VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐỒNG SƠN (4): DỊCH ĐỒNG ĐỒNG SƠN SỬ TRUYỀN THUYẾT VIỆT TRÊN TRỐNG HOÀNG HẠ.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(4)

 NHÓM TRỐNG THÁI ÂM NHÁNH NỌC DƯƠNG THÁI DƯƠNG

DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN HOÀNG HẠ QUA SỬ TRUYỀN THUYẾT VIỆT TRÊN.

Nguyễn Xuân Quang

Tổng quát

Nhìn tổng thể trống Hoàng Hạ về hình thể là Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) và về nội dung mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, dịch lý dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương). Mọi chi tiết lớn nhỏ đều diễn tả bằng hình, dấu, chữ nòng nọc vòng tròn-que giống như trống Ngọc Lũ I. Tuy nhiên hai trống khác nhau về chi tiết nòng nọc (âm dương). Sau đây là vài điểm khác biệt thấy giới hạn trên mặt của hai trống (nơi có dịch Sử Truyền Thuyết Việt ngành nọc dương):

-Trống Ngọc Lũ I ở bán viên dương có một nhóm 7 người nhẩy múa, người cuối cùng có trang phục đầu hình quả bầu nậm cho biết người thuộc chủng Người Vũ Trụ. Vì thế trống diễn tả nòng nọc, âm dương mang tính cách đề huề hơn mặc dù chính yếu vẫn là phía dương của ngành nọc dương thái dương mang tính chủ. Trong khi trống Hoàng Hạ diễn tả chủ yếu nghiêng hẳn về phía nọc âm thái dương.

-Ở trống Hoàng Hạ cả hai nhóm đều có 6 người mang âm tính thái dương với trang phục đầu hình đầu chim có đường nét cong, tròn mang âm tính, phía trước trán có cặp sừng cong mang tính thái dương âm, tay cầm gậy biểu, khí biểu, nhạc cụ cũng có nét cong tròn mang âm tính.

clip_image002

Hai nhóm 6 người nhẩy múa trên trống Hoàng Hạ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Trong khi ở trống Ngọc Lũ I có đường nét thẳng, có góc cạnh mang dương tính, trước trán có sừng thẳng đứng mang tính thái dương dương. Rõ hơn nữa trên đầu người cuối cùng của mỗi nhóm 6 người nhẩy múa này có «phụ đề» hình chim nông bay xác thực hai nhóm người này thuộc phía nòng Khôn.

-Vành giới hạn: trống Hoàng Hạ có vành giới hạn trống không mang âm tính trong khi trống Ngọc Lũ I có những vành giới hạn có nọc chấm mang dương tính.

-Nhà Nòng không gian.

Ở trống Hoàng Hạ nhà nòng có hình dạng khác nhau. Trên nóc một nhà nòng có hai con chim trông giống hai con gà.

-Cảnh giã chầy cối

Ở trống Hoàng Hạ nằm ở bên phải nhà nòng, trên có hình chim bay.

-Nhà nọc mặt trời

Trong nhà có ba người như ở trống Ngọc Lũ I nhưng, ở trống này thấy rõ hơn ở trống Ngọc Lũ I. Lò lửa có ống thông lên nhà thấy rõ hơn.

-Vành sóng xoắn chữ S kép có nọc thái dương cho thấy rõ trống thuộc về phía nòng Khôn thái âm nước Chấn ngành nọc thái dương. Vành này tương đương với vành hươu-chim nông ở trống Ngọc Lũ I.

– Ở ngoài cùng mặt trống Hoàng Hạ có vành 14 con cò bay mang tính Tốn (số 14 là số Tốn tầng 2: 6, 14) hôn phối với Đoài, khuôn mặt dương của nhánh nọc âm thái dương. Trong khi ở trống Ngọc Lũ I có vành 18 cò bay và 18 chim đứng. Số 18 là số Khảm tầng 3 (2,10,18) hôn phối với Li, khuôn mặt âm của nhánh nọc dương thái dương.

……

Ở đây nói về Dịch Sử Truyền Thuyết Việt trên trống đồng nòng nọc Hoàng Hạ nên chỉ xin nhặt ra các yếu tố ở mặt trống liên quan tới dịch này mà thôi.

Qua các bài giải đọc trống Hoàng Hạ, chúng ta đã biết:

Trống có mặt trời rạng ngời với 16 nọc tia sáng chói chang. Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) mang tính sinh tạo cõi trên vùng đất âm. Như thế trống Hoàng Hạ thuộc nhóm trống Khôn âm, nước thái âm ngành nọc thái dương, thế gian (trong khi trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống Càn, lửa dương thái dương có mặt trời14 nọc tia sáng).

Lưu Ý

Xin nhắc lại 64 quẻ ba vạch (trigrams) chia ra làm 8 chuỗi (sequences) hay 8 tầng (tiers). Bốn tầng trên (là dương) từ 0 tới 31 thuộc về thế giới dương và bốn tầng dưới (dưới là âm) từ 32 tới 64 thuộc thế giới cõi âm (hướng dần về cõi chết). Ta thấy rõ 4 tầng cõi dương khởi đầu từ 0 và 4 tầng cõi âm khởi đầu từ số 32. Số 0 và 32 đều là số Khôn (số Khôn trong 8 tầng là 0, 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56, 64) đều có giá trị trong dịch như nhau chỉ khác tính nòng nọc (âm dương). Điểm này thấy rõ trong nhiệt học, ta có 0 độ C (Celcius, bách phân) = 32 độ F (Farenheit). Các số ứng với các quẻ ba vạch ở các tầng khác nhau có tính nòng nọc (âm dương) và ở các tầng của sinh tạo khác nhau. Ví dụ như ở đây nói về số Khôn. Bốn tầng trên, tầng đầu của 64 quẻ: O là Khôn tầng 1 ứng với sinh tạo cõi tạo hóa; 8 Khôn tầng 2 ứng với sinh tạo cõi trên vùng đất dương; 16 Khôn tầng 3 ứng với sinh tạo cõi trên vùng đất âm và Khôn 24 tầng 4 ứng với  tầng sinh tạo vùng nước. Vì thế những trống đồng nòng nọc (âm dương) có mặt trời có nọc tia sáng nhỏ hơn hay bằng 7, tôi gọi là trống vũ trụ, tạo hóa và những trống đồng nòng nọc (âm dương) có mặt trời có nọc tia sáng lớn hơn 8 hay bằng 8 tôi gọi là trống thế gian.

Trống Hoàng Hạ mang tính sinh tạo tầng 3 ở cõi trời vùng đất âm, mang âm tính nhiều hơn nghiêng về Khôn âm tức thái âm nước (vì thế mà trống Hoàng Hạ mới có một vành sóng xoắn chữ S kép nước dương.

Hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) ở ngoài biên trống có nghĩa là nọc dương thái dương sinh động… xác thực là trống này là trống thuộc ngành nọc dương thái dương. Trống Hoàng Hạ là trống biểu của nhánh mặt trời nọc âm thái dương thế gian thuộc ngành mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết, cổ sử Việt, trống Hoàng Hạ là trống biểu của ngành Người Mặt Trời Nọc Âm Thái Dương rạng ngời Bách Việt thuộc chủng người vũ trụ Thần Nông-Viêm Đế. Ở cõi thế gian ứng với họ Mặt Trời Hồng Bàng, ở cõi lịch sử là nhánh Lạc Long Quân.

Trống Hoàng Hạ và trống Ngọc Lũ I là hai trống đối cực nòng nọc (âm dương) của nhánh nọc  dương thái dương. Như vậy ta có thể dựa vào trống Ngọc Lũ I để giải đọc trống Hoàng Hạ cho chính xác, nhất là khi gặp các yếu tố mơ hồ hay sai sót kỹ thuật và ngược lại.

Cũng vì thế mà ta có thể suy ra ngay dịch Sử Truyền Thuyết Việt trên trống Hoàng Hạ đối ngược nòng nọc (âm dương) với dịch Sử Truyền Thuyết Việt trên trống Ngọc Lũ I trong nhánh nọc dương thái dương .

.Bây giờ ta tìm các quẻ (quái) ba vạch ứng với Sử Truyền Thuyết Việt qua trung gian các con số lấy theo nghĩa nhị nguyên trên trống Hoàng Hạ.

Như đã biết, trống nhóm Khôn nước thái dương mặt trời có số nọc tia sáng là số Khôn (8, 16, 24, ở đây là 16) có những khuôn mặt chính là có:

-Nàng O Nước OO Khôn có khuôn mặt Chàng Nước Chấn đại diện.

-Khôn hôn phối với Càn theo diện càn khôn nòng nọc (âm dương) đối cực. Vì thế trống Khôn thế gian có mặt trời 16 nọc tia sáng này mặt trống mơi có 15 vành với số 15 là số Càn thế gian (7, 15).

Ở ngành nọc dương thì Chấn hôn phối với Càn theo hôn phối đại vũ trụ thái âm Chấn với thái dương Càn.

-Khôn có Khôn dương là thiếu âm (dương I của âm O là IO, thiếu âm) Đoài vũ trụ khí gió và Khôn âm là thái âm (âm O của âm O là OO, thái âm) Chấn Nước.

Như thế nhóm trống có mặt trời số Khôn (thường thấy là 8, 16) có những khuôn mặt chính là Chấn, Đoài vũ trụ khí gió, Càn. Ta thấy rõ Khôn 16 bước thêm một bước nữa về phía phải dương là  17, Chấn và lùi một bước về phía trái là số 15 Càn.

Nguyên tắc chọn lựa các yếu tố dịch.

Nguyên tắc là phải chọn lựa các yếu tố mang tính:

.nọc thái dương

Trống Hoàng Hạ là trống thuộc ngành nọc thái dương (hai vành ngoài biên là hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương nên các yếu tố dịch phải mang tính thái dương chuyển động, sinh động như người-chim mặt trời, chim (cò, nông, trĩ). Ở phía tứ tượng dương các chim phải mang dương tính, đực, thái dương và ở phía tứ tượng âm phải là nọc âm mang tính thái dương.

Ở trống Hoàng Hạ thuộc nhóm trống nọc âm thái dương này có vành sóng nước cuộn thái dương thay thế cho vành thú hươu nai-chim nông ở trống Ngọc Lũ I nên ta cũng có thể chọn những hình sóng cuộn dương chuyển động thay cho các thú hươu.

.mang tính thế gian.

Nét chính của trống thế gian là vành sinh hoạt nhân sinh và vành sóng cuộn thái dương.

.dựa vào ba khuôn mặt chính Chấn, Đoài vũ trụ khí gió và Càn.

.Vì trống thuộc ngành nòng Khôn thái dương nên các khuôn mặt tứ tượng âm ta phải lựa ở phía nòng âm thái dương trong khi ở trống Ngọc Lũ I chúng ta lựa ở phía nọc âm thái dương.

.Phải chọn con số mang yếu tố dịch thích ứng với từng loại dịch. Phải chọn các yếu tố dịch mang tính sinh tạo, tạo hóa cho Tiên Thiên bái quái và các yếu tố dịch mang tính thế gian cho Hậu Thiên bát quái.

.Ở dịch Tiên Thiên, vì các cặp quẻ ba vạch hôn phối dạng vợ chồng và nếu mặt trống có hai bán viên đối ứng nòng nọc (âm dương) trọn vẹn với nhau ta chọn những các quẻ ba vạch ứng với tứ tượng dương ở bán viên dương và các quẻ ba vạch ứng với tứ tượng âm bán viên âm.

Ở dịch Hậu Thiên có sự hôn phối hỗn hợp tương đồng ruột thịt cha con trai, mẹ con gái và vợ chồng. Hai cặp chủ chốt trong Hậu Thiên là cặp Đoài-Chấn theo con trai với cha (Hùng Vương với Chấn Lạc Long Quân) và cặp Cấn-Tốn theo con gái với mẹ (Hoàng Hậu Hùng Vương với Âu Cơ). Ta thấy rõ Hậu Thiên nghiêng về phía nòng âm Khôn Đoài Chấn nên ta chọn các cặp mang âm tính là Đoài Chấn và Cấn-Tốn tức theo hôn phối con trai-cha và con gái-mẹ ở bán viên âm còn các cặp Li-Khảm, Càn-Khôn theo hôn phối chồng vợ, ta có thể chọn ở cả hai bán viên dương và âm.

Bây giờ ta đi tìm các thành tố dịch căn bản là thái cực, lưỡng nghi (nòng nọc, âm dương), tứ tượng, bát quái (4 tượng dương và 4 tượng âm) của dịch ứng với Sử Truyền Thuyết Việt diễn tả qua các con số trên trống Hoàng Hạ. Ở đây ít tinh thế, ít phức tạp hơn, có thể ít chính thống hơn so với trống Ngọc Lũ I. Các yếu tố nòng nọc, một phần cũng vì tính nòng nọc (âm dương) đối ngược nhau, diễn tả và sắp đặt khác với trống Ngọc Lũ I. Ta không thể lấy rập theo khuôn mẫu của trống Ngọc Lũ I một cách máy móc.

clip_image004

(Nguồn: Nguyễn Văn Huyên, Hà Thúc Cần, The Bronze Đông Sơn Drums).

clip_image006

Mặt trống Hoàng Hạ (nguồn: Phạm Huy Thông, The Dongson Drums in VietNam).

. Thái cực

Vỏ trứng vũ trụ bao quanh mặt trời-không gian ở trống Hoàng Hạ dầy đậm mang âm tính trong khi ở trống Ngọc Lũ I vỏ rất mỏng mang tính dương, cho biết trứng vũ trụ, thái cực nghiêng về phía nòng âm.

. Lưỡng nghi

Ví dụ điển hình là ở ngoài cùng mặt trống Hoàng Hạ có hai vành: vành sóng cuộn mang tính nước dương, chuyển đông, dương thái âm Chấn (Chàng Nước Lạc Long Quân) và vành 14 con cò bay. Số 14 là số Tốn tầng 2 (6, 14) là số âm thái dương (Nàng Lửa Âu Cơ). Hai vành này diễn tả hôn phối nước lửa nòng nọc (âm dương).

Nhìn tổng quát ta có nòng nọc (âm dương), lưỡng nghi ngành nọc âm thái dương.

.Tứ Tượng

Như đã nói ở trên, ở trống Hoàng Hạ Khôn (Chấn/Đoài vũ trụ khí gió), Càn này, khuôn mặt nòng âm Khôn nước mang tính chủ vì thế tứ tượng dương phải được chọn trên bán viên dương và tứ tượng âm phải được chọn ở bán viên âm.

Cũng như trống Ngọc Lũ I, trống Hoàng Hạ có hai bán viên nòng nọc (âm dương) đối ứng nhau. Do đó việc đầu tiên là ta phải nhận diện, tìm ra hai bán viên nòng nọc (âm dương) đích thực trên trống Hoàng Hạ này.

Tôi chia mặt trống ra là hai bán viên lấy nhóm người nhẩy múa làm chuẩn vì vành này là vành chủ đạo, vì là trống thế gian, con người là chủ chốt. Điểm giới hạn một bên kể từ phía sát sau lưng người cuối cùng của một nhóm 6 người nhẩy múa hướng theo chiều ngược kim đồng hồ tức chiều mặt trời, chiều dương, tiến về phía nhà nòng không gian, nhóm giã chầy cối, nhà nọc mặt trời và nhóm người đánh trống. Điểm giới hạn phía đầu còn lại là ngay sát đầu dàn trống tức ngay sát sau lưng người cuối cùng của người thứ 6 nhóm thứ 2.

Ở trống Ngọc Lũ I sự phân biệt hai bán viên rất dễ vì dựa vào số người nhẩy múa là ta biết ngay: nhóm 7 người với số 7 là số lẻ, số Càn cho biết ngay là ở bán viên dương và nhóm 6 người với số 6 là số chẵn và là số Tốn ta biết ngay là ở bán viên âm. Trên trống Hoàng Hạ cả hai nhóm đều có 6 người nên sự nhận diện ra bán viên nòng âm và nọc dương khó khăn hơn không thể dựa vào số nhóm người múa. Ta phải dựa vào các chi tiết nòng nọc (âm dương) quyết định, đặc thù khác số nhóm người. Để tóm gọn và dễ thấy, tôi chọn dựa vào căn nhà nọc mặt trời mái cong nhọn hai đầu.

.Bán viên nòng, âm

Theo qui ước nòng nọc (âm dương), ở bán viên âm, nhà nọc mặt trời phía nọc âm thường để cối hay hình cối biểu tượng cho âm (cối biến âm với cái, mõ biến âm với mo là nang, nòng) còn ở nhà nọc mặt trời phía nọc dương thường để trống hay vật hình trống (trống có một nghĩa là đực, dương như gà trống, trống mái).

Ta thấy ngay ở một bán viên trên trống Hoàng Hạ có một căn nhà nọc mặt trời trong có để một cái cối hay mõ cối ở phía tay trái dưới (trái là âm):


clip_image008

Nhà nọc ở một bán viên có cối hay mõ hình cối mang âm tính trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ (nguồn: Nguyễn Văn Huyên).

Cối này có nét thẳng và góc cạnh mang dương tính cho biết cối hay mõ cối này biểu tượng cho nhánh nòng âm thái âm của ngành nọc dương thái dương.

Như thế bán viên này là bán viên âm có khuôn mặt thái âm Chấn ngành nọc mặt trời dương thái dương ứng với một khuôn mặt của Lạc Long Quân ngành nọc Việt âm thái dương.

clip_image010

clip_image012

Bán viên âm trên mặt trống Hoàng Hạ.

.Bán viên nọc, dương.

Như đã biết, ngược lại những nhà có để trống (hay vật hình trống) mang dương tính. Những ngôi nhà nọc dương dành cho phái nam, con trai ở Nam Dương tương ứng với nhà lang (lang là con trai, trai tráng) của Mường và nhà đình (đình gốc đinh cũng có nghĩa là trai tráng, tráng đinh) của Việt Nam ngày nay còn để trống hay khắc hình trống gọi là tambaran haus (nhà trống). Ta thấy ở bán viên còn lại trong nhà nọc mặt trời mái cong nhọn có để trống hay một vật hình trống:

clip_image014

Căn nhà nọc mặt trời bên góc trái dưới có để một trống hay vật hình trống trên trống Hoàng Hạ (Dongson Drums in VietNam Phạm Huy Thông).

Căn nhà này cho biết bán viên này là bán viên dương. Trống có hình bầu tròn có hình lọng gió thuộc lại trống Gió Đoài vũ trụ khí gió Nguyễn Xuân Quang III (Heger III).

Như vậy bán viên dương này là bán viên mang tính chủ Khí Gió dương Đoài vũ trụ khí gió.

clip_image016

clip_image018

Bán viên dương có để trống hay vật hình trống trên trống Hoàng Hạ.

Lưu ý thêm ở hình vẽ trên, trong nhà này, ở góc phải bên dưới, người đáng trống cây vũ trụ đứng thay vì ngồi như ở căn nhà nọc âm ở bán viên âm nói trên. Đứng là dương và ngồi là âm. Người đứng ở đây cũng xác thực căn nhà này là nhà nọc dương và bán viên này là bán viên dương.

Đã xác định rõ được hai bán viên nòng nọc (âm dương) rồi ta đi tìm tứ tượng dương ở bán viên dương và ở đây, như đã nói ở trên, vì khuôn mặt nòng âm mang tính chủ, ta phải tìm tứ tượng âm ở bán viên âm.

– Tứ Tượng Dương Bán Viên Dương.

.Chấn Ứng với Lạc Long Quân.

Trống Hoàng Hạ thuộc nhóm trống thái âm Khôn-Càn có mặt trời 16 (Khôn tầng 3) nọc tia sáng.

Ở cõi đại vũ trụ, ta có hôn phối thái dương Càn với thái âm ngành nọc dương Chấn.

Ở bán viên dương này, trên nóc nhà nọc mặt trời có một con chim trĩ.

Tương tự như ở trống Ngọc Lũ I. Số 1 là số Chấn tầng 1 cõi trời, cõi trên.

Như vậy 1 chim trĩ mặt trời thái dương ứng với Chấn Lạc Long Quân nước lửa cõi trời ngành nọc dương mặt trời thái dương.

Ở đây ta cũng thấy dùng con chim trĩ có một khuôn mặt lửa thái dương thế gian (chim trĩ là loài gà sống nhiều trên mặt đất), một thứ chim biểu của Đế Minh nói cho biết là Chấn thuộc ngành nọc dương thái dương Viêm Đế-Đế Minh.

. Đoài Ứng với Tổ Hùng.

Trong nhà nọc mặt trời ở bán viên dương này có 3 người: hai người đang giơ tay ra trước mặt cung nghinh mặt trời và người thứ ba đứng ở góc phải đang cầm hay đánh trống để trên một cây nọc, cao khỏi mặt đất mang ý nghĩa trống trời, trống vũ trụ, mang một khuôn mặt trống Đoài vũ trụ khí gió.

Như đã nói ở trên, khác với ở bán viên âm, là người đánh trống cây vũ trụ ở đây ở thế đứng mang dương tính, nhấn mạnh khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió thiếu âm là Khôn dương.

Số 3 là số Đoài tầng 1 vũ trụ.

Như vậy 3 người ở trong nhà nọc mặt trời dương này là Đoài vũ trụ khí gió ứng với Tổ Hùng ngành nọc mặt trời thái dương.

.Li Ứng với Kì Dương Vương.

Dàn trống ở đây có 4 người đánh trống nhưng ở trên có thêm một hình chim bay (ở bán viên âm không có hình chim bay này) như thế tổng cộng ta có 5 sinh vật, 5 động vật, 5 yếu tố dương.

Số 5 là số Li.

.Càn Ứng với Đế Minh.

Ở trống Hoàng Hạ này có vành 14 cò bay mỗi bán viên có 7 con. Cò là chim biểu của gió mang tính thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió (chim biểu của Hùng Vương mạng Đoài vũ trụ khí gió). Ta đã biết bán viên dương mang tính Đoài vũ trụ khí gió (trong khi bán viên âm mang tính Chấn). Như thế theo duy dương, dương của âm tức thiếu âm Đoài, những con cò Đoài vũ trụ khí gió là biểu tượng chính của bán viên Đoài vũ trụ khí gió.

Hiển nhiên số 7 con cò Đoài này mang một ý nghĩa là con số Càn của bán viên dương này.

Mặt khác, ở bán viên dương này có 7 hình sóng cuộn dương, chuyển động của vành sóng kép chuyển động Chấn (xem dưới). Như thế theo duy âm tức âm của âm tức thái âm Chấn, 7 cuộn sóng chuyển động Chấn ở bán viên dương này ứng với Càn [nên nhớ trống này có mặt trời 16 nọc tia sáng tức số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) có một khuôn mặt hôn phối với Càn].

Như vậy ta có hai số Càn 7 cò bay Đoài và số Càn 7 sóng cuộn tròn hai đầu ứng với Càn Đế Minh, Đế Ánh sáng.Vì sóng  nước mang âm tính, ta chọn 7 cò bay cho quẻ ba vạở bán viên dương diễn tả dịch  Tiên Thiên này và dành lại Càn 7 sóng nước cho dịch Hậu Thiên.

Tóm lại

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời rạng ngời, ở bán viên dương có những người, chim, sóng nước chuyển động diễn tả, qua các con số mang nghĩa nhị nguyên, những khuôn mặt ứng với bốn quẻ ba vạch Chấn, Đoài, Li, Càn, ứng với bốn Tổ Phụ mặt trời ngành nọc Việt âm thái dương Thần Nông.

-Bán Viên Âm và Tứ Tượng Âm.

Như đã nói ở trên vì trống này thuộc nhóm trống nòng Khôn (Chấn Đoài) thế gian nên ta phải chọn tứ tượng âm ở bán viên âm (thay vì cùng bán viên dương như trên trống Ngọc Lũ I). Bằng chứng thấy rõ là trên nóc nhà nọc mặt trời ở hai bán viên nòng nọc (âm dương) đều có một con chim trĩ cho thấy cả hai đều thuộc phía nọc dương [trong khi ở trống Ngọc Lũ I, căn nhà nọc ở bán viên dương có một con chim trĩ còn ở bán viên âm có hai con, cho thấy hai căn nhà ở hai nhánh nòng nọc (âm dương) khác nhau]. Hiển nhiên ta phải lấy tứ tượng âm phía nòng âm thái dương ở bán viên âm nghĩa là chủ yếu tại khu nhà nòng âm không gian.

clip_image010[1]

Bán viên âm.

.Tốn Ứng với Âu Cơ.

Chấn có một khuôn mặt hôn phối với Tốn.

Ở bán viên âm này có 6 người mặt trời thái dương nhẩy múa. Số 6 là số Tốn. Vì là bán viên âm nên 6 người này mang nhiều âm tính tức Khôn thái âm, Chấn.

clip_image020

6 người nhẩy múa ở bán viên âm.

Con chim nông trên đầu người cuối cùng của nhóm này có đầu và mắt chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-hai vòng tròn đồng tâm có một nghĩa là lửa nước thái âm Chấn, mỏ rất cong mang nhiều âm tính là hình con nông nước Chấn. Rõ ràng bán viên này là bán viên âm.

Sáu người nhẩy múa ở bán viên âm mang tính Tốn-Chấn.

Trong khi con nông ở nhóm dương có mỏ thẳng, nhọn và có bỏ dấu nọc que trong mỏ cho biết là con nông mang tính dương của nhóm dương ở bán viên dương.

clip_image021

Chim nông ở nhóm nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên dương.

Tốn OII có một khuôn mặt là mặt trời đĩa tròn âm O thái dương II. Dân dã Việt Nam gọi là Nàng O Lửa II.

6 người mặt trời thái dương này thuộc nhánh Nàng Lửa, Mặt Trời Nữ Thái Dương Âu Cơ hôn phối với Chấn tạo hóa Sấm Lạc Long Quân.

Như vậy nhóm 6 người mặt trời nhẩy múa này ứng với Tốn Âu Cơ nhánh âm lửa, mặt trời nữ của ngành nọc thái dương.

Hiển nhiên số 6 là số Tốn.

.Khôn Vụ Tiên

Khôn Vụ Tiên hôn phối với Càn Đế Minh.

Trống có mặt trời 16 nọc tia sáng tức số Khôn tầng 2 (0, 8, 16). Mỗi bán viên có 8 nọc tia sáng.

Số 8 là số Khôn tầng 1 ứng với Vụ Tiên.

Ngoài ra trống Hoàng Hạ có vành sóng cuộn kép thay thế cho vành hươu nai-chim bồ nông ở trống Ngọc Lũ I.

clip_image023

Sáu loại hình sóng cuộn kép thấy trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc đông sơn (theo A.J. Bernet Kempers). Hình D là hình sóng cuộn kép trên trống Hoàng Hạ.

Vành sóng kép cuộn hai đầu này diễn tả sóng thái âm chuyển động có nghĩa là nước thái âm động, dương, lửa ứng với Chấn. Hai đầu cuộn tròn như con mắt âm trong có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm nọc-vòng tròn kép có một nghĩa là lửa nước thái âm sinh tạo, Chấn sinh tạo. Hai chữ này xác thực hình sóng cuộn chuyển động là Chấn. Hình đầu sóng cuộn Chấn có mấu nhọn hình nọc que có nghĩa là nọc, dương cho biết Chấn mang tính nọc dương, thái dương, ngành nọc thái dương. Vành có 14 ½ sóng hai đầu cuộn tròn hình con mắt âm (có chấm nọc là con ngươi bao quanh bởi hai vòng tròn đồng tâm thái âm) nghĩa là có 29 con mắt âm. Đây có thể là một lỗi kỹ thuật vì là vòng sóng mang âm tính thường phải có số chẵn, nghĩa là phải có 30 con mắt âm (15 cuộn sóng) hay 28 con mắt âm (14 cuộn sóng). Ở đây có số lẻ là 14 ½ sóng hay 29 con mắt khó có thể hợp lý được, không thuận lý. Ở đây có thể nghiêng nhiều về con số 30 hơn là 29 con mắt âm. Ở bán viên dương ta đã thấy có 7 cuộn sóng với số 7 là số Càn. Rất hữu lý. Ở bán viên âm này còn lại 7 ½ . Đúng lý ra phải là 8 sóng vì số 8 là số Khôn để cho thích ứng với số 7 Càn ở bán viên dương để cho hai bán viên dương âm có giao hòa Càn Khôn.

Như thế vì lỗi kỹ thuật phải là 8 sóng thay vì 7 ½.

Tóm lại ở bán viên âm này, nếu lấy theo khuôn mặt Càn của trống thì chọn 8 nọc tia sáng để có hôn phối Khôn Càn theo duy dương hay nếu lấy theo khuôn mặt Chấn của trống thì chọn 8 hình sóng cuộn ứng với Khôn có Chấn đại diện. Số 8 Khôn ứng với Khôn Vụ Tiên.

.Khảm Ứng với Long Nữ.

Trên nóc nhà nòng âm không gian ở bán viên âm này có hai con gà.

clip_image025

Ngôi nhà thiêng liêng nòng không gian ở bán viên âm.

Số 2 là số Khảm.

Ta cũng thấy rất rõ ở bán viên dương trên nóc nhà nòng âm không có con gà nào cả. Không có là số 0, Khôn tầng 1. Khôn dương là thiếu âm khí gió. Căn nhà nòng Khôn dương ở bán viên dương mang tính Đoài vũ trụ khí gió thiếu âm OI ngành dương I tức quẻ Đoài IIO (Chàng I Gió IO) đi đôi với căn nhà có hai con gà Khảm OIO (Nàng Gió, Nàng O thiếu âm IO) ở bán viên âm này.

Như vậy hai con gà diễn tả Khảm nước thiếu âm này ứng với Khảm Long Nữ nhánh âm của ngành mặt trời thái dương.

.Cấn Ứng với Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Ở bán viên âm, bên phải nhà nòng có hai người giã chầy cối trên đầu có hai con chim bay, trong khi ở bán viên dương bên kia chỉ có một con chim bay (bán viên dương mang tính Đoài vũ trụ khí gió nên có 3 sinh vật, số 3 là số Đoài).

clip_image027

Nhóm giã chầy cối ở bán viên âm.

Tổng cộng ta có 4 sinh vật. Số 4 là số Cấn. Tại sao số 4 Cấn ở đây lại chia ra làm đôi và có sự hiện diện của 2 con chim. Hai con chim ở đây dưới mỏ không thấy túi nang và mỏ thẳng mang dương tính. Số 2 là số Khảm nước ở dạng khí thiếu âm có số 3 Đoài vũ trụ khí gió là đại diện. Như thế số 4 Cấn ở đây cho biết Cấn đi với Đoài vũ trụ khí gió (ta thấy ở trên Tốn hôn phối với Chấn thì hiển nhiên ở đây Cấn phải hôn phối với Đoài). Cấn ở đây là khuôn mặt Đất âm Hoàng Hậu Tổ Hùng hôn phối với Tổ Hùng Đoài vũ trụ Khí Gió.

Có người thắc mắc tại sao ta không lấy con số 4 người ở dàn trống vì để có 4 người thuần nhất cùng một thể loại mà phải lấy hỗn hợp người và chim? Bởi vì, như đã nói ở trên, ở đây là tứ tượng âm ở bán viên âm nên tôi chọn số 4 ở nhóm giã gạo để thống nhất các số âm cho cùng ở khu nhà nòng âm là 2 gà, 4 cảnh chầy giã cối, 6 người nhẩy múa hướng về phía nhà nòng âm không gian mà không lấy 4 người đánh trống thuộc nhóm nhà nọc dương không thích hợp với khuôn mặt âm mang tính chủ của trống này.

Như đã nói ở trên, ta cũng thấy rõ ở bán viên dương trên đầu người giã chấy cối chỉ có Một con chim như thế tổng cộng là 3 tức con số Đoài tầng 1. Bán viên dương là bán viên Đoài có hai người giã chầy cối là số 3 Đoài vũ trụ khí gió thì ở bán viên âm Chấn này có hai người giã chầy cối và 2 chim là số 4 Đất âm ứng có một khuôn mặt hôn phối với Chấn (Đất Cấn Âu Cơ hôn phối với Chấn Biển Lạc Long Quân) là một chọn lựa hợp lý.

Tóm lại số 4 là số Cấn, Núi.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời rạng ngời ở bán viên âm có những người, chim, sóng nước chuyển động diễn tả, qua các con số mang nghĩa nhị nguyên, những khuôn mặt ứng với bốn quẻ ba vạch Tốn, Khảm, Khôn, Cấn của bốn Tổ Mẫu nhánh mặt trời âm ngành mặt trời thái dương Thần Nông-Viêm Đế thái dương.

.Tám Quẻ Ba Vạch (Bát Quái).

Tứ tượng dương và tứ tượng âm tạo thành tám quẻ ba vạch.

Hiển nhiên chúng ta có Dịch Sử Truyền Thuyết Việt trên mặt trống Hoàng Hạ.

Bây giờ ta đi tìm dịch đồ của dịch này.

Ta đã biết trống trống Hoàng Hạ có mặt trời 16 nọc tia sáng thuộc nhóm trống nước, thái âm, thế gian có ba khuôn mặt chính là Càn, ChấnĐoài vũ trụ khí gió. Như vậy ta có ít nhất ba loại dịch theo ba khuôn mặt Càn, Chấn, Đoài.

1. Dịch theo khuôn mặt Càn mang tính chủ: Tiên Thiên bát quái Hoàng Hạ.

Như đã biết Đế Minh Càn có hai khuôn mặt: mặt trời sinh tạo cõi trời thế gian qua tước vị Đế và khuôn mặt tượng Lửa thái dương.

-Dịch Càn Đế Minh mang tính tượng Lửa để ở đầu bốn tượng theo thứ tự Càn, Chấn, Đoài, Li hay Càn Đoài Chấn Li.

a./ Dịch Càn Chấn Đoài Li với Càn mang tính tượng Lửa.

Nếu nhìn Càn Đế Minh là một tượng Lửa Càn thì ba khuôn mặt còn lại Chấn Đoài Li cũng có khuôn mặt là tượng tức ta có bốn tượng Lửa Càn, Nước Chấn, Gió Đoài và Li Đất ứng với Bốn Tổ Phụ của chúng ta.

Thì ở đây ta có một loại Tiên Thiên bát quái theo thứ tự Càn Chấn Đoài Li bao trùm ba khuôn mặt chính Càn Chấn Đoài của trống Hoàng Hạ. Ta có Tiên thiên bát quái Hoàng Hạ với Chấn mang tính chủ.

clip_image029

Tiên Thiên bát quái Hoàng Hạ Chấn.

b./ Dịch Càn Đoài Chấn Li với khuôn mặt Càn mang tính tượng lửa.

Bây giờ nhìn theo duy dương của nhánh Khôn âm tức nhìn theo Đoài mang tính trội thì ta có một Tiên Thiên bát quái nọc âm thái dương với Đoài mang tính trội.

Trong dịch này Càn Đế Minh mang tính chủ để trên hết rồi tiếp đến là Đoài, Chấn, Li. Ta có Tiên Thiên bát quá Hoàng Hạ Đoài mang tính chủ.

-Dịch theo Càn Đế Minh mang tính biểu trưng để ở đầu bốn tượng dương theo thứ tự Càn, Chấn, Đoài, Li.

Với Càn Đế Minh mang tính biểu trưng thì Chấn (theo thứ tự Càn Chấn Đoài Li) và Đoài (theo thứ tự Càn Đoài Chấn Li) mang tính lịch sử.

-Theo thứ tự Càn Chấn Đoài Li

Càn mang tính sinh tạo biểu trưng thì bây giờ Chấn lịch sử đội lốt Càn sinh ta hai nhánh Lang Việt Đoài và Kì Việt Li. Ta có dịch Hoàng Hạ Lạc Long Quân Lang-Kì Việt.

clip_image031

Dịch Hoàng Hạ Lạc Long Quân Lang-Kì Việt.

(Nhắc lại thêm một lần nữa là phải ghi nhớ một điều là Càn ở đây chỉ là một khuôn mặt sinh tạo biểu trưng vì là trống thế gian).

So Sánh Với Dịch Đám Ma Cò.

Dịch Càn, Chấn, Đoài, Li này giống một loại dịch Đám Ma Cò theo dị bản sau đây:

Con cò chết rũ trên cây,
Bổ cu mở lịch xem ngày làm ma,
Cà cuống uống rượu la đà,
Bao nhiêu ếch nhái nhẩy ra chia phần.
Chào mào thì đánh trống quân,
Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao…

Như đã biết, Bổ Cu là chim bổ cắt, biểu tượng cho Lửa vũ trụ, lửa trời, Càn, cực dương. Bổ Cu loài lớn (Great Hornbill) là chim biểu của Viêm Đế ở cõi tạo hóa. Đế Minh cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế cũng một khuôn mặt có chim biểu là chim cắt lửa. Như thế câu hát thứ nhất ứng với Càn Đế Minh.

Càn bổ cu ở đây mang tính cách biểu trưng làm trưởng ngành đại diện cho ngành nọc mặt trời thái dương, tức của họ Người Việt mặt trời thái dương đứng ra làm chủ lễ chọn ngày lành, giờ tốt, cử hành đám ma: “bổ cu mở lịch xem ngày làm ma” là vậy.

.Cà Cuống

Cà Cuống sống dưới nước. Anh ngữ gọi là ‘giant water-bug’ (‘bọ nước khổng lồ’).

Cà cuống có vòi nhọn như kim để đâm con mồi hút thịt ăn nên có một tên động vật học là lethocerus indicus có -cerus là sừng, vật nhọn. Vậy con cà cuống là con bọ nước mang dương tính liên hệ với Chàng (I) Nước (OO) Chấn IOO (xem Cà Cuống Chết Đến Đít Còn Cay).

Cà Cuống ứng với Chấn Lạc Long Quân.

.Ếch Nhái

Ếch Nhái ở dưới nước mang âm tính. Ếch Nhái biểu tượng cho các tộc thái âm, nước, nữ, là khuôn mặt của các thần Tổ Mẫu có Âu Cơ đại diện nấp bóng theo Cà Cuống Lạc Long Quân.

.Chào mào

Chim chào mào có mào lông giống như bờm lông biểu tượng cho gió. Thằng Bờm liên hệ với Gió có cái quạt mo biểu tượng cho gió là đứa con chính huyết của Hùng Vương Đoài khí gió (xem Việt Dịch Thằng Bờm).

Con chim chào mào có bờm lông trên đầu nên là chim biểu của Gió ứng với Hùng Vương Đoài vũ trụ.

.Chim Chích

Chim chích là loài chim nhỏ.

Chích là dùng vật nhọn đâm như kim chích, chích thuốc. Chim chích là chim có mỏ nhọn, nọc nhọn như kim nhọn biểu tượng cho núi nọc, Đất dương.

Câu ‘Chim chích ở trần vác mõ đi rao’ cũng thật tuyệt vời. Từ ‘trần’ ngoài nghĩa ở trần không mặc áo nhưng trần cũng có nghĩa là bụi. Bụi trần. Bụi là đất khô tung lên tức là Đất dương.

‘Chim chích ở trần’ ứng Li Đất dương Kì Dương Vương.

Như thế qua dị bản này đám ma cò có này đủ mặt các tộc của cả hai họ ngoại nội, hai ngành nòng nọc. Phía nòng âm, nữ Tổ Mẫu Ếch Nhái. Phía nọc, dương, nam, nội, Tổ Phụ có Bổ Cu Càn có khuôn mặt trưởng ngành mang tính cách biểu trưng, Lửa vũ trụ, Lửa trời, Cà Cuống Chấn, Nước mang tính ngành nọc âm, Chào Mào Đoài vũ trụ, bầu trời, khí Gió mang ti1ng tộc Giò và Chim Chích Li, Đất mang ti1ng tộc Đất (xem Việt Dịch Đám Ma Cò).

Thấy rõ như ban ngày là dịch Hoàng Hạ Chấn Lạc Long Quân Lang-Kì việt giống dịch dịch Đám Ma Cò theo dị bản này.

-Theo thứ tự Càn Đoài Chấn Li.

Ta có dịch Hoàng Hạ Hùng Vương Lạc-Kì Việt.

So sánh với Việt Dịch Bầu Cua, dịch này giống Việt Dịch Bầu Cua đọc theo cùng chiều kim đồng hồ tức chiều âm là Bầu Càn ứng với Đế Minh mang tính biểu trưng, Cua Đoài ứng với nhánh Hùng Vương, Cá Chấn ứng với tộc Lạc Việt và Hươu Cọc Li ứng với tộc Kì Việt.

1. Theo khuôn mặt Chấn mang tính chủ.

Chấn có hai khuôn mặt: khuôn mặt sinh tạo truyền thuyết và khuôn mặt lịch sử.

a. Khuôn mặt sinh tạo truyền thuyết.

Chấn đội lốt Thần Nông, Đế Lạc (Đế Lạc tương ứng với Đế Minh hay là khuôn mặt âm của Đế Minh ở ngành nọc âm thái dương. Đế Minh đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nhất thể lưỡng tính thì cũng có khuôn mặt lưỡng tính phái nhìn theo diện sinh tạo).

Khuôn mặt sinh tạo của Chấn thấy rõ qua bài đồng dao Đám ma Cò sau đây:

Con cò mắc dò mà chết,
Con quạ mua nếp làm chay,
Con cu đánh trống ba ngày,
Con ngỗng thức dậy, gọi bầy mâm ra.
Con cộc ăn cá ngâm nga,
Con chim cà cưỡng phải ra ăn mày.

Con quạ mầu đen có một khuôn mặt là biểu tượng của mặt trời, âm, nước Chấn tức khuôn mặt Chấn sinh tạo ứng với mặt trời Nước, mặt trời Hoàng Hôn Lạc Long Quân.

Khuôn mặt này đội lốt khuôn mặt âm của Đế Minh hay là Đế Lạc sinh ra bốn đại tộc ứng với tứ tượng dương là con Cu Lửa thái dương Càn, con Ngỗng trời Gió dương Đoài, con Cộc, con Cốc loài chim nước Nước dương Chấn và con Cà Cưỡng tức Sáo Đá, Sáo Sậu Đất dương Li.

Rõ ràng Chấn con Quạ có một khuôn mặt sinh tạo đội lốt các Đế tạo hóa.

b. khuôn mặt lịch sử.

Trong dịch này Chấn Lạc Long Quân mang tính lịch sử còn Càn Đế Minh vẫn là khuôn mặt mang tính biểu trưng.

Chấn lịch sử sinh ra hai nhánh Hùng Lang và Hùng Kì. Ta có hai loại dịch theo hai thứ tự Chấn Đoài Li Càn và Chấn Li Đoài Càn.

a. Dịch Chấn Đoài Li Càn.

Nhìn theo duy âm theo diện này Chấn Lạc Long Quân để lên trên hết. Kế tiếp đến Chấn sinh ra hai nhánh Hùng Lang Đoài vũ trụ khí gió và nhánh Hùng Kì và cuối cùng là Càn Đế Minh mang tính biểu trưng. Ta có dịch Hoàng Hạ Lạc Long Quân Lang-Kì Việt:

clip_image033

Dịch Hoàng Hạ Lạc Long Quân Lang-Kì Việt.

Theo dịch đồ này, ta cũng thấy Càn Đế Minh để ở vị trí cuối cùng cho biết ngay đây là dịch mang tính thế gian và Đế Minh có khuôn mặt sinh tạo cõi trời thế gian nhìn theo tước vị Đế có tính cách sinh tạo biểu trưng. Dịch này cũng cho thấy Chấn có khuôn mặt chủ và Đoài đứng trước Li mang tính chính thống hơn Li vì đây là trống biểu của nhánh nọc âm thái dương.

b. Dịch Chấn Li đoài vũ trụ khí gió Càn.

Dịch này với Li mang tính trội hơn Đoài không thích hợp ở trống Hoàng Hạ là trống biểu của nhánh nọc âm thái dươngChấn Đoài.

3. Dịch Theo Khuôn Mặt Đoài Mang Tính Chủ.

Ở dịch này theo duy dương dựa trên khuôn mặt Đoài vũ trụ khí gió mang tính chủ. Tổ Hùng Vương đích thực là Tổ lịch sử.

Trong dịch này quẻ ba vạch Đoài ứng với Tổ Hùng Vương lịch sử phải để trên hết tiếp theo là Chấn Lạc Long Quân, Kì Dương Vương rồi mới tới quẻ ba vạch Càn Đế Minh, tức theo thứ tự Đoài, Chấn, Li, Càn hay Đoài, Li, Chấn, Càn.

Ở đây chỉ có một thứ tự Đoài Chấn Li Càn là chính thống còn thứ tự Đoài Li Chấn Càn không thích hợp vì là ở trống biểu tượng cho nhánh nọc âm thái dương Chấn Đoài nên không thể để Li trước Chấn được.

Dịch theo thứ Tự Đoài, Chấn, Li, Càn.

Ta thấy theo thứ tự Đoài, Chấn, Li, Càn này thì Tổ Hùng Vương Đoài sinh ra nhánh Chấn Lạc Long Quân thế gian/lịch sử tức Hùng Lạc, Lạc Việt và nhánh Li Kì Dương Vương thế gian/lịch sử tức Hùng Kì, Kì Việt. Còn Đế Minh Càn chỉ manh tính sinh tạo biểu trưng. Ta có dịch Hoàng Hạ Hùng Vương Lạc-Kì Việt.

Dịch này có khuôn mặt Lạc việt mang tính trội hơn Kì Việt (vì Chấn để trước Li) tức nghiêng về phía nòng âm Chấn, phía cha Lạc Long Quân, ăn khớp với khuôn mặt Khôn của trống Hoàng Hạ ngành nọc âm thái dương này nên mang tính chuẩn, chính thống.

So sánh với Việt Dịch Bầu Cua.

Ta thấy dịch Hoàng Hạ Hùng Vương Lạc-Kì Việt này theo thứ tự Đoài Chấn Li Càn giống hệt Việt Dịch Bầu Cua đọc theo chiều âm cùng chiều kim đồng hồ tức chiều âm của ngành âm Lạc Việt, khởi đầu từ khuôn mặt Cua Đoài Hùng Vương, Cá Lạc Long Quân, Cọc Hươu Nọc Li Kì Dương Vương, Bầu đỏ Càn Đế Minh.

.So Sánh Với Việt Dịch Đồng Sử Truyền Thuyết Ngọc Lũ I.

Việt dịch đồng Hoàng Hạ Sử Truyền Thuyết này mang tính nọc âm thái dương mang tính nòng nọc ngược với dịch Sử Truyền Thuyết Ngọc Lũ I. Ở Ngọc Lũ I ta có thứ tự các quẻ ba vạch là Càn, Li, Chấn, Đoài vũ trụ khí gió với hai quẻ ba vạch Càn Li của nhánh nọc dương thái dương mang tính chủ. Ở đây ta có Chấn, Đoài, Li, Càn với hai quái Chấn Đoài của nhánh nọc âm thái dương mang tính chủ.

Hậu Thiên Bát Quái Trên Trống Hoàng Hạ.

Ta đã thấy trống trống Hoàng Hạ, giống như trống Ngọc Lũ I, có dịch mang tính Tiên Thiên vì trống trống Hoàng Hạ có một khuôn mặt diễn tả thuyết vũ trụ tạo sinh trọn vẹn thấy qua hình thái tứ tượng ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng, qua vành tứ hành, qua đối ứng nòng nọc (âm dương) trọn vẹn của hai bán viên…

Tuy nhiên, trước hết trống Hoàng Hạ là trống có mặt trời 16 nọc tia sáng là trống thế gian và như đã thấy ở trên, trống trống Hoàng Hạ cũng có dịch diễn tả riêng của nhánh nọc âm Khôn Chấn Đoài , với  đại tộc Chấn mang tính chủ và có nhiều yếu tố có cùng hai con số như đã nói ở trên ví dụ như ở bán viên dương có hai số Càn 7 là Càn 7 cò bay và Càn 7 sóng cuộn… như thế trống Hoàng Hạ cũng có một thứ dịch mang tính Hậu Thiên, thế gian.

Sự khác biệt giữa Hậu Thiên bát quái Việt dịch và Hậu Thiên bát quái Văn Vương là sự hoán đổi vị trí của hai quẻ ba vạch âm là Cấn và Khôn. Trong hậu Thiên Việt, Cấn bắt cặp với Tốn còn trong Hậu Thiên Văn Vương Cấn bắt cặp với Khôn.

Như đã biết, trong dịch Hậu Thiên ta có sự hôn phối/tương giao hỗn hợp theo con trai Đoài-cha Chấn (Hùng Vương-Lạc Long Quân), con gái Cấn với mẹ Tốn (Hoàng Hậu Hùng Vương với mẹ Âu Cơ) và theo hỗn hợp vợ chồng Li với Khảm (Li Kì Dương Vương với Long Nữ Khảm) và Càn với Khôn (Viêm Đế Càn với Vụ Tiên Khôn). Các cặp tương giao con trai, con gái-mẹ trong Hậu Thiên mang âm tính, ta chọn ở bán viên âm. Cặp Đoài Chấn và Cấn Tốn là hai cặp chủ chốt nên ta xếp Đoài-Chấn lên trên hết tiếp sau là cặp Cấn-Tốn.

Bây giờ ta đi tìm Hậu Thiên bát quái Hoàng Hạ.

Vì quan trọng nhất là cặp Đoài-Chấn Tốn trong Hậu Thiên bát quái Việt nên ta chọn các quẻ ba vạch này ở bán viên âm và để trên hết:

.Đoài-Chấn

Chấn 1 người đứng trong nhà nòng-Đoài 2 người nhóm giã chầy và con chim bay ở trên 2 người giã chầy cối này bên cạnh nhà ở bán viên âm.

Tóm lại ta có cặp Đoài 3 động vật ở nhóm giã gạo bắt cặp với Chấn 1 người đứng trong nhà nòng theo hôn phối con trai với cha.

.Cấn-Tốn

Như đã biết, đây là cặp quan trong trong Hậu Thiên bát quái.

Ta có Cấn 4 người đánh trống và Tốn 6 người nhẩy múa ở bán viên âm.

.Khôn-Càn

Khôn 8 con nông hôn phối với  Càn 7. Như đã nói ở trên, ta có hai số Càn 7 là Càn 7 c ò bay và Càn 7 cuộn s óng. Ta đã thấy Càn 7 c ò bay thích ứng với Tiên Thiên bát quái rồi như thế Càn 7 cuộn sóng còn lại dùng vào Hậu Thiên Bát quái (Mặc dù Càn 7 cuộn sóng ở bán viên dương nhưng như đã nói ở trên, ta lấy không có trở ngại gì vì cặp Càn Khôn hôn phối theo Vợ chồng nên lấy ở hai bán viên âm và dương không có gì nghịch lý cả).

.Khảm-Li.

Ta có 2 con chi Khảm trên n óc nh à n òng bắt cặp với Li 5 là 4 người đánh trống và 1 con chim bay ở trên ở bán viên dương theo hôn phối vợ chồng tương tự như cặp Càn Khôn.

Như thế rõ ràng ta có một Hậu Thiên bát quái Hoàng Hạ.

Kết Luận

Như thế rõ như hai năm là mười mặt trống đồng Hoàng Hạ có dịch đồng Sử Truyền Thuyết Việt.

Suy rộng ra, cũng như trống Ngọc Lũ I tổng quát trống Hoàng Hạc cũng diễn tả một thứ Tiên Thiên bát quái Việt dịch. Điểm này dễ hiểu vì trống Hoàng Hạ cũng diễn đạt trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh.

Nhìn dưới diện nhóm trống Khôn nước thái dương có mặt trời 16 nọc tia sáng tức trống biểu của nhóm âm nhánh nọc thái dương, Việt Mặt Trời Nọc Thái Dương ngành mặt trời thái dương Viêm Đế, ta có Tiên Thiên bát quái Hoàng Hạ Sử Truyền thuyết Việt và nhìn dưới diện đại tộc Chấn mang tính chủ ở cõi thế gian thì ta có dịch Lạc Long Quân Hoàng Hạ Lạc Việt.

Ngoài ra trống Hoàng Hạ cũng diễn tả một dịch mang tính Hậu Thiên thế gian, một Hậu Thiên bát quái Hoàng Hạ.

Những dịch này được diễn tả qua các hình ảnh người, thú, chim bằng hệ thống hình, biểu tượng, chữ nòng nọc vòng tròn-que và qua các con số hiểu theo nghĩa nhị nguyên một cách hết sức tinh vi, tiêu chuẩn.

Qua trống Ngọc Lũ I và trống Hoàng Hạ ta thấy có những loại Việt dịch đồng Đông Sơn được xác thực qua dịch Sử Truyền Thuyết Việt ngành Nọc thái dương (cả nhóm dương và âm của nhánh nọc thái dương), ta thấy rõ mỗi trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn diễn tả một loại Việt dịch đồng nòng nọc hay một khuôn mặt Việt dịch đồng nòng nọc hoặc một góc cạnh Việt dịch đồng nòng nọc.

Trống đồng nòng nọc Đông Sơn là một bộ dịch đồng bằng hình tuyệt phẩm, một bảo vật của Việt Nam và nhân loại. Đây là bộ dịch nòng nọc vòng tròn-que bằng đồng diễn tả bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: