VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (6): DỊCH ĐỒNG SÔNG ĐÀ.

DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(6)

DỊCH ĐỒNG SÔNG ĐÀ.

NHÓM TRỐNG MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG NHÁNH NỌC DƯƠNG THÁI DƯƠNG

Nguyễn Xuân Quang

Trống Sông Đà cùng nhóm trống lửa thái dương Càn có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhánh nọc dương thái dương vì có sự hiện diện của hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc thái dương giống như trống Ngọc Lũ I. Nhưng trống Sông Đà khác trống Cổ Loa I, mặc dù cũng có mặt trời 14 nọc tia sáng nhưng trống Cổ Loa I thuộc nhánh nọc âm thái dương vì có hai vành nọc thanh thang hay đường rầy ở ngoài biên trống. Tuy nhiên trống Ngọc Lũ I và trống Sông Đà dù cùng ở một nhánh nọc dương thái dương nhưng có những chi tiết nòng nọc (âm dương) và diễn tả khác nhau. Do đó ta suy ra ngay dịch đồng Sông Đà khác với dịch đồng Ngọc Lũ I. Tôi chỉ xin chuyên chú đến những điểm khác biệt này

Tổng quát

Trống Sông Đà còn được gọi là trống Moulié lấy được từ nhà một người vợ góa của một viên quan lang Mường vùng sông Đà, tỉnh Hòa Bình (ngày nay là Hà Sơn Bình). Năm 1889 được đem đi trưng bầy tại cuộc đấu xảo quốc tế ở Paris, sau đó trống mất tích luôn, không trở về nước nữa. Hiện nay trống được trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Guimet, Paris.

Tác giả Nguyễn Văn Huyên cho biết vì không được quan sát trực tiếp hiện vật thật nên dựa vào tài liệu và ảnh vẽ của F. Heger để mô tả trống nên tôi dùng cả hình trong quyển Dong Son Drums in Viet Nam của nhóm Phạm Huy Thông. Tôi đã tìm đến viện bảo tàng Guimet để quan sát tận mắt trống này.

clip_image002

Tác giả và trống Sông Đà tại Bảo Tàng Viện Guimet, Paris, Pháp

(ảnh Michelle Mai Nguyễn).

clip_image004

Mặt trống Sông Đà (ảnh của tác giả).

MẶT TRỐNG

Nhìn tổng thể, mặt trống “âm ấm” vì vừa có các yếu tố âm vừa có yếu tố dương trên mặt trống. Yếu tố âm như vỏ không gian hay vỏ Trứng Vũ Trụ là vành trống không mang âm tính nòng Khôn. Yếu tố dương như các vành giới hạn là vành có chấm nọc và hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở biên trống.

Tính âm ấm này cho biết trống có một khuôn mặt là trống biểu của đại tộc Khôn dương tức thiếu âm, Đoài mang tính chủ thuộc ngành nọc dương thái dương.

Thượng Thế.

clip_image006

Thượng thế của trống Sông Đà.

(nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

A. Thượng Thế.

Tâm trống ở đây có vỏ hư vô là vòng tròn bao quanh đầu tia nọc ánh sáng mặt trời. Vỏ không gian rất nhỏ nét mang dương tính và bao bọc bởi vành trống không cho biết hư vô chuyển qua không gian dương khí trước, khuôn mặt gió dương Đoài mang tính chủ.

Cõi trên Thượng Thế chia ra bốn tầng: vô cực, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng/tứ hành.

a. Vô Cực

Như vừa nói ở trên vòng tròn bao quanh đầu tia sáng là vỏ hư vô, vỏ không gian diễn tả bằng vòng tròn nhỏ nét mang dương tính và vành trống không mang tính âm diễn tả hư vô, không gian nguyên thể ngả về Khôn dương thiếu âm khí gió trước. Vì thế Khôn dương khí gió Đoài vũ trụ mang tính chủ.

b. Thái Cực, Bọc Trứng Vũ Trụ.

Gồm mặt trời và không gian còn ở dạng nhất thể.

c. Lưỡng nghi:

-Cực dương:

Mặt trời thuộc họ mặt trời rạng ngời, ngành nọc chói chang, đại tộc thái dương. Mặt trời có khối lửa cầu gai chói chang và nọc tia sáng thuộc nhóm nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là mặt trời nọc thái dương. Những nọc tia sáng mũi tên ở đây có cạnh hơi cong mang chút âm tính nhưng vẫn sắc, nhọn mang tính nọc dương thái dương mang âm tính của phía nòng Khôn thái dương Đoài-Chấn diễn tả bằng những đoạn sóng hình thoi và sóng vuông góc ở biên trống (xem dưới). Nọc tia sáng có cạnh hơi cong mang chút âm tính tức thiếu âm cũng cho biết trống có khuôn mặt Đoài vũ trụ mang tính trội.

Như đã nói ở trên trống Sông Đà có mặt trời có 14 nọc tia sáng thuộc nhóm trống lửa thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng ngành nọc dương thái dương như trống Ngọc Lũ I.

-Cực âm:

.Không gian

Cực âm là không gian chứa mặt trời. Như đã nói vỏ không gian (cùng chung với vỏ Trứng Vũ Trụ) ở đây là một vòng tròn trống không với khuôn mặt thiếu âm mang tính chủ.

Bản chất không gian thường được diễn tả bởi các hình thái ở các khoảng không gian giữa các tia sáng. Ở đây khoảng không gian có hình thái tứ tượng (hiện nay gọi lầm là họa tiết lông công) giống như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Hình thái tứ tượng này cho biết không gian mặt trời mang tính sinh tạo lưỡng hợp hai ngành nòng nọc, âm dương diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh.

c- Những Vành Sinh Tạo

Trống có những vành sinh tạo ứng với tứ hành giống hệt như ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. 

Tổng quát ở cõi trên, trống Sông Đà có mặt trời 14 nọc tia sáng và khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái tứ tượng và các vành từ hành giống như ở trống Ngọc Lũ I diễn tả thuyết vũ trụ tạo sinh trọn vẹn. Như thế ta suy ra trống Sông Đà giống như trống Ngọc Lũ I cũng có một loại dịch Tiên Thiên nào đó. Trống Sông Đà chỉ khác ở chỗ là vỏ hư vô/không gian là một vành trống không cho biết không gian mang dương tính khí gió Đoài mang tính chủ.

B. Trung Thế.

Trung Thế là cõi giữa nhân thế gồm có vùng đất và vùng nước. Vùng đất là phần còn lại của mặt trống sau khi trừ đi vùng thượng thế ở tâm trống và vùng nước là tang trống.

1. Vùng Đất.

Vùng đất chia ra là hai miền đất dương nằm sát mặt trời và miền đất âm nằm ngoài biên trống sát vùng nước tang trống gồm:

.Vành sinh hoạt nhân sinh.

Trống này có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian nên có vành chủ chốt nằm gần phía mặt trời là vành diễn tả cảnh sinh hoạt nhân sinh của người mặt trời (Bách Việt).

Cảnh sinh hoạt nhân sinh ở vành số 6.

Số 6 là số Tốn, là số âm thái dương cho thấy những người này có khuôn mặt thái dương II của phía nòng O mang tính chủ tức khuôn mặt Đoài IIO (Đoài OII).

Người ở trống này cũng là những người chim-mặt trời nhẩy múa tương tự như ở trống Ngọc Lũ I. Tuy nhiên có những chi tiết khác nhau như:

Người mặt trời ở đây chia ra làm bốn nhóm: hai nhóm 3 người và hai nhóm 4 người,

clip_image008

Người nhẩy múa trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trang phục đầu của người trên trống Sông Đà có phần sừng phía trước cong mang âm tính của nhánh Chấn Đoài, trong khi ở người trên trống trống Ngọc Lũ I thẳng đứng có góc cạnh mang dương tính của nhánh Càn Li.

trong khi ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I có hai nhóm 6 và 7 người.

Dĩ nhiên những người nhẩy múa này cũng mang đủ ý nghĩa vũ trụ luận như ở trống Ngọc Lũ I.

Người trên trống Sông Đà hóa trang thành người mặt trời-chim cũng giống như ở trống Ngọc Lũ I, tuy nhiên trang phục đầu có nhiều nét cong mang âm tính và phần sừng phía trước cũng cong mang tính âm thái dương cho biết họ thuộc nhánh nọc thái dương phía âm khác với trang phục đầu có nhiều nét thẳng, có góc cạnh và phần sừng thẳng đứng mang dương tính nọc thái dương phía dương của những người ở trống Ngọc Lũ I (xem thêm chi tiết ở bài viết trống Ngọc Lũ I).

.Nhà

Cũng như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, nhà trên trống Sông Đà cũng có hai loại nhà mang tính nòng nọc, âm dương: nhà nọc, dương, mặt trời và nhà nòng, âm, không gian (xem thêm chương Ý Nghĩa Hình Nhà Trên Trống Đồng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

./Nhà Nọc Mặt Trời.

Giống như ở trống ngọc Lũ I mặt trống có hai ngôi nhà nọc mặt trời đầu mái nhọn nhưng khác chi tiết nòng nọc (âm dương) như con chim trĩ trên nóc nhà ở trống này quay về phía tay trái thay vì quay về phía tay phải như ở trên trống Ngọc Lũ I (xem dưới). Chim quay về phía tay trái cho biết nhà của phía nòng âm thái dương Đoài Chấn, trong khi ở trống ngọc lũ I, chim quay về phía tay phải, dương cho biết nhà thuộc phía nọc dương thái dương Li Càn.

clip_image010

Nhà nọc mặt trời và dàn trống ở bên trái trên trống Sông Đà.

./Dàn trống

Giống trống trống Ngọc Lũ I ở đây cũng có hai dàn trống nhưng khác trống ngọc Lũ I là dàn trống ở bên trái nhà nọc mặt trời. Dàn trống ở bên trái nhà nọc cho biết nhà nọc thuộc phía nòng âm thái dương Đoài Chấn.

./Nhà Nòng Không Gian

Giống như ở trống Ngọc Lũ I, mặt trống cũng có hai ngôi nhà nòng không gian mái vòm nhưng khác hình dạng và chi tiết nòng nọc (âm dương) như có 6 chân cột thay vì 4 chân như ở trống Ngọc Lũ I (xem dưới). Số 6 là số Tốn hôn phối với Đoài và cả với Chấn (Tốn đi với Chấn trong Tiên Thiên Bát Quái) cho biết hai ngôi nhà nọc là nhà Đoài và nhà Chấn.

./Cảnh giã chầy cối.

Khác trống Ngọc Lũ I, mặt trống chỉ có một cảnh giã chầy cối và lại ở bên phải một ngôi nhà nọc mặt trời (xem dưới).

clip_image012

Cảnh giã chấy cối ở sát bên trái một nhà nọc mặt trời.

.Vành Chấm-Vòng Tròn Tiếp Tuyến.

Khác với vành chim thú ở trống Ngọc Lũ I, vành số 7 là vành chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn có tiếp tuyến. Chữ chấm vòng tròn có nhiều nghĩa, ở cõi thế gian tiểu vũ trụ, theo phía âm có nghĩa là thiếu âm, nguyên thể của gió Đoài, theo phía dương, có nghĩa là thiếu dương nguyên thể của đất dương Li. Như đã biết, ở đây trống có khuôn mặt Đoài mang tính chủ, vậy vành này có một nghĩa mang tính chủ là Đoài. Còn tiếp tuyến diễn tả chuyển hành, vận hành, sinh động.

Tóm lại vành này cũng cho biết trống có khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ.

.Vành Cò

Vành này có 18 con cò gồm 16 con bay và hai con đứng. Đây là cách diễn tả “cọc cạch” khác biệt so với các trống khác. Trên các trống đồng ta thường thấy hoặc tất cả toàn là chim bay hoặc tất cả toàn là chim đứng. Người làm trống này đã làm sai hay có một ẩn ý gì?

clip_image014

Hình cò bay trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

.Những cò bay.

Cò có mỏ thẳng, to, nhọn, không dài lắm mang dương tính, lửa. Có con mắt dương một vòng tròn-chấm. Bờm hình nọc lửa hơi cong của nhánh âm, có con trong mỏ có dấu hay chữ nọc que có nghĩa tổng quát là nọc, lửa (như thấy ở con đầu tiên ở ba con cò này). Nhưng điểm mấu chốt là tên cò. Ở giữa hai cánh có viết tên cò bằng chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (>) cho biết cò có một khuôn mặt lửa vũ trụ thái dương Càn (giống chữ Càn nọc mũi tên ở khoảng không gian giữa tia sáng có hình thái tứ tượng ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I đã thấy ở trên).

Rõ như hai năm là mười các con cò bay là cò Càn của nhánh âm ngành nọc thái dương. Càn thái dương âm tương đương với Đoài IIO là thái dương của âm.

.Hai con cò đứng

clip_image016

Hai con cò đứng.

Yếu tố chủ chốt là cò đứng trên mặt đất cho biết ngay là cò đất Li và số 2 là số Khảm hôn phối với Li. Đi vào chi tiết ta cũng thấy cò có mỏ ngắn và cong hơn cò bay Càn mang âm tính tức âm của dương, tức thiếu dương Li. Cò cũng có con mắt dương một vòng tròn-chấm có một nghĩa là Li. Bờm con thứ hai hình búa rìu có một biểu tượng cho đất Li. Tên của cò viết ở cổ bằng chữ viết chữ nọc que có một nghĩa là lửa núi trụ thế gian Li.

Trong mỏ một con có đánh dấu nọc que để nhấn mạnh thêm tính nọc lửa núi trụ thế gian Li.

Như thế hai con cò đứng là hai con cò đất, cò đá, cò Li.

Tóm lại vành cò diễn tả hai khuôn mặt Càn-Li. 16 cò bay Càn hôn phối với Chấn theo lưỡng hợp đại vũ trụ thái dương Càn với thái âm Chấn ngành nọc thái dương và 2 con cò đứng trên đất là cò đất Li hôn phối với Đoài theo lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Li với thiếu âm Đoài vũ trụ.

Ta cũng thấy 16 con cò bay với số 16 là số Khôn OOO thế gian tầng 3 (0, 8, 16) có một khuôn mặt Nàng O nước thái âm OO, có Chấn IOO là Chàng I Nước thái âm OO làm đại diện. Hai cò đứng với số 2 là số Khảm OIO tức Nàng O thiếu âm IO, có Đoài IIO là Chàng I thiếu âm IO làm đại diện. Như thế vành 2 chim đứng và 16 cò bay diễn tả hai khuôn mặt Đoài-Chấn của nhánh nòng âm Khôn của trống. Do đó ta thấy tác giả có chủ đích dùng hai con cò đứng chứ không phải là làm sai.

.Các Vành Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-que ở Biên Trống.

clip_image018

Ba vành ngoài biên ở mặt trống Sông Đà (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Ngoài biên trống có ba vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que (‘hoa văn’) gồm hai vành ở ngoài hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương giống như ở trống Ngọc Lũ I. Tuy nhiên ở đây hai vành này kẹp ở giữa vành gồm bốn đoạn hình sóng hình thoi gió chuyển động ở đầu có hai chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm vòng tròn có một nghĩa là dương, mặt trời. Hai dương là thái dương. Hình thoi chuyển động thái dương là gió Đoài thái dương. Đi kèm theo là đoạn hình sóng nước vuông góc Chấn thái dương. Trong khi ở trống Ngọc Lũ I là hai vành chấm-vòng tròn và vòng tròn-chấm có tiếp tuyến (mang nghĩa lưỡng hợp Li-Đoài tiểu vũ trụ). Hai hình thái sóng gió dương thiếu âm Đoài hình thoi và sóng nước dương vuông góc thái âm Chấn ở trên cùng một vành cho thấy rõ đây là dạng liên liệp hay lưỡng hợp cùng một ngành, của thiếu âm với thái âm của hai tộc gió dương Đoài và nước dương Chấn cùng nhánh nòng Khôn cùng ngành nọc dương thái dương.

Lưu ý hình những hình thoi lớn hơn hình sóng nước vuông góc cho thấy khuôn mặt Đoài mang tính chủ.

Như thế khác ở trống Ngọc Lũ I, trống Sông Đà có ba vành này gồm hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa thái dương kẹp ở giữa một vành có hai hình thái sóng hình thoi Gió chuyển động Đoài và sóng cuộn vuông góc nước lửa Chấn ở biên trống thuộc nhánh âm Khôn Đoài-Chấn ngành nọc thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống lưỡng hợp Lang Việt Đoài và Lạc Việt Chấn ngành nòng Thần Nông thái dương.

2. Vùng Nước

Tôi dừng giải đọc ở đây vì chỉ nói tới dịch ở mặt trống.

Tóm Lược

Mặt trống Sông Đà, tổng quát cho thấy trống thuộc nhóm trống Nọc Thái Dương có mặt trời 14 nọc tia sáng thuộc nhánh Nọc Dương Thái Dương giống trống Ngọc Lũ I nhưng chỉ là trống biểu của nhánh nòng âm Đoài Chấn với khuôn mặt Đoài mang tính chủ.

Hai B án Vi ên

Bây giờ ta thử xem có thể chia mặt trống ra làm hai bán viên được không?

Ở đây ta thấy không thể chia ra làm hai bán viên ở dạng nòng nọc (âm dương) vợ chồng đối cực được vì chỉ có một nhóm hai người giã chầy cối ở bên một nhà nọc mặt trời. Nếu là trống có khuôn mặt lưỡng hợp nòng nọc, âm dương đối cực nòng nọc (âm dương), vợ chồng trọn vẹn thì theo đúng nguyên tắc phải có cảnh giã chầy cối ở cạnh hai nhà nòng không gian. Bán viên này có thứ gì thì bán viên kia phải có thứ đó, chỉ khác nhau ở tính nòng nọc, âm dương mà thôi.

Như đã biết trống này chỉ diễn tả một sự liên hiệp của một nhánh nòng âm Khôn gồm hai đại tộc Khôn dương Đoài diễn tả bằng đoạn sóng hình thoi và đại tộc Khôn âm Chấn diễn tả bằng đoạn sóng hình vuông ở biên trống. Như thế mặt trống không thể chia ra hai bán viên nòng nọc (âm dương) đối cực mà chỉ có thể chia ra làm hai bán viên của nhánh nòng khôn thái dương Đoài Chấn gồm hai đại tộc Đoài và Chấn mà thôi.

Như vậy ta chỉ có thể chia mặt trống ra làm hai bán viên không có đối cực nòng nọc:

1. Mỗi bán viên diễn tả nhánh Đoài Chấn đi chung với nhau ở dạng liên hợp Đoài-Chấn và Chấn-Đoài.

2. Một bán viên diễn tả riêng đại tộc Đoài và một bán viên diễn tả đại tộc chấn.

A. Bán Viên Liên Hợp Đoài-Chấn

Theo cách chia bán viên này ta có một bán viên Đoài-Chấn với Đoài mang tính chủ và một bán viên Chấn-Đoài với Chấn mang tính chủ.

Ta lại dùng trống Ngọc Lũ I làm chuẩn. Vì vành này là vành sinh hoạt nhân sinh, con người có khuôn mặt chủ chốt, ta lấy điểm khởi đầu từ con người và vì trống có một nghĩa là đực, dương nên ta khởi đầu đi từ nhóm người hướng về nhà nọc mặt trời. Như vậy ở đây ta chia mặt trống ra làm hai bán viên Đoài-Chấn và Chấn Đoài bằng một đường chia đi ngang qua một điểm ở sau lưng nhóm người hướng về nhà nọc mặt trời và một điểm ở sau nhà nòng không gian.

1. Bán Viên Đoài-Chấn

Bán viên Đoài-Chấn có Đoài mang tính chủ. Vì thế bán viên này chủ chốt khởi đầu là nhóm 3 người Đoài hướng về nhà nọc mặt trời.

clip_image020

Bán viên Đoài-Chấn.

.Thượng Thế

Là một nửa thượng thế đã nói ở trên không có gì khác biệt với nửa thượng thế ở bán viên bên kia. Mặt trời ở đây nhiều hơn 7 nọc tia sáng một chút. Đây là lỗi kỹ thuật vì trống này muộn so với trống Ngọc Lũ I.

.Trung Thế

.Vành nhân sinh

Theo chiều dương ta có lần lượt: nhóm 3 người, dàn trống, nhà nọc mặt trời, 2 người giã chầy cối, nhóm 4 người hướng về nhà nòng không gian và nhà nòng không gian.

-Nhóm 3 người

Số 3 là số Đoài. Đây là nhóm 3 người Đoài cho biết bán viên này là bán viên Đoài.

-Dàn trống

Cả hai nhà đều có dàn trống bốn người đánh trống bên nhà. Như đã biết, dàn trống gắn liền với nhà trống, nhà nọc nhà đực, nhà mặt trời. Ở đây dàn trống để ở phía bên trái phía âm thay vì để ở phía bên phải phía dương như thấy ở các trống như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ… Tại sao? Trống là đực, dương. Dàn trống để ở bên trái chiều âm để cho biết ngôi nhà trống nhà nọc này là của nhánh âm Đoài-Chấn của ngành nọc thái dương mang tính chủ.

-Nhà nọc mặt trời

clip_image022

Nhà nọc mặt trời ở bán viên Đoài-Chấn có hình trống ở góc phải dưới.

Trên nóc mỗi nhà đều có một con chim trĩ như thấy trên trống Ngọc Lũ I tuy nhiên hai con chim trĩ này đều quay mặt về phía tay trái, chiều âm cho biết rõ hai căn nhà nọc mặt trời này thuộc nhánh âm Đoài Chấn (trong khi ở trống Ngọc Lũ I, chim quay về phía tay phải cho biết nhà nọc mặt trời thuộc nhánh dương Li Càn như đã biết).

Ở góc phải, dưới trong nhà để một chiếc trống đồng, trong khi ở ngôi nhà nọc ở bán viên Chấn Đoài không có trống (thay thế bằng một chiếc bình hay chum đựng nước). Trống có một khuôn mặt với không khí, gió Đoài. Trống không. Trống cho biết căn nhà này là căn nhà Đoài. Rất tiếc vì hình quá mờ không rõ trống thuộc loại nào? Đúng lý thì phải là trống loại gió Đoài Nguyễn Xuân Quang III hình lọng vòm trời. Trống xác thực căn nhà này mang dương tính của nhánh Đoài Chấn tức căn nhà Đoài và cũng xác thực bán viên này là bán viên Đoài Chấn với Đoài mang tính chủ.

Giống như trống Ngọc Lũ I, trong nhà có 3 người.

-Cảnh giã chầy cối

Như đã biết hai bán viên chỉ khác nhau là sự có mặt của cảnh giã chầy cối. Bán viên Đoài-Chấn này có, còn bán viên kia không có.

clip_image024

Hai người nam nữ giã chầy vào cối (nguồn: Nguyễn Văn Huyên)

Hai người nam nữ giã chầy cối ở sát cạnh nhà nọc mặt trời (thông thường thì ở phía nhà nòng vì cối là cái, phía nòng âm, nữ) và ở về phía tay phải. Cảnh giã chầy cối để ở phía tay phải tức phía dương cho thấy nhà nọc này có khuôn mặt dương phía nữ Tốn. Tốn có một khuôn mặt hôn phối với Đoài. Một lần nữa cho thấy căn nhà nọc mặt trời này có một khuôn mặt Đoài. Ngoài ra ta cũng thấy nhóm giã chầy cối chỉ có hai người thay vì 3 người như ở trống Ngọc Lũ I. Số 2 là số Khảm OIO, Nàng O thiếu âm IO có Đoài IIO là Chàng I thiếu âm OI làm đại diện.

Lưu ý người nữ trên áo có nhiều chấm nọc dương, lửa, thái dương cho biết người này thuộc phía nữ lửa, thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là phía Nàng Lửa, thái dương thần nữ Âu Cơ tức nhánh Lang Hùng theo mẹ lên núi.

Bán viên bên kia không có cảnh giã chầy cối. Đây là chủ ý của người làm trống.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là các Lang Hùng Vương Đoài theo mẹ Âu Cơ có một khuôn mặt Tốn sinh tạo lên núi. Đây là nhánh Hùng Vương mang khuôn mặt sinh tạo bầu trời, khi gió tức Đoài vũ trụ.

-Nhóm 4 người Chấn.

Nhóm 4 người này hướng về phía ngôi nhà nòng không gian mang âm tính (trong khi nhóm 3 người Đoài hướng về phía ngôi nhà nọc mang dương tính). Số 4 là số chẵn, số âm. Số 4 là số Cấn có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Đất Núi Âu Cơ Cấn hôn phối với Biển Lạc Long Quân Chấn). Như thế nhóm 4 người mang âm tính này là nhóm người Chấn.

Rõ như ban ngày hai nhóm người cho thấy rõ bán viên này là bán viên Đoài Chấn.

-Nhà nòng không gian.

Nhà nòng ở đây cũng vẫn giữ mái vòm hình mu rùa biểu tượng hư không, không gian và mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh ngành nòng.

Mái ở đây trông có hình lõm xuống vì bị cắt bởi đường vành giới hạn của mặt trống, thật ra hình vòm dựa theo hai phần còn lại. Ở đây mái đặc đen mang âm tính.

Nhà nòng ở bán viên Đoài Chấn có nhóm 4 Chấn người hướng về nhà nòng (còn nhóm 3 người Đoài hướng về nhà nọc mặt trời Đoài).

clip_image025

Nhà nòng không gian ở bán viên Đoài-Chấn (nguồn: Phạm Huy Thông).

Xung quanh hai nhà có những sọc nghiêng diễn tả không gian và vòng chấm nọc dương cho biết nhà nòng không gian của nhánh âm ngành nọc thái dương. Cả hai nhà đều không có cửa và người như thấy trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I. Một điểm khác biệt nữa là nhà nòng ở đây có 6 trụ cột thay vì 4 cột như thấy ở trống Ngọc Lũ I.

Như đã biết số 6 là số Tốn hôn phối được cả với Đoài và Chấn, nghĩa là hai ngôi nhà này một ngôi nhà của tộc Đoài và một của tộc Chấn.

clip_image027

Nhà nòng ở bán viên Đoài-Chấn (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ta thấy từ trên xuống, nhà nòng không gian ở bán viên Đoài-Chấn có 3 hàng 5 chấm xen kẽ với 3 hàng 6 sóng chấm-vòng tròn tiếp tuyến. Với hình chuyển động hình sóng nước ta biết ngay là nhà nòng này mang âm tính.

Số 5 chấm là số Li nguyên tạo. Ba hàng 5 chấm vị chi tổng số là 15 chấm. Số 15 là số Càn tầng 2 (7, 15). Vậy những hàng chấm diễn tả hai khuôn mặt Li Càn. Ta thấy Li Càn lưỡng hợp với Đoài chấn.

Còn hàng có 6 chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn tiếp tuyến thì chữ chấm-vòng tròn mang nhiều nghĩa. Ở tầng tạo hóa mang tính nhất sinh tạo vòng tròn nòng-chầm nọc sinh tạo [chính là hình ảnh của bọc trứng vũ trụ, đĩa thái cực, là bọc trứng trăm lang Hùng,  chính là linh tự Ra, thần mặt trời tạo hóa (Sun as Craetor) lưỡng tính của Ai Cập cổ]. Ở tầng lưỡng nghi, ở cực dương chữ nọc vòng tròn là mặt trời, lửa sinh tạo. Ở tầng tứ tượng chữ vòng tròn-chấm theo duy dương là nọc-vòng tròn tức thiếu âm nguyên thể khí gió Đoài vũ trụ và theo duy âm là vòng tròn-nọc tức thiếu dương nguyên thể của Li (xem chương Chữ Nòng Nọc trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Ở đây ta lấy nghĩa Li thay vì Càn vì như đã nói ở trên nhà mang âm tính (Li là thiếu dương OI tức âm O của dương I) và ở dạng sóng nước âm. Số 6 là số Tốn OII. nằm giữa số 5 Li về phía trái, âm và số 7 về phía 7 Càn (5—6—7). Ở đây ở nhà nòng âm nghiêng về phía 5 Li. Ba hàng là 18 chữ chấm-vòng tròn. Số 18 là số Khảm tầng 3 (2, 10, 18). Khảm hôn phối với Li. Như thế các hàng chữ nòng nọc vòng tròn-que cho biết căn nhà nòng này là nhà nòng Li. Ta thấy rất rõ nhà nòng Li hôn phối với nhà nọc Đoài mang tính chủ của bán viên Đoài Chấn. Ăn khớp trăm phần trăm.

Vậy ngôi nhà nòng âm này là nhà Li lưỡng hợp với nhà nọc Đoài.

.Vành Chấm-Vòng tròn có Tiếp Tuyến.

Đã nói ở trên.

.Những Vành Ngoài Biên.

Như đã nói ở trên gồm hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc, thái dương kẹp giữa vành có những đoạn hình thoi Đoài và sóng vuông góc Chấn. Ở bán viên Đoài Chấn này có 9 hình thoi và 13 hình sóng vuông góc.

2. Bán Viên Chấn-Đoài.

Ngược với bán viên Đoài Chấn, bán viên Chấn Đoài này ở vành nhân sinh khởi đầu là nhóm 4 người Chấn hướng về dàn trống, tiếp là nhà nọc rồi tới nhóm 3 người Đoài hướng về ngồi nhà nòng không gian.

clip_image029

Bán Viên Chấn-Đoài.

.Người

Như đã nói ở trên, nhóm 4 người là người đại tộc Chấn.

.Dàn trống

clip_image031

Dàn trống và nhà nọc mặt trời ở bán viên Chấn-Đoài.

Dàn trống để ở bên trái nhà ở bán viên mang tính âm này có một khuôn mặt âm biểu tượng cho sấm mưa Chấn ứng với khuôn mặt sấm mưa Lạc Long Quân (trong khi ở bán viên Đoài Chấn mang dương tính có khuôn mặt sấm dông ứng với Phù Đổng Thiên Vương, hóa thân của Lạc Long Quân).

.Nhà nọc mặt trời

Điểm khác biệt chính yếu là trong ngôi nhà này ở góc dưới bên phải có một vật hình bình đựng biểu tượng cho âm, nước, Chấn ngược với chiếc trống biểu tượng cho Đoài ở bán viên Đoài Chấn ở trên. Sự hiện diện của cái bình này xác thực vững chắc ngôi nhà này là ngôi nhà Chấn và bán viên là bán viên Chấn-Đoài.

.Cành giã chầy cối

Không có.

.Nhóm 3 người.

Đây là nhóm 3 người Đoài.

.Nhà nòng không gian.

Ở bán viên Chấn-Đoài này, nhóm 3 người Đoài hướng về ngôi nhà nòng trước nhà có 4 hàng chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn.

clip_image033

Nhà Nòng Không Gian ở Bán Viên Chấn-Đoài (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Ta thấy nhóm 3 người Đoài mang dương tính nên trước nhà chỉ có các chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm vòng tròn mang dương tính không có tiếp tuyến tạo ra hình sóng nước. Ta biết ngay nhà này mang dương tính trội nghĩa là Càn. Theo suy luận, ta đã thấy ở bán viên Đoài-Chấn có một ngôi nhà nọc Đoài lưỡng hợp với ngôi nhà nòng Li dưới dạng tiểu vũ trụ thiếu âm thiếu dương thì ở bán viên Chấn-Đoài ta suy ra ngay có ngôi nhà nọc Chấn lưỡng hợp với ngôi nhà nòng Càn dưới dạng lưỡng hợp đại vũ trụ thái âm thái dương.

Như đã biết, chữ chấm-vòng tròn có nhiều nghĩa, ở đây ta lấy nghĩa Càn. Ta có hai hàng, mỗi hàng có 6 chữ. Số 6 là số Tốn, âm thái dương, cùng bản thể thái dương với Càn. Hai hàng cộng lại 12, Cấn tầng 2 (4, 12). Cấn đất âm có Li đất dương làm đại diện (số 4 Cấn bước thêm một bước nữa về phía tay phải dương là số 5 Li). Hai hàng còn lại mỗi hàng 7 chữ. Số 7 là số Càn. Hai hàng cộng lại là 14, Tốn tầng 2 (6, 14), Tốn âm thái dương cùng bản thể thái dương với Càn. Bốn hàng vị chi tổng cộng là 26 chữ. Số 26 là số Khảm tầng 4 (2, 10, 18, 26). Khảm hôn phối với Li.

Rõ như ban ngày nhà nòng này là nhà phía dương Càn Li với Càn mang tính chủ.

Đây là ngôi nhà nòng Càn lưỡng hợp với nhà nọc mặt trời Chấn của bán viên Chấn-Đoài.

.Vành Chấm-Vòng tròn có Tiếp Tuyến.

Đã nói ở trên.

.Vành cò bay

ở đây có 8 cò bay.

.Những Vành Ngoài Biên.

Như đã nói ở trên gồm hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc, thái dương kẹp giữa vành có những đoạn hình thoi Đoài và sóng vuông góc Chấn. Ở bán viên Chấn Đoài này có 10 hình thoi và 14 hình sóng vuông góc.

Tóm lại

Trống Sông Đà là trống biểu của nhánh nòng âm thái dương Đoài Chấn thấy rõ qua những đoạn hình thoi thái dương Đoài đi cùng những đoạn sóng nước vuông thái dương Chấn ở ngoài biên trống, ta có thể chia mặt trống ra là hai bán viên của cả nhánh là bán viên Đoài-Chấn với Đoài mang tính chủ và bán viên Chấn-Đoài với Chấn mang tính chủ. Cách phân chia hai bán viên này có thể mang tính cách chính yếu dựa vào hình thái hình thoi Đoài và sống vuông góc Chấn cùng nằm trong một vành.

Bây giờ ta nhìn theo một diện khác nữa là nhìn hai đại tộc Đoài và Chấn riêng rẽ. Nói một cách khác là chia mặt trống ra làm hai bán viên Đoài và Chấn riêng rẽ.

B. Bán Viên Đoài và Bán Viên Chấn Riêng Rẽ.

Cách phân chia này, mặt trống chia ra làm hai bán viên: một bán viên Đoài và một bán viên Chấn riêng rẽ.

Qua bốn nhóm người gồm hai nhóm 3 người và 2 nhóm 4 người, ta có một cách chia nữa là chia ra một bán viên 6 người (2 nhóm 3 người), một bán viên 8 người (2 nhóm 4 người). Ta lấy đường phân chia nối điểm sát sau lưng người cuối cùng của nhóm 3 người hướng về ngôi nhà nòng với một điểm ngay sau lưng người nam giã cối.

Phân chia như thế, ta có hai bán viên: một bán viên có 6 người nhẩy múa và một bán viên có 8 người nhẩy múa. Sự phân chia này thấy cũng có lý nếu ta so sánh tổng số người ở hai bán viên với nhau. Tổng số người ở bán viên có hai nhóm 3 người = 6 người, cộng 4 người đánh trống và hai người giã cối vị chi là 12 người và tổng số người ở bán viên có hai nhóm 4 người = 8 người, cộng thêm với 4 người đánh trống nữa vị chi cũng là 12 người. Cả hai bán viên đều có 12 người như nhau.

Số 12 (12 = 8 + 4) là số Cấn tầng 2. Ta thấy Cấn hôn phối với Đoài thấy trong Tiên Thiên Bát Quái và Cấn hôn phối với Chấn (Mẹ Tổ Âu Cơ Cấn  núi lấy Cha Lạc Long Quân biển Chấn) trong Dịch thế gian thấy trong lá bùa trừ tà của dân gian Việt Nam. Vì tổng số người của hai bán viên là 12 Cấn tầng 2 như thế Cấn hôn phối với khuôn mặt nào mang nhiều dương tính hơn sẽ mang tính trội (vì ở trên trống có một nghĩa là đực, dương). Ta thấy rõ khuôn mặt Đoài mang dương tính nhiều hơn Chấn nên bán viên Đoài có 6 người nhẩy múa là bán viên mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là khuôn mặt nhánh Hùng Lang lên núi theo Mẹ Tổ Âu Cơ mang tính chủ tức nhánh lửa, thái dương nhánh âm Lang Đoài.

a. Bán Viên Đoài 6 Người Nhẩy Múa.

clip_image035

clip_image037

Bán viên Đoài có 6 người nhẩy múa có cảnh giã chầy cối.

Ở vùng đất dương của bán viên 6 người, theo ngược chiều kim đồng hồ, ta có vành sinh hoạt nhân sinh gồm nhóm 3 người, ngôi nhà nòng không gian, nhóm 3 người nữa, dàn trống, nhà nọc mặt trời và cảnh giã chầy cối.

.Người.

-3 người hướng về nhà nòng.

Đây là nhóm người đại tộc Đoài phí âm vì hướng về nhà nòng không gian. Đây là bán viên Đoài thì ngôi nhà nọc mặt trời phải là nhà của đại tộc Đoài tức nhà Đoài và ngôi nhà nòng là nhà Li theo lưỡng hợp Đoài Li ở dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ. Ta suy ra ngay 3 người Đoài hướng về nhà nòng có khuôn mặt Li. Li IOI là thiếu dương OI tứ âm của dương. Rõ ràng nhóm người Đoài này thuộc phía âm.

.Nhà nòng ở bán viên Đoài 6 người.

Như đã nói ở trên, nhà nòng không gian ở bán viên Đoài 6 người là ngôi nhà nòng không gian Li lưỡng hợp với nhà nọc Đoài ở dạng tiểu vũ trụ.

.Ba người sau nhà nòng.

3 người Đoài này hướng về nhà nọc Đoài. Như thế hai nhóm 3 người tức bán viên 6 người nhẩy múa này biểu tượng cho khuôn mặt Đoài của trống.

Bán viên 6 người nhẩy múa là bán viên của tộc Đoài được diễn tả bởi những đoạn sóng hình thoi ở biên trống.

.Dàn trống

Như đã biết, dàn trống ở bên trái nhà nọc mặt trời mang âm tính cho biết nhà nọc là thuộc phía nòng âm. Dàn trống có 4 người.

.Nhà nọc ở bán viên Đoài 6 người.

Ngôi nhà nọc, mặt trời ở bán viên Đoài 6 người nhẩy múa trong có chiếc trống để ở góc phải dưới.

.Giã Chầy Cối

Ở sát nhà nọc, bên phải có cảnh giã chầy cối. Ở bán viên Chấn không có.

.Vành Chấm-vòng tròn có tiếp tuyến.

Đã nói ở trên.

.Vành cò

Có 8 cò bay nguyên con và 1 con cụt đầu (sai lạc kỹ thuật).

.Những vành ngoài biên.

Vành Chấm-Vòng tròn có Tiếp Tuyến.

Đã nói ở trên.

.Những Vành Ngoài Biên.

Như đã nói ở trên gồm hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc, thái dương kẹp giữa vành có những đoạn hình thoi Đoài và sóng vuông góc Chấn. Ở bán viên Đoài Chấn này có 11 hình thoi13 hình sóng vuông góc.

Tóm lại, ở bán viên 6 người nhẩy múa, nhà nọc có cảnh giã chầy cối sat bên phải là bán viên Đoài.

b. Bán Viên Chấn 8 Người Nhẩy Múa.

clip_image039

Bán viên Chấn có 8 người nhẩy múa.

clip_image040

Người trên trống Sông Đà (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Bán viên 8 người này vì không cân xứng ta thấy rõ nửa mặt trời ở đây có hơn 7 nọc tia sáng (theo đúng lý là 7). Bán viên này không có cảnh giã chầy cối, có hơn 9 con cò, trong đó có hai con đứng và hai khúc sóng hình thoi đứt đoạn ở hai bên (lý tưởng thì mỗi bán viên chỉ có một đoạn sóng hình thoi và một đoạn sóng uốn khúc hình vuông). Điểm này cho thấy trống đã hơi muộn.

Người ở Bán Viên Chấn 8 Người Nhẩy Múa.

– 4 người hướng về nhà nòng.

Giống như ở bán viên 6 người, bán viên 8 người chia ra làm 2 nhóm nhỏ: 4 người hướng về nhà nòng và 4 người sau nhà nòng hướng về nhà nọc. Ta thấy nhóm 4 người hướng về nhà nòng Càn (vì nhà ở bán viên kia đã là Li rồi). Ta biết Càn là khuôn mặt lưỡng hợp đại vũ trụ với Chấn (xem dưới). Nên 4 người này mang tính Cấn-Càn-Chấn. Còn nhóm 4 người hướng về nhà nọc Chấn (vì nhà nọc ở bán viên kia đã là Đoài rồi). Ở đây ta có số 4 Cấn tương giao hôn phối với Chấn (Âu Cơ núi Cấn hôn phối với biển Chấn Lạc Long Quân). Nếu tính cả nhóm 8 người thì số 8 là số Khôn OOO tầng 2 nghiêng về khuôn mặt Khôn bầu trời thế gian có khuôn mặt Chấn IOO làm đại diện. Nếu tính theo tổng số người là 12  thì số 12 là Cấn tầng hai (núi Âu Cơ) cũng hôn phối với Chấn (biển, Lạc Long Quân).

Như thế hai nhóm 4 người tức bán viên 8 người nhẩy múa này biểu tượng cho khuôn mặt Chấn của trống. Bán viên 8 người nhẩy múa là bán viên của tộc Chấn được diễn tả bởi những đoạn sóng hình vuông ở biên trống.

Sự phân chia ra làm hai nhóm nhỏ 3 và 4 người cho thấy rõ những người trên trống Sông Đà này thuộc hai tộc Đoài và Chấn thuộc nhánh nọc ngoại Khôn thái dương Chấn Đoài có khuôn mặt chủ là Đoài thái dương. Tóm tắt lại những người này thuộc ngành nòng Chấn Đoài có khuôn mặt Đoài mang tính trội.

Qua hình người cho thấy trống Sông Đà là trống có một khuôn mặt liên hiệp mang tính chủ của thiếu âm và thái âm nhánh nòng Khôn thái dương Đoài-Chấn (Thần Nông thái dương). Nói về dòng tộc là trống liên bang liên hiệp hai tộc thiếu âm Gió dương và thái âm Nước dương ngành nòng Khôn thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là liên bang Lang Việt và Lạc Việt ngành Thần Nông thái dương.

Nhà ở bán viên 8 người nhẩy múa.

Tổng quát tương tự như nhà nọc ở phía bán viên 6 người chỉ khác các chi tiết.

Trong nhà, ở góc phải dưới, có một vật đựng nước trông như một chiếc bình, chum, lớn mang âm tính cho biết rõ căn nhà này có khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Như đã biết bán viên này có một yếu tố then chốt là không có cảnh giã chầy cối mà chỉ có dàn trống để sát bên trái nhà. Dàn trống để bên trái mang âm tính cho biết là trống có một khuôn mặt Chấn sấm mưa. Như thế dàn trống chỉ cho biết nhà nọc có một khuôn mặt Chấn.

Tóm lại nhà nọc ở bán viên Chấn 8 người nhẩy múa có một khuôn mặt chủ là nhà nọc của tộc Chấn.

.Vành Chấm-Vòng tròn có Tiếp Tuyến.

Đã nói ở trên.

.Vành cò bay

ở đây có 7 cò bay và 2 cò đứng.

.Những Vành Ngoài Biên.

Như đã nói ở trên gồm hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc, thái dương kẹp giữa vành có những đoạn hình thoi Đoài và sóng vuông góc Chấn. Ở bán viên Chấn Đoài này có 10 hình thoi14 hình sóng vuông góc.

Tóm tắt lại:

Mặt trống từ tâm trống ra ngoài biên ta có: Thượng Thế là mặt trời 14 nọc tia sáng Tốn. Tốn có thể hôn phối với Đoài và Chấn. Không gian có vỏ là vành nét nhỏ bao quanh bởi một vành trống không nghiêng về khí gió Đoài vũ trụ mang tính chủ. Các khoảng không gian tứ tượng và các vành tứ hành sinh động mang nghĩa sinh tạo. Vùng đất dương có vành chủ yếu là sinh hoạt nhân sinh. Người thuộc hai tộc Đoài vũ trụ và Chấn. Nhà nọc mặt trời cũng là nhà Đoài-Chấn lưỡng hợp với hai nhà nòng không gian Li-Càn. Vùng đất âm có vành cò 16 cò bay Khôn Càn. Càn hôn phối với Chấn ở dạng hôn phối đại vũ trụ và 2 cò đứng Khảm-Li. Li hôn phối với Đoài ở dạng hôn phối tiểu vũ trụ. Ba vành ngoài biên trống diễn tả liên hiệp Đoài-Chấn thái dương. Như thế tất cả các yếu tố trên mặt trống đều diễn tả một khuôn mặt liên hiệp Đoài-Chấn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là liên hiệp của hai tộc Lang Việt và Lạc Việt của ngành Thần Nông thái dương.

Dịch Trên Trống Sông Đà.

1. Dịch Tiên Thiên Sông Đà Đoài-Chấn Liên Hợp.

Theo cách phân chia mặt trống ra làm hai bán viên Đoài-Chấn với Đoài mang tính chủ và bán viên Chấn-Đoài với Chấn mang tính chủ, ta đi tìm dịch Sông Đà chung cho nhánh Đoài Chấn tức Đoài-Chấn liên hợp.

Vì là liên hợp ta lấy các quẻ ba vạch (trigrams) ở cả hai bán viên. Bốn quẻ ba vạch (trigrams) chính ứng với tứ tượng dương ta chọn ở bán viên mang tính dương Đoài-Chấn còn bốn quẻ ba vạch ứng với tứ tượng âm, ta chọn ở bán viên âm Chấn-Đoài.

Bốn quẻ ba vạch ứng với tứ tượng dương ở bán viên Đoài Chấn:

clip_image041

Bán viên của nhánh Đoài Chấn.

Vì Đoài mang tính chủ ta để Đoài trên hết:

. Đoài

3 người trong nhà ở bán viên Đoài-Chấn có một người đáng trống vũ trụ diễn tả Đoài.

Số 3 là số Đoài.

Tiếp đến là Chấn đi cùng nhánh với Đoài.

.Chấn

1 con chim trĩ quay về phía trái, âm trên nóc nhà nọc mặt trời ở bán viên Đoài Chấn.

Tiếp tới là Li lưỡng hợp vời Đoài ở dạng hôn phối tiểu vũ trụ.

.Li

Ở bán viên dương Đoài Chấn này có 13 hình sóng vuông góc (trong khi ở bán viên Chấn-Đoài có 14).

clip_image042

13 hình sóng nước vuông góc ở bán viên Đoài Chấn.

Số 13 là số Li tầng 2 (5, 13).

.Càn

Ta có hai số 7 là 7 nọc tia sáng và 7 người. Số 7 là số Càn. Ở đây ta chọn 7 nọc tia sáng vì là dịch Tiên Thiên còn 7 người thuộc cõi nhân gian ta dành cho dịch Hậu Thiên.

Bốn quẻ ba vạch ứng với tứ tượng âm ở bán viêm âm Chấn-Đoài.

.Cấn

4 người đánh trống ở bán viên Chấn-Đoài. Cấn hôn phối với Chấn (Âu Cơ Cấn lấy Lạc Long Quân Chấn).

.Tốn

14 hình sóng cuộn vuông góc ở bán viên Chấn Đoài. Số 14 là số Tốn tầng 2 (6, 14).

clip_image043

14 hình sóng cuộn vuông góc ở bán viên Chấn-Đoài.

Tốn có một khuôn mặt hôn phối với Đoài (vì ta đã thấy ở trên, Cấn đã hôn phối với Chấn).

.Khảm

clip_image033[1]

26 chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn trước nhà nòng ở bán viên nhánh Chấn-Đoài.

Ở nhóm Chấn Đoài ta thấy có 26 chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn. Số 26 là số Khảm tầng 4 (2, 10, 18, 26).

.Khôn

8 con cò bay ở bán viên Chấn Đoài.

Như thế ta có một Dịch Tiên Thiên Sông Đà Đoài-Chấn liên hợp của cả nhánh Đoài-Chấn.

clip_image045

2. Dịch Hậu Thiên Sông Đà Đoài-Chấn Liên Hợp.

Như đã biết Hậu Thiên bát quái có sự tương giao hỗn hợp theo máu mủ là con trai Đoài (Hùng Vương )-cha Chấn (Lạc Long Quân) và con gái Cấn (Hoàng Hậu Hùng Vương ) với mẹ Tốn (Âu Cơ) (xin nhắc lại Hậu Thiên Bát Quái Việt dịch trong đó Cấn bắt cặp với Tốn thay vì Khôn bắt cặp với Tốn như trong Hậu Thiên bát quái Văn Vương) và hôn phối vợ chồng giữa Càn-Khôn và Li-Khảm.

Qua các đoạn hình thoi Đoài đi đôi cùng trong một vành với các sóng vuông góc Chấn cho thấy có tương giao khắng khít giữa Đoài và Chấn như thế trống này có một thứ dịch Hậu Thiên. Vì dịch Hậu Thiên ngả về phía nòng âm ta lấy các quẻ ba vạch mang tính nòng âm như Đoài, Chấn, Cấn Tốn bán viên mang tính âm Chấn Đoài và các quẻ ba vạch (trigrams) mang tính dương Càn, Li ở cả hai bán viên vì có hôn phối vợ chồng.

-Những cặp tương đồng ruột thịt thuộc phía nòng âm, ta chọn ở bán viên mang âm tính Chấn-Đoài.

Đoài-Chấn

. Đoài

3 người trong nhà nọc Chấn ở bán viên mang tính âm Chấn Đoài.

.Chấn

1 chim trĩ trên nhà nọc Chấn ở bán viên âm Chấn Đoài.

Cấn-Tốn

.Cấn

4 người đánh trống ở sát nhà nọc Chấn ở bán viên âm Chấn Đoài.

.Tốn

14 sóng vuông góc ở bán viên âm Chấn-Đoài.

-Những cặp hôn phối vợ chồng có thể lấy ở cả hai bán viên mang tính nòng nọc (âm dương) khác nhau và những cặp Li-Khảm và Càn-Khôn này thuộc phía nọc dương ta lấy ở bán viên mang dương tính Đoài-Chấn:

.Li-Khảm

.Li

13 sóng vuông góc ở bán viên dương Đoài-Chấn.

.Khảm

18 hình chấm-vòng tròn có tiếp tuyến trước nhà nòng không gian ở bán âm Đoài-Chấn, Số 18 là số Khảm tầng 3 (2, 10, 18).

clip_image027[1]

Nhà nòng ở bán viên Đoài-Chấn.

Càn-Khôn

.Càn

7 người ở bán viên dương Đoài-Chấn (như đã nói ở trên, 7 nọc tia sáng đã dùng trong dịch Tiên Thiên).

.Khôn

8 cò bay ở bán viên Đoài Chấn (hay ở bán viên Chấn Đoài) hay 24 chữ chấm-vòng tròn ở ngôi nhà nòng Càn ở bán viên Chấn-Đoài. Số 24 là số Khôn tầng 4 (0, 8, 16, 24).

Ta có một dịch Hậu Thiên Sông Đà Đoài-Chấn liên hiệp của cả nhánh Đoài Chấn.

clip_image047

3. Dịch Tiên Thiên Đoài Sông Đà ở Bán Viên Đoài.

clip_image048

Bán viên Đoài có 6 người nhẩy múa.

Vì là dịch của đại tộc Đoài nên ta chỉ lấy các quẻ ba vạch (trigrams) ở bán viên Đoài mà thôi.

Bốn quẻ ba vạch ứng với tứ tượng dương.

Vì Đoài mang tính chủ ta để quẻ ba vạch Đoài lên trên hết.

.Đoài

3 người trong nhà nọc Đoài của bán viên Đoài. Số 3 là số Đoài.

.Chấn

1 chim trĩ quay về phía trái âm trên nóc nhà nọc Đoài của bán viên Đoài.

.Li

13 sóng cuộn vuông góc ở biên trống của bán viên Đoài. Số 13 là số Li tầng 2 (5, 13).

.Càn

7 nọc tia sáng mặt trời của bán viên Đoài.

Bốn quẻ ba vạch (trigrams) ứng với tứ tượng âm:

.Cấn

4 người đánh trống bên nhà nọc Đoài của bán viên Đoài.

.Tốn

6 người nhẩy múa Tốn của bán viên Đoài.

.Khảm

2 người giã chầy cối của bán viên đoài.

.Khôn

8 con cò bay (con cò cụt đầu loại ra coi như lỗi kỹ thuật).

Ta có dịch Tiên Thiên Đoài Sông Đà (của Đại Tộc Đoài).

clip_image050

Dịch Tiên Thiên Đoài Sông Đà.

4. Dịch Hậu Thiên Đoài Sông Đà ở Bán Viên Đoài.

.Đoài-Chấn

1 chim trĩ Chấn-3 người ở nhà nọc Đoài.

.Cấn-Tốn

4 người đánh trống Cấn-6 người nhẩy múa Tốn ở bán viên Đoài.

.Li-Khảm

13 sóng vuông góc Li-2 người giã chầy cối ở bán viên Đoài.

.Càn-Khôn

7 nọc tia sáng Càn-8 cò bay ở bán viên Đoài.

Ta có dịch Hậu Thiên Đoài Sông Đà.

clip_image052

5. Dịch Tiên Thiên Chấn Sông Đà ở Bán Viên Chấn.

Tứ tượng dương:

Dịch ở bán viên Chấn ta để Chấn trên hết

.Chấn

1 chim trĩ trên nóc nhà nọc Chấn ở bán viên Chấn.

Đoài

3 người trong nhà nọc Chấn.

Li

2 chim đứng trên đất. Đất là Li và số 2 là Khảm. Hai cò đứng diễn tả Li-Khảm. Ở đây người làm trống cố tình làm hai con cò đứng trên mặt đất để diễn tả khuôn mặt Li qua trung gian hôn phối với Khảm 2. Đây là một trống hơi muộn nhưng cũng cho thấy dịch Tiên Thiên Chấn Sông Đà là thứ yếu.

Càn

7 nọc tia sáng.

Tứ tượng âm:

Cấn

4 người đánh trống,

Tốn

14 sóng cuộc góc vuông ở biên trống. Số 14 là số Tốn tầng 2 (6, 14).

Khôn

8 người nhẩy múa.

Ta có dịch Tiên Thiên Chấn Sông Đà. Như đã nói có một khiếm khuyết ở quẻ ba vạch Li nên dịch này không hoàn hảo.

6. Dịch Hậu Thiên Chấn Sông Đà ở bán viên Chấn..

Theo duy dương và cặp Đoài Chấn là chủ chốt vì Đoài mang tính chủ ta để quái Đoài lên trên hết:

. Đoài-Chấn

1 chim trĩ-3 người trong nhà nọc Chấn.

.Cấn-Tốn

4 người đánh trống Cấn-14 sóng vuông góc Tốn ở bán viên Chấn.

.Li-Khảm

2 cò đứng diễn tả Khảm-Li.

.Càn-Khôn

7 nọc tia sáng-8 người nhẩy múa.

Ta có dịch Hậu Thiên Chấn Sông Đà của đại tộc Chấn. Cũng như Tiên Thiên quái Li thấy qua trung gian hôn phối với Khảm 2 cò đứng, dịch này cũng không hoàn hảo.

Tóm lại trống Sông Đà có ít nhất ba nhóm dịch chính là dịch liên hợp của cả nhánh Đoài-Chấn, dịch của đại tộc Đoài và đại tộc Chấn riêng rẽ.

Kết Luận

Ta thấy rất rõ trống Sông Đà cùng nhóm trống lửa thái dương với trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng của nhánh nọc dương thái dương [có hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương] nhưng ba vành ngoài biên trống diễn tả những đoạn sóng liên hiệp Đoài-Chấn nọc dương thái dương. Trống Sông Đà mang một khuôn mặt liên hiệp hay lưỡng hợp tương đồng cùng nhánh thiếu âm-thái âm của ngành mặt trời thái dương Khôn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là liên hiệp của hai tộc Lang Việt và Lạc Việt, ứng với hai đại tộc mặt trời thái dương thiếu âm Nông và thái âm Thần của ngành thái dương Thần Nông của họ Bách Việt Thần Nông-Viêm Đế.

Xin nhắc lại số 14 là số Tốn tầng 2 (6, 14). Tốn OII là âm thái dương. Theo duy dương, số 14 bước thêm một bước nữa về phía tay phải, phía dương là số 15, số Càn 15 tầng 2 (7, 15), là lửa thái dương, lửa vũ trụ, lửa trời. Theo duy âm, số 14 lùi một bước về phía trái, phía âm là số 13, số Li tầng 2 (5, 13), lửa thiếu dương. Ngoài ra Tốn 14 gió âm còn có gió dương Đoài làm đại diện (con Hùng Vương Đoài đại diện cho mẹ Âu Cơ Tốn) và hôn phối với Chấn (Âu Cơ Tốn hôn phối với Chấn Lạc Long Quân ở cõi sinh tạo). Tóm lại nhóm trống có mặt trời 14 nọc tia sáng có những khuôn mặt chính là tương đồng bản thể thái dương, thiếu dương lửa là Càn Li và hôn phối với thái âm, thiếu âm Đoài Chấn ngành thái dương. Trống Ngọc Lũ I diễn tả một khuôn mặt Càn Li, ở đây, trống Sông Đà này diễn tả khuôn mặt Đoài Chấn của nhánh nọc dương thái dương.

Ngoài ra trống Sông Đà thuộc nhánh nọc dương thái dương này còn khác với trống Cổ Loa I cùng nhóm trống có mặt trời 14 nọc tia sáng cũng diễn tả Đoài Chấn nhưng thuộc nhóm nọc âm thái dương (thấy qua hai vành thanh thang hay đường rầy ngoài biên trống). Như thế cần phải lưu tâm phân biệt là trong một ngành như ngành lửa thái dương có mặt trời 12 nọc tia sáng, ta có hai nhánh ở hai phía nòng nọc (âm dương) là nọc dương thái dương như trống Ngọc Lũ I, Sông Đà và nhánh nọc âm thái dương như trống Cổ Loa I. Rồi trong cùng một nhánh cũng phân ra hai phía nòng nọc (âm dương) như trong nhánh nọc dương thái dương có nhóm dương Càn Li Ngọc Lũ I và nhóm âm Đoài Chấn Sông Đà và tiếp tục xuống đại tộc, tộc, chi cũng thế.

Về dịch học trống Sông Đà cùng nhóm với trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống lửa thái dương 14 nọc tia sáng. Như đã biết trống Ngọc Lũ I diễn tả một loại dịch mang tính chủ Tiên Thiên bát quái cho cả họ người vũ trụ và cho ngành nọc lửa thái dương Càn Li vì trống này có hai bán viên đối xứng nòng nọc (âm dương) trọn vẹn, diễn tả trọn vẹn vũ trụ tạo sinh, có cảnh nhân sinh sinh hoạt, có người vũ trụ đội trang phục đầu bầu nậm nòng nọc (âm dương) mang tính tạo hóa, vũ trụ và có họa tiết tứ tượng (hiện gọi lầm là lông công). Ở đây trống Sông Đà mặc dù cùng nhóm trống với trống Ngọc Lũ I nhưng mặt trống không đối xứng trọn vẹn (ở một bán viên thiếu cảnh giã chấy cối) nên mặc dù cũng có các khoảng không gian có hình thái tứ tượng và các vành tứ hành sinh động diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh mang nghĩa sinh tạo, tạo hóa nghĩa là cũng có dịch Tiên Thiên nhưng chỉ là dịch Tiên Thiên của một nhánh, một đại tộc, nói một cách khác là một thứ Tiên Thiên bát quái mang tính cách ‘cục bộ, của riêng từng nhánh, từng đại tộc. Ngoài ra trống là trống thế gian (có số nọc tia sáng lớn hơn 8) và diễn tả một nhánh, một đại tộc nên cũng có dịch Hậu Thiên. Khuôn mặt Hậu Thiên có thể là khôn mặt chính của trống vì trống diễn tả riêng một nhánh Đoài-Chấn, riêng một đại tộc Đoài mang tính chủ. Riêng dịch Tiên Thiên Chấn và Hậu Thiên Chấn Sông Đà có vẻ không hoàn chỉnh và mang tính phụ. Điều này cũng dễ hiểu vì Đoài mang tính chủ và Chấn chỉ là khuôn mặt thứ yếu. Nếu muốn ta có thể không cần kể tới.

Một lần nữa cho thấy các trống có mặt trời có cùng số nọc tia sáng như nhau nhưng diễn tả các khuôn mặt dịch khác nhau tùy theo trống diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh của toàn chủng hay chỉ của một ngành, một nhánh, một hai đại tộc hay tộc tức trống chỉ là trống biểu của một ngành, nhánh, một đại tộc, một tộc. Ví dụ nhóm trống nọc thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng có các trống như trống Ngọc Lũ I, Sông Đà, Cổ Loa I… mỗi trống diễn tả một thứ dịch khác nhau tức là trống biểu của chủng, ngành, đại tộc, tộc khác nhau của cùng nhóm trống nọc dương thái dương hay nọc âm thái dương của ngành mặt trời nọc thái dương.

Ngoài ra ta cũng rút ra được một nhận xét là qua các trống Ngọc Lũ I, trống Hoàng Hạ, Cổ Loa I, Sông Đà…, tất cả đều có vành nhân sinh và đều có dịch nhất là dịch Hậu Thiên thì ta có thể lập ra một hệ luận sau đây:

Tổng quát khi nhìn vào bất cứ một trống nào có cảnh sinh hoạt nhân sinh thì trống đó thường diễn tả một thứ dịch, ít ra cũng có dịch Hậu Thiên.

Tóm lại trống Sông Đà có hai nhóm dịch hoàn chỉnh là nhóm dịch Tiên Thiên và Hậu Thiên Sông Đà Đoài-Chấn liên hợp và nhóm dịch Tiên Thiên và Hậu Thiên Sông Đà Đoài mang tính nọc dương thái dương của ngành nọc thái dương, đối ngược với các nhóm dịch trên trống Ngọc Lũ I cùng nhóm nọc dương thái dương cùng ngành nọc thái dương. Trống đã hơi muộn nên cách diễn tả dịch không còn theo qui ước chính thống như ở trống Ngọc Lũ I.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: