VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (7) DỊCH ĐỒNG QUẢNG XƯƠNG.

(*nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(7)

DỊCH ĐỒNG QUẢNG XƯƠNG.

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THÁI ÂM NHÁNH NỌC ÂM THÁI DƯƠNG.

Nguyễn Xuân Quang

Trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng (số 8 là số Khôn tầng 2) thuộc nhóm trống thái âm Khôn ngành thái dương cùng nhóm với trống Hàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng (số 16 là số Khôn tầng 3). Hai trống khác nhau là Khôn tầng 2 của trống Quảng Xương mang dương tính hơn (gần cõi trên hơn) ở tầng trời vùng đất dương thế gian (nghiêng về Đoài khí gió) còn Khôn 16 của trống Hoàng Hạ mang âm tính hơn, ở tầng trời vùng đất âm, nước (nghiêng về Chấn nước dương vì vậy mà ở trống Hoàng Hạ mới có vành sóng nước kép).

Lưu Ý

Xin nhắc lại 64 quẻ ba vạch (trigrams) chia ra làm 8 chuỗi (sequences) hay 8 tầng (tiers). Bốn tầng trên (trên là dương) từ 0 tới 31 thuộc về thế giới dương và bốn tầng dưới (dưới là âm) từ 32 tới 64 thuộc thế giới cõi âm (hướng dần về cõi chết). Ta thấy rõ 4 tầng cõi dương khởi đầu từ 0 và 4 tầng cõi âm khởi đầu từ số 32. Số 0 và 32 đều là số Khôn (số Khôn trong 8 tầng là 0, 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56, 64) đều có giá trị trong dịch như nhau chỉ khác tính nòng nọc (âm dương). Điểm này thấy rõ trong nhiệt học, ta có 0 độ C (Celcius, bách phân) = 32 độ F (Farenheit). Các số ứng với các quẻ ba vạch ở các tầng khác nhau có tính nòng nọc (âm dương) và ở các tầng của sinh tạo khác nhau. Ví dụ như ở đây nói về số Khôn. Bốn tầng trên, tầng đầu của 64 quẻ: O là Khôn tầng 1 ứng với sinh tạo cõi tạo hóa; 8 Khôn tầng 2 ứng với sinh tạo cõi trên vùng đất dương; 16 Khôn tầng 3 ứng với sinh tạo cõi trên vùng đất âm và Khôn 24 tầng 4 ứng với tầng sinh tạo vùng nước. Vì thế những trống đồng nòng nọc (âm dương) có mặt trời có nọc tia sáng nhỏ hơn hay bằng 7, tôi gọi là trống vũ trụ, tạo hóa và những trống đồng nòng nọc (âm dương) có mặt trời có nọc tia sáng lớn hơn 8 hay bằng 8 tôi gọi là trống thế gian.

Một điểm cũng cần lưu tâm là trên mặt trống đống gần như không thấy mặt trời đĩa tròn 0 nọc ánh sáng (Khôn 0, tầng 1) vì mặt trời này biểu tượng cho phái nòng nữ O, vì thế mặt trời có 8 nọc tia sáng vài khi cũng mang tính sinh tạo tạo hóa đội lốt mặt trời đĩa tròn 0 ánh sáng như trường hợp thấy ở trống Việt Khê.

Tóm lại trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng Khôn tầng 2 cùng nhóm với trống Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng Khôn tầng nhưng khác tính sinh tạo ở các cõi khác nhau. Trống Quảng Xương ở cõi trời vùng đất dương, mang dương tính nghiêng về Khôn dương tức thiếu âm khí gió Đoài trong khi trống Hoàng Hạ mang tính sinh tạo tầng 3 ở cõi trời vùng đất âm, mang âm tính nhiều hơn nghiêng về Khôn âm tức thái âm nước Chấn (vì thế mà trống Hoàng Hạ mới có một vành sóng xoắn chữ S kép nước dương, xem trống Hoàng Hạ).

Ở đây ta hãy thử xem mặt trời 8 nọc tia sáng Khồng tầng 1 trên trống Quảng Xương này có một khuôn mặt đội lốt Khôn 0, tầng 1 mang tính sinh tạo, tạo hóa hay không?

Ngoài ra vì mặt trời có 8 nọc tia sáng Khôn có một khuôn mặt là mặt trời sinh tạo, tạo hóa, càn khôn thế gian nên là mặt trời phổ thông nhất thấy trong nhiều nền văn hóa.

Ngoài sự khác nhau về tầng sinh tạo như vừa nói, trống Quảng Xương còn khác trống Hoàng Hạ về tính nòng nọc (âm dương), dịch tính khác nhau. Như đã biết, trống Hoàng Hạ diễn tả trọn vẹn triết thuyết vũ trụ tạo sinh của một nhánh thấy qua hình thái tứ tượng ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng và ở ngoài biên trống có hai vành chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc thái dương. Trong khi trống Quảng Xương này chỉ diễn tả triết thuyết vũ trụ tạo sinh của tiểu vũ trụ qua hình thái lưỡng hợp núi tháp thiếu dương Li và sọc không gian nghiêng thiếu âm Đoài, vành sinh tạo chỉ có hai vành (xem dưới) và ở ngoài biên trống có hai vành đường rầy hay thanh thang có nghĩa nọc âm thái dương. Hai trống diễn tả hai khuôn mặt nọc dương thái dương và nọc âm thái dương khác nhau của nhóm trống Khôn thái âm ngành nọc thái dương.

Như đã biết nhóm trống Khôn 8 có những khuôn mặt chính là Khôn dương là thiếu âm Đoài, Khôn âm là thái âm Chấn. Số Khôn 8 tiến về phía tay phải, dương là số 9 Chấn và lùi 1 bước về phía tay trái âm là số 7 Càn (7—8—9). Ngoài ra Khôn OOO, Nàng O thái âm OO có Chàng I thái âm OO Chấn IOO đại diện. Khôn hôn phối với Càn theo diện càn khôn nòng nọc (âm dương) đối cực.

Như thế nhóm trống có mặt trời số Khôn (thường thấy là 8, 16) có những khuôn mặt chính là Chấn, Đoài vũ trụ khí gió, Càn.

Trống Hoàng Hạ đã diễn tả khuôn mặt Chấn mang tính chủ thấy qua hai vành sóng nước kép. Ở đây ta sẽ thấy trống Quảng Xương diễn tả một khuôn mặt chính khác của nhóm trống thái âm Khôn này.

Tôi đã giải đọc tỉ mỉ về trống Quảng Xương qua bài viết Một Chương Sử Đồng, ở đây chỉ nói về dịch trên mặt trống nên chỉ xin nhắc lại những yếu tố chính yếu liên quan tới dịch ở phần mặt trống mà thôi.

clip_image002

Trống Quảng Xương (Nguyễn Văn Huyên).

Mặt Trống

Nhìn tổng thể, mặt trống “mát dịu” mang âm tính của ngành nòng âm thái dương vì trống chỉ có các vành giới hạn là các vành trống không Khôn và nhiều vành sọc đứng thanh thang hay đường rầy (thường gọi lầm là răng lược) mang nghĩa nọc âm thái dương [không có các chữ nọc dương như chấm nọc, nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói)].

Trống có 7 vành nên trống có một khuôn mặt là trống Càn (số 7 là Càn tầng 1) hôn phối với Khôn. Như thế trống có một khuôn mặt là trống Khôn-Càn, vũ trụ.

1. Cõi Trên, Thượng Thế.

Thượng Thế theo nguyên tắc là phần ở tâm trống biểu tượng cho cõi trên chiếu xuống tâm trống hay là phần cõi trên đập dẹp xuống để làm mặt trống. Trống này có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống thế gian (xin nhắc lại trống có mặt trời có số tia sáng bằng hay nhỏ hơn 7 là trống vũ trụ) nên tâm trống cũng mang một khuôn mặt cõi trên tức bầu trời của thế gian. Như thế phần tâm trống có thể coi như là mang hai khuôn mặt: một là cõi trên càn khôn, vũ trụ (đại vũ trụ, tạo hóa) chiếu xuống, hai là khuôn mặt cõi trên bầu trời thế gian (tiểu vũ trụ, cõi nhân sinh).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, tâm trống biểu tượng cho Bọc Trứng Thế Gian sinh tạo càn-khôn của các Lang Hùng đội lốt bọc Trứng Vũ Trụ Thần Nông-Viêm Đế nhất thể.

Cõi trên Thượng Thế lại chia ra bốn tầng: vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Vô Cực

Vành bao quanh đầu các nọc tia sáng là vành trống không nòng Khôn cho biết hư vô, vô cực chuyển qua không gian mang âm tính trước.

b. Thái Cực: bọc Trứng Vũ Trụ.

Gồm mặt trời 8 nọc tia sáng tức mặt trời càn-khôn. Như vừa nói, vỏ Trứng Vũ Trụ là một vành trống không do hai vòng tròn có nét rất nhỏ và rất sáng mang dương tính lửa. Vỏ này cho biết hư không, không gian, Trứng Vũ Trụ có một khuôn mặt Khôn thái dương tức Đoài IIO mang tính chủ (Đoài IIO là thái dươngII của nòng O).

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, là Bọc Trứng Thế Gian Trăm Lang Hùng Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.

b. Lưỡng nghi:

-Cực dương:

Mặt trời thuộc họ mặt trời rạng ngời, ngành nọc chói chang, đại tộc thái dương. Mặt trời có khối lửa cầu gai chói chang và nọc tia sáng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là mặt trời nọc thái dương. Mặt trời có 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn thế gian tầng 2 (0, 8).Vậy mặt trời có khối sáng không thấy đĩa tròn hình cầu gai Càn đi với số Khôn 8 nọc tia sáng nọc mũi tên là mặt trời Càn-Khôn thế gian.

Vậy trống này là trống có mặt trời Khôn Càn nọc âm thái dương (diễn tả bằng hai vành “răng lược” ở biên trống).

-Cực âm:

.Không gian

Cực âm là không gian chứa mặt trời. Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vành trống không do hai vòng tròn có nét rất nhỏ và rất sáng mang dương tính lửa. Vỏ này cho biết bọc hư không, không gian ngả về không gian mang tính thái dương trước.

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Ở đây khoảng không gian do hai nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lồng vào nhau tạo thành có hình núi tháp nhọn delta Li đất dương thế gian trong có những hình sọc song song nghiêng diễn tả không gian. Hình thái này có thể hiểu theo hai diện. Thứ nhất hình thái các khoảng không gian giữa các nọc tia sáng này cho biết mặt trời 8 nọc tia sáng Khôn-Càn ở cõi tiểu vũ trụ, thế gian (số Khôn 8 không kiêm nhiệm luôn khuôn mặt Khôn 0 tạo hóa cõi thượng thế). Thứ hai là dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li với thiếu âm Đoài. Nhìn dưới dạng này ta có tâm trống diễn tả lưỡng hợp mặt trời Càn thái dương với 8 nọc tia sáng Khôn thái âm tức dưới dạng lưỡng hợp đại vũ trụ và dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng. Trống rõ ràng có hai khuôn mặt sinh tạo vũ trụ và thế gian. Nếu nhìn khuôn mặt thế gian mang tính trội thì khuôn mặt sinh tạo thế gian đội lốt vũ trụ. Bọc Trứng Thế Gian 100 Lang Hùng đội lốt Bọc Trứng Vũ Trụ Tổ Hùng Tạo Hóa Viêm Đế-Thần Nông nhất thể.

c- Những Vành Sinh Tạo

Khác trống Hoàng Hạ, ở đây bao quanh mặt trời-không gian chỉ có hai vành “hoa văn” chữ viết nòng nọc vòng tròn-que. Hai vành này ở dạng chuyển động theo vòng tròn mang tính vận hành, sinh động tức sinh tạo. Một vành chữ chấm-vòng tròn có tiếp tuyến. Như đã biết chữ chấm vòng tròn có nhiều nghĩa, ở cõi tiểu vũ trụ có nghĩa là Li hay Đoài. Ở đây di sát bên vành trống không và theo khuôn mặt Đoài mang tính chủ thấy qua hai thanh thang nọc âm thái dương ở biên trống thì chữ nòng nọc vòng tròn-que vòng-tròn chấm (.O) là thiếu âm, nguyên thể của khí gió, Đoài mang tính chủ. Vành thứ hai là vành thanh thang hay đường rầy mang nghĩa nọc âm thái dương chuyển vận. Như thế hai vành vùng tứ hành này diễn tả Đoài vận hành, sinh tạo thuộc nhánh nọc âm thái dương.

Trống này không diễn tả tứ tượng, tứ hành trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh mà chỉ diễn tả sự sinh tạo của một khuôn mặt Đoài sinh tạo thế gian phía nọc âm thái dương, không phải của một ngành như trống đồng Hoàng Hạ có cùng nhóm trống có mặt trời có nọc tia sáng Khôn.

Tổng quát ở cõi trên, trống Quảng Xương là trống Càn/Khôn thế gian có mặt trời 8 nọc tia sáng. Mặt trời Càn-không gian Khôn ở tâm trống là lưỡng hợp mặt trời-không gian, trụ-vũ, Càn-Khôn diễn tả theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là vòng tròn có chấm. Trống có khuôn mặt Đoài sinh tạo thế gian mang tính chủ.

clip_image004

Đây chính là Bọc Trứng 100 Lang Hùng, là khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, lưỡng hợp của Lang Hùng ở ngành dương mặt trời. Ta có thể gọi là Tổ 100 Lang Hùng hay Tổ Hùng thế gian. Nếu hiểu theo duy dương họ mặt trời thì là mặt trời sinh tạo, tạo hóa. Chữ chấm vòng tròn chính là linh tự Ra của Ai Cập cổ có một nghĩa là mặt trời tạo hóa (Sun as Creator). Ở đây là khuôn mặt mặt trời sinh tạo của Tổ Hùng thế gian, lịch sử đội lốt Tổ Hùng tạo hóa.

Vì trống có mặt trời Càn-không gian Khôn, vũ trụ của Tổ Hùng thế gian Đoài nên theo duy dương chính là bản thể của Lang Hùng gồm có hai nhánh nòng nọc, âm dương của ngành dương, con trai Lang. Nhánh Lang Chim, Lửa, Núi theo Mẹ Tổ Âu Cơ và nhánh Lang Rắn, Nước, đất âm, sông biển theo Cha Lạc Long Quân.

B. Cõi Giữa, Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần mặt trống còn lại và vùng nước là tang trống.

-Vùng Đất.

Trống này có hiện diện của vành sinh hoạt nhân sinh. Vành nhân sinh này rất đơn giản (khác với trống Hoàng Hạ), chỉ có người nhẩy múa và nhà nọc mặt trời không có dàn trống, không có nhà nòng và không có cảnh giã chầy cối. Như thế trống làm rất đơn giản chỉ diễn tả phía nọc dương, phía mặt trời nọc dương nhánh nọc âm thái dương.

.Người

Giữa hai ngôi nhà mỗi bên có hai nhóm người nhẩy múa.

clip_image006

Người trên trống Quảng Xương (nguồn Nguyễn Văn Huyên).

Cả hai nhóm có trang phục đầu đều có chữ nọc chấm-vòng tròn trông như con mắt. Lưu ý ta thấy rõ ở một số người quanh hình nọc chấm-vòng tròn có những tia sáng tỏa ra và cả ở những hình thể điệu hóa cũng vậy. Do đó đây là những Người Mặt Trời rạng ngời.

clip_image008

Trăm phần trăm những người này là những Người Mặt Trời rạng ngời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt những Người Mặt Trời rạng ngời này là Người Mặt Trời, con cháu của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông, là Người Mặt Trời Xích Quỉ con dân của Kì Dương Vương, là những Lang mặt trời, những Hùng Vương mặt trời, là Người Việt Mặt Trời Rạng Ngời con dân của Hùng Vương Mặt Trời.

Những người này trông rất trai tráng vạm vỡ mang dương tính trai trẻ, thanh niên đúng nghĩa với từ Lang thuộc tộc mặt trời mới mọc, buổi sáng.

Mỗi nhóm có 4 người vẽ nguyên cả người. Còn lại những người đã hoàn toàn thể điệu hóa chỉ vẽ con mắt mặt trời hình nọc chấm-vòng tròn tỏa rạng tia sáng và trang phục đầu hình đầu chim hay đầu rắn có sừng.

Người ở mỗi nhóm chia ra làm nhánh: một nhánh người có mặc váy và nhánh người kia trần truồng.

Nhánh người chim mặc váy hai cánh chim xòe ra hai bên.

Nhánh người chim mặc váy xòe ra hai bên hình cánh chim, đầu đội trang phục đầu có hình đầu chim. Đây chính là nhánh người lửa, nhánh người chim lửa thái dương Càn-lửa thiếu dương Li.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt nhánh chim lửa này ứng với ngành mặt trời thái dương Viêm Đế có chim biểu là chim cắt lớn (Great Horbill), chim rìu, chim Việt.

Nhánh người chim lửa này chia ra là hai đại tộc: người chim lửa thái dương và người chim lửa thiếu dương.

a. Đại tộc người chim lửa thái dương.

Lửa thái dương ứng với Càn III.

Đại tộc Càn này có trang phục đầu có hình chim cắt lớn (Great hornbill) có sừng cường điệu và có mỏ hình rìu chữ nhật gồm hai nọc thái dương mang tính lửa vũ trụ, lửa thái dương Càn. Có con mắt dương chấm vòng tròn có một nghĩa là mặt trời Càn. Mặc váy xòe hình hai cánh chim.

clip_image009

Đại tộc người chim lửa thái dương có trang phục đầu có mũ sừng và mỏ rìu thái dương.

Đây là đại tộc Người Chim Cắt Mỏ Rìu Hai Nọc Thái Dương Càn, chim cắt lửa thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là đại tộc Viêm Việt của nhánh Viêm Đế ứng với Đế Minh Càn.

Người này cho biết bán viên nào có mặt người này thì bán viên đó là viên mang tính dương của nhánh nọc âm thái dương.

b. Đại tộc người chim lửa thiếu dương:

clip_image010

Tộc người chim lửa thiếu dương có trang phục đầu mũ sừngvà gáy hình rìu núi tháp đất thế gian Li.

Đại tộc này có trang phục đầu mũ sừng không có mỏ rìu chữ nhật hai nọc thái dương mà phần sau gáy của trang phục đầu có hình rìu hình núi tháp, biểu tượng của đất dương lửa thiếu dương ứng với Li. Ta cũng thấy phía sau đầu là phía âm. Rìu ở sau gáy là rìu mang âm tính. Âm của dương là thiếu dương . Mắt cũng là mắt dương chấm vòng tròn nhưng không to tròn như ở người lửa thái dương Càn ở trên mang âm tính hơn. Ở đây chữ chấm vòng tròn này ta lấy nghĩa là thiếu dương Li. Váy cũng xòe hình hai cánh chim.

Đây là đại tộc Người Chim Rìu Lửa Thiếu Dương Li, có thể là chim cắt đất. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là đại tộc Đế, Việt Đế của nhánh Viêm Đế ứng với Kì Dương Vương Li.

Người này cho biết bán viên nào có mặt người này thì bán viên đó là bán viên âm của nhánh nọc âm thái dương.

Như thế nhánh lửa chim Viêm Đế chia ra là hai đại tộc là đại tọc lửa thái dương mỏ rìu thái dương Viêm Càn và đại tộc lửa thiếu dương chim rìu thiếu dương (ở gáy) Đế Li.

Nhánh Rắn người trần truồng.

Nhánh người trần truồng có khuôn mặt nòng âm nước mang tính chủ (ở trần xuống nước không bị ướt quần áo giống như Chử Đồng Tử, chàng Trai Sống Bên Bờ Nước ở trần truồng), đầu đội trang phục đầu có hình đầu rắn có mồng hay sừng chim, có nghĩa là rắn thái dương. Đây chính là nhánh người thuộc tộc nòng Khôn thái âm nước-thiếu âm gió mang tính thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt nhánh này ứng với ngành mặt trời thái dương Thần Nông có rắn biểu là rắn có mồng hay sừng, Rắn Việt.

Nhánh người rắn này chia ra là hai đại tộc: người rắn nước thái âm và người chim nước thiếu âm ngành mặt trời thái dương.

a. Đại tộc rắn thái âm nước.

Đại tộc này là đại tộc Nước thái âm mang tính thái dương ứng với Chấn IOO.

clip_image012

Đại tộc người trần truồng Nước, Rắn, Mặt Trời-Nước.

Đại tộc này có trang phục đầu có phần trên trang phuc đầu là hình đầu rắn có mồng hay sừng. Phần sau gáy có dải dài. Diải dài buông xuống phía sau trang phục đầu hình dòng nước chẩy giữa hai viền bờ tô đậm. Hai viền bờ trông rất kiên cố như be bờ cản không cho nước tràn ra, trông như một dòng nước từ trên cao, trên trời, trên núi, trên nguồn chẩy xuống thành thác, thành suối thành sông chảy ra biển. Dải nước này trông như dải dây biểu tượng cho rắn nước mà tiếng cổ Việt gọi là con dải. Cả trang phục đầu diễn tả hình rắn nước nọc (có sừng) thái dương. Rắn có mồng sừng tức rắn Việt và rắn mồng sừng hình dải sau này thần thoại hóa thành thuồng luồng, rồng Việt. Con mắt cũng là hình mặt trời cho thấy người rắn cũng là Người Mặt Trời thuộc ngành mặt trời thái dương và rắn là rắn nọc thái dương.

Đại tộc Rắn nước này thuộc phía Chấn. Rắn nước thần thoại hóa thành rồng nước.

b. Đại tộc chim nước thiếu âm, gió hay Rắnắ gió.

Người đại tộc này chỉ khác là trang phuc đầu có dải sau gáy như đuôi chim, dải này ngắn hơn dải chấm đất của đại tộc người rắn nước thái âm ở trên. Theo hình vẽ của nhóm Phạm Huy Thông thì dải sau gáy hình đuôi chim đầu có bờm cường điệu. Đây là hình chim nước như chim bổ nông, chim biểu của thiếu âm, nguyên thể của gió.

clip_image013

Người chim thiếu âm gió có dải trang phục đầu sau gáy hình đuôi chim theo hình vẽ của nhóm Phạm Huy Thông

Theo hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên thì dải này có hình đuôi chim trông giống tua phướn gió.

clip_image014

Người đại tộc chim nước thiếu âm gió với trang phuc đầu sau gáy có hình đuôi chim hình tua phướn gió theo Nguyễn Văn Huyên.

Theo duy dương thì là chim nông gióió, theo duy âm là rắn gió.

Không có dịp nhìn tận mắt hiện vật, tôi không biết hình vẽ của nhóm nào đúng, nhóm nào sai. Tuy nhiên cả hai đều cho biết đại tộc này là đại tộc chim nước thiếu âm gió hay rắn gió.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là nhánh Rắn Việt Thần Nông gồm hai đại tộc Rắn Nước Thần và Chim Nước Gió (chim Nông) hay Rắn Gió Nông.

Thêm vào đó, tên những người này cũng được “xâm” lên người. Ta thấy rõ trên người có những chữ nọc que.

Ở những người rắn nước trần truồng chữ được viết trên lưng hay ở bên cạnh sườn tức phía âm, trong khi ở những người chim nước, chữ nọc que được viết ở trước ngực tức phía dương. Chữ nọc que cho biết những người này là người nọc dương mặt trời, là những Lang, những Người Việt Mặt Trời Rạng Người.

Tóm tắt, đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, người trên trống Quảng Xương là Người Mặt Trời gồm hai nhánh Chim Lửa Viêm Đế và Rắn Nước Thần Nông. Chim Rắn thần thoại hóa thành Tiên Rồng. Nhánh Chim Lửa Viêm Đế chia ra hai đại tộc Chim mỏ rìu thái dương Viêm, Càn Đế Minh và chim mũ rìu núi tháp thiếu dương Đế, Li Kì Dương Vương. Nhánh Rắn NướcThần Nông chia ra hai đạc tộc Rắn nước thái dương Thần và Chim nước thiếu âm Nông. Tương ứng ở cõi lịch sử ta có bốn đại tộc Hùng Man Càn Đế Minh, Hùng Kì kì dương vương, Hùng Lạc Lạc Long Quân và Hùng Lang Âu Cơ-Lạc Long Quân bầu trời sinh tạo (Chấn-Tốn).

Với đầy đủ bốn đại tộc Viêm, Đế, Thần, Nông ứng với Tổ Hùng vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông và với 4 đại tộc người thế gian Hùng Man, Hùng Kì, Hùng Lạc, Hùng Lang ứng với 4 Tổ Phụ thế gian của chúng ta, cho thấy trống này rõ ràng diễn tả khuôn mặt Tổ Hùng thế gian (100 Lang Hùng) đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa Viêm Đế-Thần Nông.

Ngoài những người nguyên dạng này ra còn có những hình thể điệu hóa hoàn toàn thành hình chim hay rắn mà đa số các nhà khảo cổ học cho là hình người đã thể điệu hóa hoàn toàn. Tôi cũng đồng ý như vậy. Đếm 4 hình người trọn vẹn và các người đã thể điệu hóa hoàn toàn thành hình chim, rắn, ta có một nhóm 12 ngườinhóm còn lại 13 người.

.Nhà

Về nhà, khác với các trống khác chỉ có hai căn nhà nọc, mặt trời mái có mũi đao, không có nhà nòng không gian mái vòm. Như thế trống này chỉ là trống biểu của phía nọc nam, mặt trời. Nhà nọc cũng không có dàn trống bên cạnh.

Một điểm đặc biệt quan trọng nhất và thấy rõ nhất so với tất cả các ngôi nhà nọc trên những trống đồng âm dương khác là nhà ở trống này có các hình mặt trời ở hai bên cửa.

clip_image015

clip_image017

Nhà nọc mặt trời thái dương.

Ở đây hiển nhiên trăm phần trăm hai ngôi nhà nọc này là nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời.

Lưu ý

Như thế ta có thể phản hồi lại thấy chắc chắn là tất cả các nhà nọc ở trên trống đồng của đại tộc Đông Sơn đều là những là mặt trời, thờ mặt trời .

Hai căn nhà này là di duệ của những căn nhà nọc trên những trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn cổ đại hơn trống Quảng Xương. Nhà nọc mặt trời trên trống Quảng Xương cho thấy rõ các ngôi nhà nọc ở các trống cổ mặc dù không có hình mặt trời cũng là những ngôi nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là những ngôi nhà nọc, nhà mặt trời, thờ phượng mặt trời mà di duệ là những nhà lang của người Mường, nhà đình của chúng ta, nhà phái nam ngày nay. Nhà lang, đình là nhà phái nam, nhà dương, nhà thờ mặt trời.

Bây giờ ta đi vào chi tiết hai căn nhà nọc mặt trời này. Hai căn nhà này khác nhau về chi tiết. Ta dựa vào các hình mặt trời ở hai bên trước cửa nhà chia ra: nhà mặt trời nhánh Đoài Chấn và nhà mặt trời nhánh Li Càn.

a. Nhà nọc mặt trời nhánh Đoài Chấn.

clip_image018

Nhà mặt trời Đoài Chấn theo nhóm Phạm Huy Thông.

clip_image020

Nhà mặt trời Đoài Chấn theo Nguyễn Văn Huyên.

Cánh cửa bên trái có mặt trời 11 nọc tia sáng. Số 11 là số Đoài tầng 2 (3, 11). Cánh cửa bên phải có mặt trời 9 nọc tia sáng. Số 9 là số Chấn tầng 2 (1, 9). Căn nhà này là nhà mặt trời của nhánh Đoài Chấn.

Bán viên nào có căn nhà có hai mặt trời Đoài Chấn này là bán viên Đoài Chấn.

b. Nhà nọc mặt trời nhánh Càn-Li.

clip_image022

Nhà nọc mặt trời Càn Li theo Phạm Huy Thông.

Theo hình vẽ của nhóm Phạm Huy Thông, cánh cửa bên phải có mặt trời 6 nọc tia sáng. Số 6 là số Tốn OII, âm O thái dương II. Cánh cửa bên phải có mặt trời 7 nọc tia sáng. Số 7 là số Càn III, dương I thái dương II.

Như thế nếu hiểu theo hình vẽ của nhóm Phạm Huy Thông thì nhà có mặt trời Tốn và Càn cho biết ngôi nhà mặt trời này mang tính lửa thái dương (âm và dương). Do đó suy ra một cách gián tiếp nhà này thuộc nhánh thái dương Càn Li.

Tuy nhiên theo hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên thì mặt trời ở cánh cửa bên trái chỉ có 5 nọc tia sáng.

clip_image024

Nhà Càn Li theo hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên.

Số 5 là số Li và nhà mặt trời ở cánh của bên phài có 7 nọc tia sáng Càn. Ta thấy mặt trời có 5 nọc tia sáng Li đúng hơn, chính thống hơn. Ngôi nhà ở bán viên Đoài Chấn có hai mặt trời Đoài Chấn thì ngôi nhà ở bán viên này có mặt trời Càn Li đối ứng lại, rất hợp lý.

Vả lại cứ theo suy luận đơn thuần thôi thì ta cũng thấy bán viên bên kia đã có nhà Đoài Chấn thì còn lại bán viên này tất nhiên là nhà Càn Li.

Như vậy căn nhà này là nhà mặt trời nhánh Càn Li. Bán viên nào có căn nhà này là bán viên Càn Li.

Tóm lại nhà trên trống Quảng Xương nói chung là nhà nọc thờ mặt trời của ngành mặt trời thái dương. Không có nhà nòng không gian. Hai ngôi nhà thờ bốn mặt trời ứng với tứ tượng dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là những nhà nọc mặt trời thờ bốn thần Tổ Phụ mặt trời Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương sinh tạo.

Những ngôi nhà mặt trời này cũng xác quyết một cách kiên cố thêm rằng những người có hình mặt trời sinh tạo nọc chấm-vòng tròn có tia sáng tỏa rạng trên mặt là những Người Mặt Trời (The People of the Sun) trăm phần trăm. Đây chính là Người Mặt Trời Xích Quỉ dòng thần mặt trời Viêm Đế. Lang Hùng là Lang Mặt Trời. Hùng Vương là vua Mặt Trời. Người Việt là Người Mặt Trời thái dương rạng ngời họ thờ phượng mặt trời trong những đền thờ mặt trời.

.Chim

Vành 4 của trống Quảng Xương có vành 6 cò bay theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời.

Số 6 là số Tốn. Tốn có một khuôn mặt hôn phối với Đoài, khí gió.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, vành cò bay cho biết trống thuộc đại tộc Cò Gió Bạch Hạc, Phong Châu, Hùng Vương có mạng Đoài khí gió, bầu trời.

clip_image026

Cò gió trên trống Quảng Xương.

Thật vậy cò có mỏ thon dài thanh tao mang tính dương của âm tức thiếu âm khí gió. Bờm bay thẳng hàng với mỏ gợi hình gió thổi mạnh như mũi tên bay trong gió, lướt gió. Cánh có những sọc ngang không gian và các chấm nọc dương tức Khôn dương khí gió.

.Những Vành Biên Trống

Biên trống có ba vành số 5, 6, 7.

Vành 6 là vành vòng tròn có chấm có tiếp tuyến vận hành. Ở đây chỉ có một, khác với trống Hoàng Hạ có hai vành vòng tròn-chấm và chấm-vòng tròn có tiếp tuyến vận hành. Điểm này cho thấy trống Quảng Xương chỉ diễn tả một khuôn mặt Đoài sinh tạo mang tính chủ.

Vành 5 và 7 là hai vành đường rầy hay hình các thanh thang đứng (răng lược) cho biết trống thuộc ngành nọc âm thái dương. Như vậy ba vành ngoài biên diễn tả Đoài sinh tạo nhánh nọc thái dương.

Tóm tắt trống Quảng Xương là trống thuộc nhóm trống có mặt trời nòng Khôn cùng nhóm với trống Hoàng Hạ có mặt trời16 nọc tia sáng nhưng trống Quảng Xương chỉ có mặt trời 8 nọc tia sáng và thuộc nhóm nọc âm thái dương (trong khi trống Hoàng Hạ thuộc nhóm nọc dương thái dương). Trống có khuôn mặt chính là Đoài sinh tạo càn khôn thế gian mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, trống là trống biểu củ Tổ 100 Lang Hùng hay Tổ Hùng Thế Gian đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa Viêm Đế-Thần Nông nhất thể.

.Hai Bán Viên

Như đã nói ở trên, trống này là trống biểu của Đoài sinh tạo thế gian có mặt trời càn khôn ở dạng lưỡng hợp đại vũ trụ, có khoảng không gian giữa các nọc tia sáng ở dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ Đoài-Li nên ta có thể chia mặt trống ra làm hai bán viên mang tính nòng nọc (âm dương) của ngành mặt trời thái dương.

Dựa vào ngôi nhà nọc thờ phượng mặt trời ta chia ra hai bán viên.

-Bán viên của nhánh âm Đoài Chấn Thái Dương.

clip_image028

Bán viên âm Đoài-Chấn.

Như đã nói ở trên, bán viên này có nhà thờ mặt trời ở cánh cửa bên trái có hình mặt trời 11 nọc tia sáng Đoài tầng 2 (3, 11) và ở cánh cửa bên phải có mặt trời 9 nọc tia sáng Chấn.

clip_image030

Nhà mặt trời Đoài Chấn.

Nhà mặt trời này cho biết bán viên này thuộc nhánh nòng khôn thái dương Đoài Chấn.

Ở nhánh này có người chim đại tộc Li phần trang phục đầu sau gáy có hình rìu núi tháp. Li là thiếu âm OI, là âm O của dương I như thế người này cho biết hay xác thực nhánh này là nhánh mang âm tính tức Đoài Chấn.

Nhánh này là nhánh nòng, âm thái dương ứng với Thần Nông (Đế Lạc-Lạc Long Quân-Hùng Lạc).

Bán viên này ở vành vũ trụ có 4 nọc tia sáng mặt trời. Ở vành sinh hoạt nhân sinh gồm có 12 người chim, rắn (4 người có cả người nguyên dạng và 8 người thể điệu hoàn toàn) và 1 ngôi nhà mặt trời Đoài Chấn. Vành chim có 3 hình cò bay.

-Bán Viên nhánh Dương Li Càn.

clip_image032

Bán viên Li Càn.

Như đã biết, nhánh này có nhà mặt trời Li Càn.

Ở nhánh này có hình người chim mỏ rìu hai nọc thái dương Càn. Người này cũng cho biết hay xác thực nhánh này là nhánh dương Càn Li.

Bán viên này ở tâm trống có 4 nọc tia sáng. Ở vành nhân sinh có 13 người (4 người nguyên hình, trong đó có người chim mũ sừng mỏ rìu thái dương và 9 người thể điệu hóa hoàn toàn), 1 nhà nọc mặt trời Càn-Li. Vành chim có 3 cò bay.

Như thế nhánh này là nhánh nọc thái dương ứng với Viêm Đế (Đế Minh-Kì Dương Vương-Âu Cơ-Hùng Kì).

Dịch Đồng Trên Trống Quảng Xương.

Mới liếc mắt thoáng qua ta biết ngay trống Quảng Xương này diễn tả một thứ dịch. Trống Quảng Xương có cảnh sinh hoạt nhân sinh. Theo như hệ luận đã nói, trống có cảnh sinh hoạt nhân sinh như trống Ngọc Lũ I, trống Hoàng Hạ, Sông Đà, Cổ Loa, Vienna (Khai Hóa) thường diễn tả một thứ dịch, nên nhìn thấy vành người ta biết ngay trống Quảng Xương này cũng diễn tả một thứ dịch.

Như đã nói ở trên,  trống Quảng Xương là càn khôn, là trống biểu của Đoài sinh tạo thế gian đội lốt tạo hóa. Trống Diễn tả Tổ 100 Lang Hùng, Tổ Hùng Thế Gian đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa Viêm Đế-Thần Nông, vì thế  trống Quảng Xương có dịch Tiên Thiên của cõi sinh tạo thế gian. Với khuôn mặt thế gian nên cũng có dịch Hậu Thiên.

I. Dịch Tiên Thiên Quảng Xương

A. Dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Nhất Thể.

Nếu nhìn theo khuôn mặt nòng nọc (âm dương) nhất thể của trống này (Bọc Trứng Đoài Thế Gian Tổ Hùng Lang thế gian đội lốt Bọc Trứng Vũ Trụ Viêm Đế-Thần Nông nhất thể) ta có thể chọn các quẻ ba vạch (trigrams) ở trên cả hai bán viên tức trên cả mặt trống.

-Bốn Quẻ Ba Vạch Dương.

. Đoài

Mặt trời Đoài 11 nọc tia sáng ở nhà nọc Đoài Chấn.

. Chấn

Mặt trời Chấn 9 nọc tia sáng ở nhà nọc mặt trời Đoài Chấn.

Tổng cộng 25 người. Số 25 là số Chấn tầng 4 (1,9, 17, 25).

Ở đây dịch Tiên Thiên tôi nghiêng về phía mặt trời Chấn 9 nọc tia sáng.

. Li

5 mặt trời (1 mặt trời ở tâm trống và 4 mặt trời hai nhà nọc mặt trời).

. Càn

Ta có 7 vành mặt trống và mặt trời Càn 7 nọc tia sáng ở một cánh cửa bên trái của nhà nọc Càn Li. Vì là dịch Tiên Thiên tôi nghiêng về 7 vành mặt trống hôn phối với mặt trời 8 nọc tia sáng Khôn.

Lưu ý

Số vành trên mặt trống tùy thuộc vào tính nòng nọc (âm dương) của mặt trời ở tâm trống, nói một cách khác số vành tương hợp hay tương giao với tính nòng nọc (âm dương) của mặt trời. Ví dụ trống Ngọc Lũ I là trống nhóm lửa thái dương Càn nên có số vành là 16 vành. Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) hôn phối với Càn. Trống trống Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng (như đã biết, số 16 là số Khôn) thuộc nhóm trống nước thái âm ngành nọc dương thái dương Chấn mang tính chủ nên có 15 vành. Số 15 là số Càn tầng 2. Càn hôn phối với Khôn theo diện vợ chồng và với Chấn theo lưỡng hợp đại vũ trụ. Trống cóc ếch, sấm mưa Hữu Chung có mặt trời 12 nọc tia sáng (số 12 là số Cấn tầng 2: 4, 12) thuộc nhóm đất thiếu dương ngành âm Cấn có 9 vành. Số 9 là số Chấn tầng 2 (1, 9). Cấn hôn phối với Chấn (âu Cơ núi Cấn lấy Lạc Long Quân Chấn)….

Như thế ta lấy số 7 vành ở trống Quảng Xương này làm quẻ ba vạch Càn hôn phối với mặt trời 8 nọc tia sáng Khôn không có gì là nghịch lý cả

-Bốn Quẻ Ba Vạch Âm

. Tốn

6 cò bay.

. Cấn

12 người ở bán viên Đoài Chấn. Số 12 là số Cấn tầng 2 (4, 12).

. Khảm

2 nhà nọc mặt trời.

. Khôn

Mặt trời 8 nọc tia sáng ở tâm trống.

Như thế, ta có dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài sinh tạo nhất thể.

B. Dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Lưỡng Hợp Nòng Nọc (âm dương) Riêng Rẽ.

Ta chọn các quẻ ba vạch dương ở bán viên dương Càn Li và các quẻ ba vạch âm ở bán viên âm Đoài Chấn riêng rẽ.

.Bốn Quẻ Ba Vạch Dương Ứng Với Tứ Tượng Dương Chọn ở Bán Viên Dương Li Càn.

Đoài mang tính chủ chốt để trên hết.

-Đoài

.3 người nguyên dạng thuộc nhánh nòng Rắn.

-Chấn

1 người chim mỏ cắt thái dương nguyên dạng.

-Li

13 người ở bán viên Li Càn.

Số 13 là số Li tầng 2 (5, 13).

-Càn

Mặt trời Càn 7 nọc tia sáng.

.Bốn Quẻ Ba Cạch Âm ứng Với Tứ Tượng Âm Chọn ở Bán Viên Âm Đoài Chấn.

.Khảm

2 mặt trời ở nhà mặt trời Đoài Chấn.

.Cấn

-4 người nguyên hình dạng.

-12 người ở nhánh Đoài Chấn.

12 là số Cấn tầng 2 (4, 12).

.Tốn

Không có.

Ngoại trừ trường hợp hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên là đúng, ta có ngôi nhà mặt trời có mặt trời 6 nọc tia sáng.

.Khôn

8 người thể điệu hóa hoàn toàn.

Như thế có thể ta có một loại dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Lưỡng Hợp.

Tuy nhiên dịch này chưa hoàn toàn vì trở ngại với quái Tốn. Ta có thể lấy dạng giản lược vì trống này đã khá muộn là chỉ dựa vào 4 quẻ ba vạch dương rồi suy ra các quẻ ba vạch âm.

Dù gì thì dịch này cũng không hoàn hảo và mang tính thứ yếu.

C. Dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Tổ Hùng Thế Gian.

Nhìn dưới diện sử truyền thuyết Việt, ta thấy rất rõ trống Quảng Xương diễn tả khuôn mặt Đoài Tổ 100 Lang Hùng hay Tổ Hùng Thế gian đội lốt Tổ Hùng vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông với 2 nhà nọc mặt trời thờ 4 vị Tổ Phụ của chúng ta là mặt trời Càn Đế Minh, mặt trời Li Kì Dương Vương, mặt trời Chấn Lạc Long Quân và mặt trời Đoài Tổ Hùng thế gian và ở diện thế gian có hai nhánh người Chim Tiên và người rắn Rồng với 4 tộc Hùng Man, Hùng Kì, Hùng Lạc và Hùng Lang tương ứng… hiển nhiên trống này diễn tả một loại dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Tổ Hùng Thế Gian trong sử truyền thuyết  và trong lịch sử Việt.

II. Dịch Hậu Thiên Quảng Xương.

Vì trống có khuôn mặt diễn tả Đoài sinh tạo thế gian nên ta cũng có dịch Hậu Thiên thế gian.

Cách lựa các quẻ ba vạch (trigrams).

Như đã biết, ở dịch Hậu Thiên, ta có thể chọn các quẻ ba vạch (trigrams) trên toàn mặt trống vì trong Hậu Thiên bát quái các cặp quẻ ba vạch hôn phối hỗn hợp theo tương đồng ruột thịt con trai-cha, con gái-mẹ và hôn phối vợ chồng. Các cặp mang tính âm như Chấn-Đoài, Cấn-Tốn ta chọn ở bán viên âm của tộc Rắn Nước còn các cặp Li-Khảm, Càn Khôn ta có thể chọn cả ở hai bán viên. Vì trống chỉ diễn tả rất đơn giản và đã khá muộn (một số người đã ở dạng thể điệu hóa), ít chi tiết nên ta chỉ chọn một quẻ ba vạch ứng với một tượng rồi suy ra tượng còn lại qua hôn phối, tương giao.

1. Dịch Hậu Thiên Quảng Xương của Đoài Sinh Tạo Thế Gian.

Vì dịch mang tính Hậu Thiên thế gian trong đó Đoài-Chấn đi cặp đôi với nhau nên ta để Đoài-Chấn lên trên hết.

.Đoài-Chấn

-Đoài

Mặt trời ở một cánh của nhà mặt trời Đoài Chấn ở bán viên âm có 11 nọc tia sáng Đoài.

-Chấn:

Tổng cộng mặt trống 25 người.

Số 25 là số Chấn tầng 3 (1, 9, 17, 25).

Kế đến là cặp âm quan trọng nhất là Tốn-Cấn.

.Tốn-Cấn

Tốn:

Vành chim có 6 cò bay. Số 6 là số Tốn tầng 1.

Cấn :

Ta có 4 người nguyên dạng ở bán viên âm Đoài Chấn và 4 hình mặt trời ở hai nhà mặt trời.

Ở đây là dịch Hậu Thiên, tôi nghiêng về 4 người.

Kế đế là Khảm-Li.

.Khảm-Li

Khảm:

2 nhà mặt trời.

Số 2 là số Khảm tầng 1.

.Li

5 mặt trời: 1 mặt trời ở tâm trống và 4 mặt trời ở bốn cánh cửa của 2 ngôi nhà nọc mặt trời.

Số 5 là số Li.

.Khôn-Càn

Khôn:

Mặt trời ở tâm trống có 8 nọc tia sáng.

Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8).

Càn:

Một ngôi nhà mặt trời ở bán viên Càn Li có mặt trời trên một cánh cửa có 7 nọc tia sáng Càn.

Ngoài ra mặt trống có 7 vành cũng có thể chọn làm quẻ ba vạch Càn vì mặt trống diễn tả khuôn mặt của trống càn khôn mặt trời 8 nọc tia sáng. Tuy nhiên ta đã dùng 7 vành ở dịchTiên Thiên rồi nên ta chọn mặt trời 7 nọc tia sáng.

Như vậy ta có một Hậu Thiên bát quái Việt dịch Quảng Xương của đại tộc Hùng Vương nhánh nọc âm thái dương.

2. Dịch Hậu Thiên Quảng Xương nhánh âm Đoài Chấn.

Trống rất đơn giản nên chỉ diễn tả dịch ở hai nhánh này ở dạng thu gọn với hai cặp Đoài-Chấn và Cấn Tốn là chủ yếu:

. Đoài-Chấn

Ta có 3 cặp Đoài Chấn:

a. 3 người tộc Rắn và 1 người tộc Chim rìu hình tháp ở gáy.

b. 3 cò Đoài-1 nhà Chấn.

c. hai hình mặt trời ở cánh cửa nhà nọc mặt trời có mặt trời Đoài 11 nọc tia sáng-Chấn 9 nọc tia sáng.

Vì là dịch Hậu Thiên thế gian có lẽ ưu tiên nên chọn 3 người Rắn và 1 người Chim của bán viên âm Đoài Chấn.

Vì có 3 cặp Đoài Chấn ta thấy rõ khuôn mặt của cặp Đoài Chấn chủ chốt của dịch Hậu Thiên rất được nhấn mạnh.

.Cấn Tốn

Cấn: bán viên âm Đoài Chấn có 12 người với số 12 là số Cấn tầng 2 (4, 12).

Ta cũng có 4 nọc tia sáng nhưng ở đây là dịch Hậu Thiên mang tính thế gian nên ta chọn Cấn-12 người.

Tốn: ở đây không có Tốn.

Ta phải suy ra Tốn qua sự tương giao với Cấn trong dịch Hậu Thiên.

Đây là một điểm thiếu hụt, không trọn vẹn.

Còn hai cặp Càn-Khôn và Li-Khảm.

Khôn:

Ở nhánh Đoài Chấn có 8 người thể điệu hóa hoàn toàn thành hình chim, rắn (trong 12 người chỉ có 4 người nguyên dạng). Số 8 là số Khôn hôn phối với Càn.

Ở đây cũng không có số Càn.

.Li Khảm

Khảm: 2 hình mặt trời ở hai cánh cửa. Số 2 là số Khảm tầng 1.

Không có số Li. Li chỉ suy ra qua hỗn hợp với Khảm.

Như thế dịch này không hoàn chỉnh.

Tuy nhiên vì là trống khá muộn có thể tác giả chỉ diễn tả dịch một cách giản lược, chỉ dựa vào khuôn mặt chính của dịch Hậu Thiên là cặp Đoài Chấn còn lại các cặp khác chỉ dựa vào một tượng rồi suy ra các tượng tương giao hay tương hợp thích ứng mà thôi.

Dù gì đi nữa thì dịch này cũng không hoàn hảo.

3. Dịch Hậu Thiên Quảng Xương nhánh dương Li-Càn.

Tương tự ta có:

.Đoài-Chấn

a. 3 người Rắn-1 người Chim mỏ rìu thái dương ở bán viên Càn-Li.

b. 3 chim Đoài-1 nhà Chấn.

Vì là dịch hậu Thiên, ta ưu tiên chọn 3 người Rắn-1 người Chim.

.Cấn Tốn

Cấn:

a. 4 người nguyên hình

b. 4 nọc tia sáng.

Ở đây dịch Hậu Thiên ta không lấy Cấn 4 nọc tia sáng.

Tốn: không có.

Còn mặt trời ở cánh cửa bên phải không rõ là mặt trời Tốn 6 (theo hình vẽ của nhóm Phạm Văn Thộng) hay là mặt trời Li 5 nọc tia sáng theo hình vẽ của nhóm Nguyễn Văn Huyên, tôi để qua bên.

.Li-Khảm

Li: 13 người. Số 13 là số Li tầng 2 (5, 13).

Khảm: 2 nhà mặt trời.

.Càn-Khôn

Càn: mặt trời 7 nọc tia sáng ở một bên cửa nhà mặt trời Càn Li.

Khôn:

Không có.

Ở đây ta thấy có cặp chính Đoài Chấn và cặp Li Khảm hoàn chỉnh còn Cấn Tốn, Càn Khôn chỉ có Cấn và Càn rồi phải suy ra Tốn và Khôn qua hôn phối tương giáo và vợ chồng. Dịch này hoàn chỉnh hơn dịch vừa mới nói ở trên.

Tuy nhiên dù gì thì hai loại dịch này không hoàn toàn, cũng chỉ có mang tính cách phụ.

Kết Luận

Trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng cùng nhóm trống Khôn với trống Hoàng Hạ có 16 nọc tia sáng. Như đã nói ở trên, trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng mang dương tính hơn trống Hoàng Hạ có mặt trời16 nọc tia sáng nên trống Quảng Xương có khuôn mặt Đoài mang tính chủ trong khi trống Hoàng Hạ có khuôn mặt Chấn mang tính chủ. Khuôn mặt Chấn âm này thấy rất rõ qua vành sóng cuộn kép ở trống Hoàng Hạ mà không có ở trống Quảng Xương. Như thế trống Hoàng Hạ và trống Quảng Xương diễn tả hai khuôn mặt chính Chấn (Khôn âm) và Đoài (Khôn dương) của nhóm trống có mặt trời là số Khôn (16, 8). Ngoài ra trống Quảng Xương thuộc nhóm nọc âm thái dương thấy qua hai vành nấc thang ở biên trống trong khi trống Hoàng Hạ thuộc nhóm nọc dương thái dương thấy qua hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ở biên trống.

Trống Quảng Xương diễn tả Đoài sinh tạo thế gian mang tính chủ ứng với Bọc Trứng Thế Gian Đoài Tổ 100 Lang Hùng hay Hùng Thế Gian đội lốt Bọc Trứng Vũ Trụ tạo Hóa Tổ Hùng Tạo Hóa Viêm Đế-Thần Nông nhất thể nên ta có hai dịch chính là dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Sinh Tạo Nhất Thể và dịch Hậu Thiên Quảng Xương Đoài sinh tạo thế gian lưỡng hợp. Còn các loại dịch khác không hoàn hảo, coi thể coi như không đáng kể. Nhìn dưới diện sử truyền thuyết Việt, trống diễn tả dịch Tiên Thiên Quảng Xương Đoài Tổ Hùng Thế Gian.

Một lần nữa cho thấy mỗi trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn diễn tả một loại dịch khác nhau tùy theo tính nòng nọc (âm dương) của trống đó.

Trống Quảng Xương cũng là Một Chương Sử Đồng ghi khắc lại cho biết Đại Tộc Việt là Người Mặt Trời thái dương.

Trống Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng là trống mặt trời Càn-Khôn thế gian của ngành Người Mặt Trời thái dương Chim-Rắn gồm có hai nhánh người chim cắt lửa đất và người rắn nước.

Ở cõi vũ trụ tạo hóa Đại Tộc Việt là con cháu của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông. Ở cõi thế gian thì đây là truyền thuyết Trăm Lang Hùng Mặt Trời sinh ra từ bọc Trứng Thế Gian của Mẹ Tổ Âu Cơ gồm có hai ngành dương Lửa Núi Âu Cơ và ngành âm Nước Lạc Long Quân.

Về cổ sử là Họ Đỏ Hồng Bàng, họ Mặt Trời thế gian gồm có ngành  Đất thái dương Kì Dương Vương và Nước thái dương Lạc Long Quân (Hùng Vương coi như thuộc về lịch sử).

Về lịch sử là Đại Tộc Việt Người Mặt Trời rạng ngời gồm hai ngành Âu và Lạc di duệ của Hùng Vương Mặt Trời có gốc từ các Lang Hùng Mặt Trời sinh ra từ bọc Trứng nòng nọc, âm dương thế gian gồm hai ngành thái dương lửa nước, chim rắn, Tiên Rồng, di duệ của thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông. Đây là chương sử đồng ghi lại trang cổ sử Âu-Lạc của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời, có một khuôn mặt thế gian, lịch sử ứng với truyền thuyết Trăm Lang Hùng, Hùng Vương dòng dõi thần mặt trời Viêm Đế-Thần Nông.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: