò

Ta đã biết cò có mỏ dài mang dương tính và sống ở bờ nước mang âm tính, tức dương của âm, tức thiếu âm nguyên thể của khí, gió. Vì thế cò là chim biểu tượng cho khí gió (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt cò bay là chim biểu Cò Lang của liên bang Hùng Vương có một khuôn mặt sinh tạo là bầu trời, gió thế gian sinh ra từ bọc trứng thế gian. Cò Lang Gió thuộc đại tộc Cò Gió Bạch Hạc, Phong Châu, Hùng Vương (xem Chim Lạc Hay Cò Lang?).

Cò bay theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời liên hệ với mặt trời, vua mặt trời (Hùng Vương). Đây là trống mặt trời thế gian có 12 nọc tia sáng nên cò bay có một khuôn mặt biểu tượng cho bầu trời thế gian.

Xin nhắc lại cò là chim Việt biểu tượng cho bầu trời gió thế gian. Tất cả các vật tổ Việt đều có nghĩa là Việt (roi, vọt, nọc, vớt, rìu, búa, mặt trời có gốc nguyên thủy là nõ, cọc, bộ phận sinh dục nam) như chim Việt (chim rìu, mỏ cắt), Hươu Việt (hươu cọc, hươu sừng, mang gạc muntjac), cá sấu Việt [sấu dao gavial, gharial, cá gạc, (Hán Việt ngạc). Cò biến âm với cồ, cu, kì (con cò là co, cò kì, cò kèo, con cọc)]. Cò là chim Việt cõi trời thế gian.

Chỉ mới nhìn thoáng qua, trực giác cho ta biết ngay những con cò này bay cùng chung một vành với các hình dóng sấm, búa thiên lôi (thunderbolts) thì chúng phải có một khuôn mặt liên hệ với sấm.

Mười con cò bay xen kẽ với 2 hình dóng sấm, búa thiên lôi (‘hình trâm’), mỗi nhóm 5 con. Số 10 là số Khảm, OIO, nước O thiếu âm IO. Khảm hôn phối với số 5 Li, IOI, lửa I thiếu dương OI (Kì Dương Vương, Li có vợ là Thần Long, Khảm). Lửa nước, chớp mưa tạo ra sấm. Như thế 10 con cò bay này có một khuôn mặt sấm cõi trời thế gian.

Bây giờ ta hãy mổ xẻ con cò trên trống này.

Cò có mỏ thon dài hơi cong lên mang âm tính nghiêng về cò nước.

clip_image010

Cò trên trống Hữu Chung.

Bờm cụp xuống che cổ như mũ che mưa. Mắt âm có hai vòng tròn thái âm nước. Cánh có những hình sóng nước gẫy là sóng dương, sóng động là nước chuyễn động, ở cõi trời là mưa. Hai đầu cánh có hai chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > có một nghĩa là dương, hai chữ > là hai dương, là thái dương, lửa. Như thế cánh cò là lửa-nước, chớp mưa tức sấm.

Ở cổ có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình con diều hay con nòng nọc.

clip_image011

Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que sấm hình cánh diều hay con nòng nọc trên cổ cò ở trống Hữu Chung.

Hình con diều nòng nọc mang tính nòng nọc, âm dương sinh động này diễn tả sấm chuyển động bốn phương trời. Đây là một hình ngữ, một chữ viết nòng nọc vòng tròn-que diễn tả sấm. Thật vậy, khi so sánh với Hán tự dìan có nghĩa là chớp, điện,

clip_image013

ta thấy rất rõ chữ dian, điện, chớp ruột thịt với hình chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ‘con diều hình con nòng nọc’ trên cổ cò. Chớp là phần dương của sấm. Về sau chữ diàn, chớp này cắt bỏ đuôi thành chữ điền gộp với (vũ, mưa) tạo thành chữ lei (lôi, sấm).

clip_image014

Như thế rõ như ban ngày con cò ở trống Hữu Chug này trăm phần trăm là cò sấm mưa. Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình con diều sấm mưa ở cổ cò chính là tên con cò.

Tóm lại 10 con cò bay trên trống này là cò sấm mưa cho biết trống là trống sấm mưa.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, cò sấm là chim biểu của Lạc Long Quân có một khuôn mặt sấm mưa.

Đây là một loại cò Lạc, con cò Lạc này có khuôn mặt sấm mưa.

Xin nhắc lại cò trên trống đồng nòng nọc, âm dương có nhiều loại cò. Cò trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I là Cò Lang, không phải là Cò Lạc. Các nhà làm văn hóa Việt Nam hiện nay lấy hình Cò Lang trên trống Ngọc Lũ I dùng là logo gọi là Chim Lạc là sai trăm phần trăm. Cò trên trống Hữu Chung thuộc chi cò Lạc tộc Lạc Việt Lạc Long Quân của đại tộc Cò Hùng Vương.

Có sự hiện diện của cò sấm, trống Hữu Chung trăm phần trăm là trống sấm.

.Dóng sấm, búa thiên lôi.

Cùng vành với cò có hình hai dóng sấm, búa thiên lôi, lưỡi tầm sét (Phạn ngữ vajras, thunderbolt), hiện nay các nhà khảo cổ học gọi lầm là ‘vật hình trâm’ (Dóng Sấm hay Búa Thiên Lôi).

clip_image016

Dóng sấm hay búa thiên lôi trên trống Hữu Chung.

Dóng sấm này là loại thể điệu hóa có bốn hình vòng tròn kép nước có chấm nọc dương và có vòng các chấm nọc lửa vũ trụ bao quanh, gộp lại là nước-lửa sinh tạo vũ trụ có một nghĩa là sấm. Đây là dạng thể điệu hóa của dóng sấm kép chữ thập.

clip_image018

Búa thiên lôi chữ thập mang nghĩa bao hàm ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh năng động hàm chứa ý nghĩa liên hệ tới Tứ Tượng, Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn, Tứ Phương trời, Bốn Hướng đất, sấm sét “chuyển động bốn phương trời” ăn khớp với con cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời.

Có sự hiện diện của dóng sấm, búa thiên lôi, trống Hữu Chung trăm phần trăm là trống sấm mưa Chấn.

b. Đất âm

.Vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ở biên trống.

clip_image019

Ba vành ngoài biên trống.

Ngoài biên trống có ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (‘hoa văn’) 5, 6, 7 gồm hai vành 5 và 7 hình đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) nọc âm thái dương kẹp vành 6 vòng tròn kép có chấm có tiếp tuyến kép ở giữa. Ở đây tiếp tuyến kép diễn tả hai nọc que tức thái dương. Vành này diễn tả nước Chấn ngành thái dương.

Vành 5 và 7 là vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) có một nghĩa là nọc âm thái dương.

Ba vành này cho biết trống có khuôn mặt Chấn nhánh nọc âm thái dương mang tính chủ.

.Tượng loài lưỡng cư.

Mé trống có bốn hình tượng loài lưỡng cư cóc/ếch.

clip_image020

Tượng cóc trên trống Hữu Chung.

Cóc ‘nghiến răng chuyển động bốn phương trời’, con cóc là ‘Cậu ông trời sấm sét Lạc Long Quân’. Con ếch kêu mưa (Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước). Trống này là trống sấm mưa xác thực bởi cò sấm mưa, dóng sấm búa thiên lôi, vân vân…

Các con cóc/ếch ngoài nghĩa sấm mưa thấy qua chữ viết nòng nọc vòng tròn-que uốn khúc vuông góc sấm gầm tên đùi, còn mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh. Vì thế trống này mang thêm biểu tượng tín ngưỡng vũ trụ giáo không phải chỉ đơn thuần là liên hệ với sấm, mưa như thấy rõ qua hình thái tứ tượng và các vành tứ hành ở trên. Sấm mưa ở đây mang nghĩa sinh tạo không phải đơn thuần là trống mưa, trống ếch để cầu mưa làm ruộng. Trống Hữu Chung mang thêm khuôn mặt sinh tạo như đã thấy ở trên.

-Vùng nước

Vùng nước là phần phình tang trống (trông như một vật đựng nước). Tôi dừng giải đọc ở đây vì chỉ nói tới dịch trên mặt trống.

(xem tiếp phần còn lại ở Trống Đồng: Trống Cóc/Ếch 4).

DỊCH ĐỒNG HỮU CHUNG.

Theo hệ luận như đã nói là trống nào diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh và có cảnh sinh hoạt nhân sinh, có hình người thì trống đó diễn tả một loại dịch. Vì thế nhìn vành người thể điệu hóa trên mặt trống ta nghĩ ngay là trống Hữu Chung này cũng diễn tả một loại dịch. Dịch Hữu Chung mang tính nọc âm thái dương vì có sự hiện diện của hai vành thanh thang đứng hay đường rầy khác với dịch thấy ở trống Vienna (Khai Hóa) cùng nhóm trống nọc thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng mang tính nọc dương thái dương vì có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc thái dương ở biên trống. Dịch Hữu Chung là dịch diễn tả theo phong thái ‘thể điệu hóa’ của trống đã muộn.

Như đã thấy, mặc dù trống Hữu Chung diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh nhưng cách diễn đạt đã đổi mới đi.

Khoảng không gian giữa các nọc tia sáng thay v ì ở dạng hình thái tứ tượng (hiện gọi lầm là họa tiết lông công) lại diễn tả theo dạng lưỡng hợp hai nhánh nòng nọc (âm dương) Càn-Li và Chấn-Đoài như thế coi như diễn tả vũ trụ tạo sinh của hai nhánh riêng rẽ. Vành tứ hành cũng biến thể và nhất là vành người thể điệu hóa là một vòng người kín không phân tách ra hai bán viên được. Như thế mặt trống diễn tả một thứ dịch mang tính riêng của một nhánh hay của từng đại tộc riêng rẽ. Ở đây nhánh nòng Khôn nọc âm thái dương l2 chính yếu và đại Chấn sấm mưa mang tính chủ.

Dịch Hậu Thiên Chấn Hữu Chung.

Mặt trống Hữu Chung diễn tả toàn là những vành với các yếu tố như nhau vận hành lên tục nên không phân biệt ra hai bán viên khác nhau. Ta không thể phân chia mặt trống ra làm hai bán viên khác nhau, như thế không có dịch của mỗi nhánh. Ngoài ra toàn cả mặt trống các yếu tố như dóng sấm, sóng nước nhọn đầu chuyển độgn, tượng cóc/ếhc đểu cho thấy trống có khuôn mặt Chấn sấm mưa mang tính chủ, nhất là ba vành ngoài biên trống xác thực trống là trống biểu của khuôn mặt Chấn nước-lửa sấm mưa. Như vậy trống có một loại dịch Hậu Thiên Chấn mang tính chủ.

Vì không phân riêng rẽ ra hai bán viên được và cũng vì là dịch Hậu Thiên nên ta có thể chọn các quẻ ba vạch trên cả mặt trống. Vì trống đã muộn, mặt trống đơn giản chỉ diễn tả các quẻ ba vạch chính yếu nên dịch ở trống này chỉ diễn tả qua các quẻ ba vạch chính yếu rồi suy ra quẻ ba vạch tương đồng hay tương giao thứ hai của từng cặp.

Cặp Chấn-Đoài mang tính chủ trong Hậu Thiên bát quái và ở dịch Hậu Thiên của đại tộc Chấn nên ta để Chấn lên trên hết.

.Chấn-Đoài

Chấn:

Trống có 9 vành bên ngoài bọc vũ trụ mặt trời-không gian. Số 9 là số Chấn. Trống này là trống Chấn mang tính chủ.

Trường hợp này giống như ở trống Quảng Xương có 7 vành và 7 vành này diễn tả quẻ ba vạch Càn vì mặt trống diễn tả khuôn mặt của trống càn khôn mặt trời 8 nọc tia sáng (xem dịch Đồng Quảng Xương).

.Cấn-Tốn

Cấn-Tốn là cặp quan trọng về phía âm nữ trong Hậu Thiên bát quái Việt, ta để thứ nhì.

Cấn:

.12 nọc tia sáng.

.12 hình sóng nhọn đầu chuyển động.

.4 tượng cóc Cấn.

Như thế trống nhóm thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng Cấn này đã xử dụng 3 khuôn mặt Cấn: Cấn 4 cóc/ếch đi với Chấn sấm mưa, Cấn 12 nọc tia sáng để mang tính sinh tạo, tạo hóa đi với Tốn sinh tạo (khuôn mặt sinh tạo của Âu Cơ) và Cấn 12 sóng đi với Chấn nước.

Ta có thể nghiêng nhiều về Cấn 12 nọc tia sáng đi với Tốn (nên nhớ Cấn và Tốn là hai khuôn mặt của Âu Cơ).

Cấn tương giao ruột thịt con gái với mẹ Tốn (Hoàng Hậu Hùng Vương với mẹ Âu Cơ).

Ta có cặp Cấn-Tốn.

.Khảm-Li

Khảm:

Ta có hai số Khảm là 2 dóng sấm (búa thiên lôi) và 10 con cò bay.

Trong dịch Hậu Thiên Chấn này ta chọn số Khảm 2 búa thiên lôi (số 2 là số Khảm tầng 1) vì búa thiên lôi đi với Sấm Chấn. Ta không chọn số Khảm 10 con cò vì cò vốn có mạng là cò gió Đoài (ở đây cò là chi cò nước, cò Lạc của liên bang cò gió Đoài Hùng Vương).

.Càn-Khôn

Càn:

Vành 39 người thể điệu hóa tối đa. Số 39 là số Càn tầng 5 (7, 15, 23, 31, 39) tức phía nửa dưới âm của 64 quẻ ba vạch. Những người này có con mắt dương chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời mang tính Càn khác với các người có con mắt âm chấm hai vòng tròn đồng tâm của người mặt trời nước Chấn.

Li-C àn đi cặp với nhau đúng theo hình thái nọc-lông chim Li-Càn ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng.

Như thế ta có một dịch Hậu Thiên của đại tộc Chấn màng tính chủ của nhóm Chấn Đoài. Đây là Dịch Hậu Thiên Chấn Hữu Chung mang tính nọc âm thái dương được diễn tả giản dị của thời kỳ trống muộn sau này.

clip_image022

Hậu Thiên bát quái Chấn Hữu Chung.

Kết Luận

Trống này thuộc nhóm trống nọc thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng thuộc nhánh nọc âm thái dương. Trống Hữu Chung khác với trống Khai Hóa (Vienna) cũng có mặt trời 12 nọc tia sáng nhưng thuộc nhánh nọc dương thái dương vì ở biên trống có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc thái dương.

Như đã biết trống nhóm Cấn 12 nọc tia sáng này có những khuôn mặt chính là Li 13, Đoài 11 (thấy qua thứ tự 11—12—13) (Li đất dương 13 làm đại diện cho Cấn đất âm 12) và Đoài, Chấn vì Cấn hôn phối với Đoài và Chấn. Tóm lại trống thiếu dương mặt trời 12 nọc tia sáng có các khuôn mặt chính là Li, Đoài, Chấn. Trống Viena diễn tả dịch nhóm Đoài-Chấn. Ở đây trống Hữu Chung diễn tả khuôn mặt Chấn mang tính chủ của nhóm Chấn Đoài nọc âm thái dương .

Trống đã muộn vì đã thể điệu hóa và diễn dịch không còn giữ theo qui ước chính thống và giản dị hóa tối đa.

Ngoài ra thấy trống cóc ếch cũng mang ý nghĩa sinh tạo không phải chỉ thuần nhất là trống sấm, trống mưa được dùng chính trong nông nghiệp.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt đây là trống biểu của Lạc-Việt Lạc Long Quân Sấm mưa mang tính chủ thuộc họ mặt trời Hồng Bàng ngành Thần Nông thái dương.

DỊCH ĐỒNG CÁC TRỐNG CÙNG NHÓM TRNG CÓC/ẾCH HỮU CHUNG.

Để thấy rõ thêm và kiểm chứng lại dịch Hữu Chung, ta xét thêm dịch này trên một trống khác của nhóm trống cóc/ếch Hữu Chung.

TRỐNG PHÚ KHƯƠNG II

Trống được phát hiện ở xã Phú Phương huyện Ba Vì, Hà Nội năm 1973.

clip_image024

Trống Phú Phương II (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Tương tự như trống Hữu Chung, mặt trống cũng có 9 vành bao quanh vành mặt trời-không gian, hình thái lưỡng hợp hai nhánh nòng Chấn Đoài hình hai giọt nước-bờm chim và nọc Càn Li hình lôcng him ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng. Có khác là chỉ khác các chi tiết nòng nọc (âm dương).

-Vành sóng nước dương mũi nhọn Chấn có 24 mũi nhọn. Số 24 là số Khôn tầng 4 (0, 8, 16, 24). Khôn OOO nàng O Nước OO có Chấn IOO là Chàng Nước OO làm đại diện.

-Vành người cách điệu có 34 người. Số 34 là số Khảm tầng 5 (2, 10, 18, 26, 34).

Người ở đây phía trước có hai nọc đứng cong diễn tả thái dương (trong khi ở trống Hữu Chung chỉ có một nọc)

Người ở đây có con mắt âm hai vòng tròn có chấm có một nghĩa nước dương Chấn. Cho thấy rõ đây là người tộc nước thái dương Chấn.

-Vành cò có 8 có bay thay vì 10 như ở trống Hữu Chung nhưng không có dóng sấm. Cò có mỏ cong lên mang âm tính.

clip_image026

Trống Phú Phương II (Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên).

Hình cò trong hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên và cộng tác viên có mỏ cong hơn mang âm tính thái âm (nước, mưa), cánh hình ô dù che mưa, hai đầu cánh có hai chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, lửa thái dương cho thấy rõ cò là cò nước, cò Lạc, cò sấm mưa của liên bang Cò Lang Hùng Vương.

Số 8 Khôn mang âm tính là Khôn âm tức thái âm, nước. Đây cũng là chi cò Lạc của liên bang Cò Hùng Vương.

-4 tượng cóc/ếch ở đây cũng có hoa văn chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả trọn vẹn triết thuyết vũ trụ tạo sinh.

Tương tự như trống Hữu Chung, trống này cũng có dịch Hậu Thiên Chấn Phú Phương II.

Dịch Hậu Thiên Chấn Phú Khương II.

.Chấn-Đoài.

Chấn:

9 vành trên mặt trống bao quanh mặt trời-không gian.

Chấn tương giao với Đoài.

.Cấn-Tốn

12 nọc tia sáng mặt trời.

4 cóc Cấn tương giao với Tốn.

Như ở trống Hữu Chung, ta chọn 12 nọc tia sáng.

Cấn tương giao với Tốn.

.Khảm-Li.

Khảm:

34 người Khảm tầng 5 (2, 10, 18, 26, 34).

Khảm hôn phối với Li.

.Khôn-Càn.

Khôn : 8 cò bay.

Khôn hôn phối với Càn.

Ta có dịch Hậu Thiên Chấn Phú Khương II.

Và còn nhiều nữa vì trống cóc/ếch cùng nhóm trống Hữu Chung rất nhiều.

2. Dịch Đại Tộc Chấn Duy Nhất Hà Giang I.

clip_image002[1]

Trống Hà Giang I (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống Hà Giang I là loại trống cóc/ếch cùng với trống Hữu Chung, thuộc nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng ngành nọc âm thái dương nhưng khác với trống Vienna hay Khai Hóa vì trống sau này thuộc ngành nọc dương thái dương.

Tuy nhiên, trống Hà Giang I khác trống Hữu Chung. Trống Hà Giang I là trống biểu của một đại tộc duy nhất là đại tộc Chấn thấy rõ qua khoảng không gian giữa các nọc tia sáng có hình thái đơn đồng nhất hình hai giọt nước hình hạnh nhân có nghĩa là nước thái âm mang tính thái dương (giọt nước đầu nhọn nọc mũi mác mang dương tính, hai giọt nước mang tính hai dương là thái dương ).

clip_image003

Hình thái hai giọt nước hình hạnh nhân Chấn ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng trên trống Hà Giang I.

Trong khi ở trống Hữu Chung, hình thái ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở dạng lưỡng hợp hai ngành nòng nọc (âm dương) hình hai giọt nước-bờm chim Chấn-Đoài và hình lông chim Càn Li.

clip_image005[1]

Hình thái lông chim Càn-Li và hai giọt nước hạnh nhân Chấn-bờm chim Đoài ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng trên trống Hữu Chung.

Trống Hà Giang I này là trống biểu của một tộc Chấn duy nhất nên chỉ có dịch Hậu Thiên Chấn Hà Giang I.

Trống Hà Giang I không rõ xuất xứ.

Mặt Trống

Xin thật vắn gọn.

Mặt trống mát lạnh vì chỉ có các vành giới hạn trống không mang âm tính, vành hai vòng tròn có chấm có một nghĩa nước dương Chấn, vành thanh thang nọc âm thái dương.

Mặt trống có 9 vành bao quanh mặt trời-không gian. Số 9 là số Chấn tầng 2 (1, 9). Chấn 9 vành cho thấy rõ trống có khuôn mặt chủ là Chấn.

Thượng Thế:

.Hư Vô

Vỏ hư vô rất đậm mang âm tính cho biết hư vô từ trung tính chuyển qua không gian thái âm, nước trước.

.Thái cực

Vỏ trứng vũ trụ trùng với vỏ hư vô, có cùng nghĩa như đã nói ở trên .

.Lưỡng nghi

Cực dương:

Mặt trời thiếu dương có 12 nọc tia sáng như trống Hữu Chung.

Cực âm:

Hình thái đơn đồng nhất hình hai giọt nước hình hạnh nhân ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng như đã nói ở trên. Không gian diễn tả một tượng Chấn duy nhất, không có tứ tượng.

.Vành sinh tạo.

Có 3 vành gồm hai vành thanh thang có nghĩa nọc thái âm. Hai vành này kẹp ở giữa vành lớn chia ra hai vành nhỏ hai vòng tròn có chấm có một nghĩa nước dương Chấn.

Ở đây là trống muộn, cố ý diễn tả vành nước Chấn chia ra hai vành nhỏ có vòng tròn có chấm có một nghĩa nước dương Chấn cho có nghĩa là thái âm.

Ba vành mang nghĩa Chấn thái âm nọc âm thái dương.

Trung Thế

a. Vùng đất.

clip_image006

Vùng đất trên mặt trống Hà Giang I.

.Vành sóng bện vào nhau tạo thành 10 hình tam giác ngược. Đây là một dạng chữ V biến thể giống như tam giác thuận là một dạng biến thể của chữ nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, đực, dương, lửa thái dương. Ngược lại với nghĩa nọc tam giác thuận. nọc tam giác ngược, chữ V biến thể này có nghĩa là nọc âm, nước thái dương tức nước dương Chấn. Ở hai đầu có hai nọc tam giác dương. Như thế vành này diễn tả sóng chuyển động nước dương Chấn ngành thái dương. Vành này cho biết trống có khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

.Vành nhân sinh

Có 30 người thể điệu hóa. Phía trước có nọc cong có chấm diễn tả nọc âm thái dương. Trang phục đầu có bờm sọc nước có con mắt âm vòng tròn to nét (tương với hai vòng tròn chập lại. Hai vòng tròn là thái âm, nước). Đây là người đại tộc nước thái dương Chấn.

.Vành cò bay.

Có 8 cò bay.

clip_image007[1]

Cò và dóng sấm.

Cò hình ‘con cá’ mõm nhọn, có mắt âm hai vòng tròn có chấm có một nghĩa nước dương Chấn. Đây là cò nước, cò Lạc của liên bang Cò Hùng Vương.

Xen kẽ với cò, có 4 hình dóng sấm. Ở giữa dóng sấm có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình hai vòng tròn có chấm có một nghĩa nước dương Chấn. Đây là dóng sấm mưa Chấn.

.Ba vành ngoài biên

Giống ba vành quanh mặt trời-không gian có nghĩa là nước thái dương Chấn nọc âm thái dương.

.Bốn tượng cóc/ếch

Có một khuôn mặt biểu tượng cho sấm mưa Chấn.

b. Vùng nước

Tang Trống là vùng nước.

Xin dừng lại đây vì chỉ nói tới dịch ở mặt trống.

Dịch Hậu Thiên Đại Tộc Chấn Hà Giang I.

Vì là trống biểu của một đại tộc Chấn duy nhất nên chỉ có dịch Hậu Thiên Chấn. Trống đã rất muộn và chỉ diễn tả một đại tộc nên rất đơn giản, chỉ diễn tả các quẻ ba vạch (trigrams) chính rồi suy ra các quẻ ba vạch tương ứng.

Hiển nhiên ta để cặp Chấn-Đoài lên trên hết.

.Chấn-Đoài

Chấn 9 vành ở mặt trống.

Chấn tương giao với Đoài.

.Cấn-Tốn

-Cấn

12 nọc tia sáng

4 cóc/ếch.

4 dóng sấm.

Đây là trống Chấn sấm mưa, tôi chọn 4 dóng sấm đi với Chấn sấm mưa.

-Tốn

30 người thể điệu hóa. Số 30 là số Tốn tầng (6, 14, 22, 30). Ta thấy rõ 30 Tốn người Chấn có sự hôn phối Tốn-Chấn.

.Khảm

10 sóng tam giác ngược. Số 10 là số Khảm tầng 2 (2, 10).

Khảm hôn phối với Li.

.Khôn

8 cò bay.

Khôn hôn phối với Càn.

Như thế ta có dịch Hậu Thiên Chấn Hà Giang I.

Kết Luận

Trống Hà Giang I cùng nhóm trống cóc/ếch trống Hữu Chung thuộc nhóm trống thiếu dương có mặt trời 12 nọc tia sáng, nhánh nọc âm thái dương. Ở đây trống chỉ là trống biểu của đại tộc Chấn duy nhất nên chỉ có dịch Hậu Thiên Chấn Hà Giang I.

Ta thấy rõ trong nhóm trống mặt trời thiếu dương Cấn 12 nọc tia sáng này có những khuôn mặt chính là Li, Đoài (11-12-13) và Chấn (Cấn hôn phối với Chấn). Mỗi khuôn mặt chính diễn tả một loại dịch thấy qua các trống :

-Nhánh nọc dương thái dương

Trống Vienna Khai Hóa diễn tả dịch Tiên Thiên và Hậu Thiên nhánh Chấn Đoài tương tự như trống Sông Đà.

-Nhánh nọc âm thái dương:

a. Trống Hữu Chung diễn tả dịch Chấn Hữu Chung, khuôn mặt chính của hai ngành nòng nọc (âm dương) (vì có sự hiện diện của hai hình thái hỗn hợp Chấn-Đoài hình hai giọt nước-bờm chim và hình thái lông chim Càn Li).

b. Trống Phú Phương II giống như trống Hữu Chung.

c. Trống Hà Giang I diễn tả dịch của đại tộc Chấn duy nhất.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: