VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐỒNG SƠN (2): VIỆT DỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT TRÊN TRỐNG ĐỒNG NGỌC LŨ I.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(2)

NHÓM TRỐNG THÁI DƯƠNG NHÁNH NỌC DƯƠNG THÁI DƯƠNG.

DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN NGỌC LŨ I QUA DỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT VIỆT.

Nguyễn Xuân Quang

Bài viết này cho thấy trống Ngọc Lũ I là một chương diễn tả Việt Dịch Đồng Đông Sơn nhìn tổng quát. Để tránh sai lệch và thuyết phục tối đa tôi nương theo dịch Sử Truyền Thuyết Việt tìm dịch đồng Ngọc Lũ I.

Trước khi viết về Việt Dịch Sử Truyền Thuyết Trên Trống Đồng Ngọc Lũ I, xin nhắc lại là tôi đã viết Việt Dịch Sử Truyền Thuyết qua sử miệng như truyền thuyết, đồng dao, trò chơi Bầu Cua Cá Cọc và qua Trống Đồng Đông Sơn Là Bộ Sử Đồng Của Đại Tộc Việt trên blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com.

Ở đây chỉ xin nhắc lại vài điểm chính của Sử Truyền Thuyết Việt liên hệ tới bài viết.

Lưu Ý

Trống có một nghĩa là đực, nguyên thủy làm từ một thân cây tức nọc. Hán Việt trống là cổ có một nghĩa là cây cột trụ. Bàn Cổ là ông Trụ Chống Cổ cắm trên mặt bằng Bàn tức ông Trụ Chống Trời. Việt ngữ cổ là cây trụ nối dài cột sống lưng để đầu cắm vào thân mình. Vì thế trống chỉ là trống biểu của ngành nọc mặt trời thái dương ứng với đại tộc Việt Mặt Trời ngành nọc dương thái dương Viêm Đế mà thôi. Còn cồng hay gương đồng mới có thể có một khuôn mặt biểu tượng cho phía nòng âm thái âm (xem Gương Đồng Trung Quốc).

Như thế Sử Truyền Thuyết Việt trên trống đồng nòng nọc (âm dương) Đông Sơn bao gồm các vị Thần Tổ Mặt Trời của Việt Nam thuộc ngành Việt nọc dương thái dương Viêm Đế. Chỉ xin nhắc sơ qua về các vị thần tổ này.

Bốn Tổ Phụ.

Bốn Tổ Phụ Việt dòng mặt trời thái dương của chúng có cốt là Bốn Lực Nguyên Sinh Động Lực Lớn (Four Great Primary Forces) tương đương với tứ tượng ứng với bốn quẻ ba vạch

(bốn quái) là:

-Đế Minh, Lửa thái dương Càn.

Khác với các Tổ Phụ khác, với tước vị Đế nên Đế Minh có hai khuôn mặt: một khuôn mặt sinh tạo cõi tạo hóa, đội lốt Viêm Đế đúng như truyền thuyết nói Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế. Đế Minh là vị thần tổ chuyển tiếp giữa cõi tạo hóa vũ trụ và cõi trời thế gian. Với khuôn mặt này là mặt trời sinh tạo thế gian.

Như thế Đế Minh có một khuôn mặt thần tổ sinh tạo cõi trời mang tính truyền thuyết nhiều khi chỉ manh tính biểu trưng (deus otiosus).

Khuôn mặt thứ hai là lửa cõi trời ứng với tượng Càn đội lốt mặt trời thế gian. Đây là một khuôn mặt thế gian có thể mang tính lịch sử.

Như thế dưới khuôn mặt tượng lửa, Đế Minh là Vua Ánh Sáng, lửa trời, lửa vũ trụ, lửa thái dương ở Cõi Trời của thế gian. Diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, là lửa (I) thái dương (II) tức là lửa III, quẻ Càn.

Linh tự Ai Cập cổ ánh sáng, nắng cũng diễn tả bằng ba nọc que III, tức Càn.

clip_image002

Linh tự Ai Cập cổ ánh sáng, nắng.

Tiếng dân gian Việt Nam nôm na gọi là Chàng thay cho Đế cho Vua dựa theo các vị vua dòng mặt trời đều là các Lang (có một nghĩa là Chàng) sinh ra từ bọc trứng cõi trời của Mẹ Tổ Âu Cơ.

Đế Minh Ánh Sáng, lửa mặt trời nôm na gọi là Chàng Lửa. Chàng là nọc (I) (chàng có một nghĩa là cái đục, chisel), lửa thái dương là hai nọc que II. Chàng (I) Lửa thái dương (II) tức là III, quẻ Càn.

Tóm lại Đế Minh hay Chàng Lửa ứng với quái Càn.

-Kì Dương Vương

Đế Minh sinh ra Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục.

Kì có một nghĩa là Ki, Kẻ, Cây, Trụ. Với nghĩa này Kì là Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới biểu tượng cho Đất dương, Đất lửa thế gian.

Kì Dương Vương là Vị Vua Cột Trụ Lửa, Đất Lửa thế gian, Núi Trụ thế gian vì thế là con người đầu tiên ở cõi thế gian, là vua đầu tiên của Nước Xích Quỉ, ‘Người Đỏ’, Người Mặt Trời.

Hiểu theo nghĩa Dương là đực, lửa thì Kì Dương Vương có nghĩa là Vua Trụ Dương, Cọc Dương (có một khuôn mặt là bộ phận sinh dục nam) và Cọc Lửa tương đương với Shiva có một khuôn mặt là linga và Trụ Lửa (Pillar of Fire).

Thêm nữa, Dương cũng có nghĩa là Mặt Trời. Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời trên đỉnh Trục Thế Giới, Mặt Trời Thượng Đỉnh (zenith) chói ngời nhất.

Kì là Kẻ có nghĩa cây, cọc, nọc cũng có nghĩa là con Cọc tức con vật có hai sừng như hai cây cọc nhọn, tức con hươu sừng, hươu đực. Ta cũng thấy nếu hiểu Dương với nghĩa là Đực thì Kì Dương là Con Cọc Đực, Hươu Đực (xem Bầu Cua Cá Cọc). Qua ngôn ngữ học ta thấy rất rõ ki, kẻ chính là gốc Hy Lạp ker-, sừng như Pháp ngữ cerf là con sừng, con hươu. Như thế với nghĩa này, Ki Dương là Con Hươu Sừng, Hươu Đực (chỉ con đực mới có sừng, ngoại trừ loại tuần lộc reindeer con cái mới có sừng). Cũng vì thế mà Con Hươu Đực Kì Dương có nhũ danh là Lộc Tục tức con Hươu Đục, Hươu Đọc, Hươu Nọc, Hươu Đực.

Nếu hiểu Dương theo nghĩa mặt trời và Kì là con Cọc, con Hươu thì Kì Dương Vương là Vua Hươu Mặt Trời thái dương.

Hươu sừng là con thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng là hai nọc có một khuôn mặt là lửa nghĩa là hươu sừng biểu tượng cho đất lửa, đất dương, lửa thế gian gọi theo danh pháp dịch Hoa Hạ là Li thường hiểu là Lửa. Thật ra Li là lửa phát sinh từ đất, từ núi lửa tức lửa thiếu dương khác với Lửa vũ trụ, lửa thái dương là Càn.

Dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Đất (OI, thiếu dương) tức IOI, quẻ Li.

Lưu Ý.

Tóm lại Kì Dương Vương hay Chàng Đất Dương ứng với Đất lửa thiếu dương Li.

. Lạc Long Quân

Kì Dương Vương đẻ ra Lạc Long Quân.

Vua Lạc Long gọi là Quân thay vì Vương vì Quân có mầu tím đen chỉ vua lúc chiều tím, mặt trời lặn, mặt trời hoàng hôn tím, mặt trời Nước. Lạc là Nác (Nước) dương (L là dạng dương của N, xem Tiếng Việt Huyền Diệu).

Lạc Long Quân ứng với Chấn có một khuôn mặt là nước dương tức Biển (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Nước thái âm (OO) tức IOO, quẻ Chấn.

Lưu Ý

Chấn IOO là Chàng Nước thái âm OO trong khi Khảm OIO là Nàng O Nước thiếu âm IO.

Tóm lại Lạc Long Quân hay Chàng Nước thái âm ứng với Chấn.

.Tổ Hùng (truyền thuyết) và Hùng Vương (lịch sử).

Lạc Long Quân sinh ra Tổ Hùng.

Xin nhắc lại các khuôn mặt của Tổ Hùng và Hùng Vương đội lốt Tổ Hùng:

Hùng là gì?

-Ở cõi trời thế gian, Tổ Trăm Hùng Lang sinh ra từ Nang (trứng) thế gian đội lốt Nang vũ trụ. Phần tròng đỏ dương là mặt trời của Nang (trứng) vũ trụ sinh ra 100 con trai Lang (L là dạng dương của N) và phần trong trong âm là không gian của Nang vũ trụ sinh ra các Nàng (Mẹ Nàng). Như vậy Tổ Lang Hùng có khuôn mặt đấng tạo hóa nhất thể, đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nhất thể (ứng với Nang vũ trụ).

Hiểu theo nghĩa này từ Hùng biến âm với chữ viết Naacal Đông phương Hun, có nghĩa là 1, Đấng Tạo Hóa (James Churchward, The Lost Continent of Mu).

-Ở cõi thế gian Hùng Vương lịch sử nhánh Nọc Việt dương thái dương, mặt trời Viêm Đế thì Hùng có những nghĩa:

.Hùng là Đực (hùng trĩ, thư hùng): Đực là dương, là Mặt Trời.

.Hùng, hung là đỏ. Hung đỏ. Đỏ là mặt Trời.

.Hùng là hồng là đỏ (hồng kỳ), Đỏ là tỏ, là mặt trời.

.Hùng là mạnh. Hùng mạnh. Sức mạnh là Mặt trời.

.Hùng là người đứng đầu, là số 1. Đây là lấy theo nghĩa duy dương của Hun, 1 của Naacal Đông phương. Ta thấy theo h=c (hủi = cùi) thì Hùng = hun = Mường ngữ Cun, người đứng đầu, số 1, tù trưởng của Mường Việt. ‘Cun lang bú chó, cun vó bú trâu’.

Theo duy dương số 1 là mặt trời (Việt ngữ son, một mình, còn son, Anh ngữ solo, Pháp ngữ seul, Tây Ban Nha ngữ solamente ruột thịt với gốc sol, Pháp ngữ soleil, Đức ngữ sonn, mặt trời).

.Hùng là Uighur ngữ Hun là Mặt Trời. Uighur lấy nghĩa theo duy dương của Naacal Đông phương Hun (có nghĩa là Một, Đấng Tạo Hóa).

Hiện nay các nhà làm văn hóa Việt Nam chỉ hiểu Hùng theo nghĩa ‘người đứng đầu, thủ lãnh’ (tức số 1) bởi vì không nhìn dưới lăng kính Chim Rắn, Tiên Rồng nòng nọc, âm dương, Dịch học, cốt lõi của văn hóa Việt Nam (Trống Đồng Đông Sơn, Bộ Sử Đồng của Đại Tộc Việt).

Như thế trong Đại tộc Việt thuộc ngành Nọc Việt dương thái dương, thần Mặt Trời Viêm Đế, vì sinh ra từ Bọc Trứng Thế gian đội lốt Trứng Vũ Trụ nên Tổ Hùng có cốt vũ trụ, tạo hóa, có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa đội lốt Thần Nông-Viêm Đế nhất thể ứng với thái cực, Trứng Vũ Trụ và ở cõi nhân sinh lịch sử có nghĩa là Mặt Trời.

Như thế Hùng Vương mang tính nhất thể lưỡng tính phái. Theo duy dương là di duệ của Hùng Lang ‘toàn là con trai’mang dương tính phía mặt trời Trụ của vũ Trụ và theo duy âm không gian dương Vũ tức Khôn dương bầu vũ trụ, bầu trời, Khí Gió ứng với Đoài vũ trụ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Dân gian Việt Nam nghiêng về duy âm Lạc Việt gọi là Chàng (I) Gió (IO, thiếu âm) tức IIO, Đoài vũ trụ.

Tóm lại Tổ Hùng hay Chàng Gió có một khuôn mặt ứng với Đoài vũ trụ.

Lưu Ý

Đoài thường hiểu theo dịch muộn thế gian của Trung Hoa là ao đầm. Thật ra ở cõi tạo hóa, vũ trụ lúc sáng thế chưa có ao đầm. Đoài biến âm với đài, đẫy có một nghĩa là túi, bao, bọc. Anh ngữ Đoài gọi là Tui. Anh ngữ Tui biến âm với Việt ngữ Túi.

Vũ trụ, trời là một cái bọc nên gọi là bầu vũ trụ, bọc vũ trụ, bầu trời, bọc trời. Da là cái bọc thân người, trời là cái bọc, cái bao nên cũng có da gọi là da trời. Ông thần gió khoác cái bao, túi gió trên vai. Ở cõi trời cái bọc (O) mang tính lửa, thái dương (II) tức Khôn dương là bọc khí gió IIO tức Đoài vũ trụ. Ở cõi thế gian cái bọc (O) nước ấm, nóng (II) là Đoài ao đầm thế gian.

Vì thế ở cõi tạo hóa Đoài phải hiểu là bầu vũ trụ, khí gió phân biệt với Đoài thế gian hiểu theo Dịch muộn, thế gian Trung Hoa là ao đầm.

Cần phải phân biệt Đoài vũ trụ với Đoài thế gian.

Như thế bốn Tổ Phụ ứng với bốn quái Càn, Li, Chấn, Tốn.

Bốn Tổ Mẫu

-Vụ Tiên

Vợ Đế Minh là Vụ Tiên có nghĩa là con Le Le, (oan ương, uyên ương), vịt trời. Le Le là loài chim Nước bay được thuộc họ chim nước vịt, ngỗng, bồ nông. Vịt trời Le Le Vụ Tiên của Việt Nam bay ra tận Hawaii trở thành con ngỗng Ne Ne. Le Le đọc theo âm cổ là Ne Ne (một vài vùng miền Bắc Việt Nam vẫn gọi le le theo âm cổ là ne ne). Hawaii lấy con Ne Ne làm chim biểu cho tiểu bang (State Bird). Việt Nam và Hawaii có cùng vật tổ chim nước Le Le, Ne Me cũng dễ hiểu vì người Hawaii nằm trong tam giác Đa Đảo đến từ Nam Đảo, ven biển Đông Nam Á thuộc địa bàn cổ Việt. Họ có mang dòng máu Lạc Việt hải đảo (sẽ có bài viết riêng).

Việt ngữ Le có nghĩa là nước như chua le, chua lè là chua chẩy nước dãi (và cũng có thể chẩy nước đái như thấy qua câu nói chua vãi đái). Lè biến âm với nhè (l=nh như lặt = nhặt), ta có lè = nhè. Qua từ đôi lè nhè, ta cũng có lè = nhè. Hay nhè là hay chẩy nước mắt, hay khóc. Tây Ban Nha ngữ leche, Pháp nghữ lait /le/ là sữa, một thứ nước dinh dưỡng nuôi con người lúc đầu đời. Như thế Vụ Tiên là Nàng Nước Nước Le Le tức ‘hai nước’ tức nước thái âm. Le Le biết bay nên là nước ở cõi trời. Diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que nước thái âm là OO và trời, không gian là nòng O. Nàng Vụ Tiên Le Le là Nước OO cõi trời O tức OOO, quẻ Khôn. Khôn âm là Nước thái âm cõi trời.

Dân gian Việt Nam gọi Vụ Tiên Le Le là Nàng Nước. Nàng (O) Nước thái âm (OO) Vụ Tiên Khôn Nước OOO cõi vũ trụ, cõi trời hôn phối với Chàng Lửa trời, lửa vũ trụ Đế Minh Càn III.

Tóm lại Vụ Tiên ứng với quái Khôn.

-Long Nữ

Vợ Kì Dương Vương là Long Nữ hay Thần Long.

Thần có một nghĩa là Nước (xem Nhận Diện Danh Tính Thần Nông).

Long là linh thú có cốt rắn nước nhưng biết bay lên trời.

Như thế Thần Long có nghĩa là ‘Nước Bay’, ‘Gió Nước’.

Qua chữ nòng nọc vòng tròn-que Khan, có một nghĩa là Khảm.

clip_image003

Ta thấy Khan, Khảm, Nước có KH hình bầu trời, A hình nọc nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa thái dương hay núi tháp nhọn đất dương… và N hình sóng nước là nước.

Vì Long Nữ là vợ của Kì Dương Vương Li núi lửa thế gian nên ta chọn nghĩa của chữ A là núi tháp nhọn biểu tượng cho Đất thế gian. Như thế KHAN có thể hiểu là Nước Bầu Trời Bay Trên Đầu Núi, tức nước còn ở dạng mây bay mang tính mưa bay, tức nước thiếu âm khí gió. Khan, Khảm là nước thiếu âm OIO khác với Chấn là nước dương, lửa thái âm IOO và Khôn là nước thái âm OOO. Nước ở bầu trời O mang tính thiếu âm khí gió, hơi IO, tức OIO, quẻ Khảm.

Tóm lại Thần Long là nước mang tính thiếu âm, ‘nước bay’ trong gió có một khuôn mặt gió nước, mưa bay, hơi nước ứng với Khảm.

Dân dã Việt Nam gọi Long Nữ là Nàng Gió. Nàng (O) Khí Gió (IO) tức OIO, quẻ Khảm.

Cần lưu ý Khảm thường hiểu theo Dịch Trung Hoa là nước. Thật ra phải hiểu theo Dịch có nhiều loại nước. Khảm gốc là hơi nước bầu trời thế gian, nước thiếu âm. Trường hợp này giống Li thường hiểu theo Dịch Trung Hoa là lửa, Li phải hiểu là Đất Lửa, lửa đất, lửa thiếu dương.

Nàng Thần Long Khản Nước gió trời thiếu âm lầy Chàng Kì Dương Vương Li Lửa Đất thiếu dương.

Tóm lại Thần Long, Long Nữ ứng với Khảm.

-Âu Cơ

Vợ Lạc Long Quân là Âu Cơ. Âu biến âu với Au là đỏ như au đỏ, đỏ au. Đỏ là lửa, mặt trời. Âu Cơ là Cô, Nàng Lửa, Nữ Thần Mặt Trời (tương tự Nữ Thần Mặt Trời Ameraterasu Nhật Bản).

Dân dã Việt Nam gọi Âu Cơ là Nàng (O) Lửa thái dương (II) tức OII, quẻ Tốn.

Nàng Lửa thái dương Âu Cơ Tốn hôn phối với Chàng Nước thái âm Lạc Long Quân Chấn.

Tóm lại Âu Cơ ứng với quái Tốn ở cõi trời, cõi sinh tạo, tạo hóa.

-Hoàng Hậu của Tổ Hùng (truyền thuyết).

Còn lại vợ Tổ Hùng có khuôn mặt là Nàng Đất Cấn. Tổ Hùng Đoài vũ trụ có khuôn mặt bầu vũ trụ, bầu trời, khí gió, nói nôm na tổng quát theo dân dã là Trời hôn phối với một người nữ là Nàng Đất Cấn. Tổ Hùng và Hoàng Hậu là cặp hôn phối Trời với Đất, một khuôn mặt của cặp Bánh Dầy trời tròn Bánh Chưng đất vuông (vì thế mà ngày tết, giỗ Tổ Hùng thường cúng bánh dày bánh chưng).

Tóm lại bốn Tổ Mẫu của chúng ta ứng với Khôn, Khảm, Tốn, Cấn là bốn quái có cốt là tứ tượng âm.

Ta thấy rõ như dưới ánh mặt trời rạng ngời là các Tổ Phụ và Tổ Mẫu của chúng ta họp lại thành bát quái của một thứ Việt Dịch. Tôi gọi là Dịch Sử Truyền Thuyết Việt, viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, thứ chữ còn thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn [nòng âm, hào âm viết bằng O ở dạng đứng (cho thuận tiện việc gõ viết) thay cho hào âm là que đứt đoạn ở dạng nằm của Dịch Trung Hoa (xem Cách Viết Dịch Nòng Nọc Vòng Tròn Que).

clip_image005

Dịch Sử Truyền Thuyết Việt viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Theo Dịch đồ ở trên, nếu đọc theo ngành nọc dương thái dương tức theo chiều dương ngược chiều kim đồng hồ khởi đi tứ quái Càn ta có theo thứ tự bốn quái dương Càn, Li,

Chấn, Đoài ứng với bốn Tổ Phụ Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Tổ Hùng. Về phía bốn Tổ Mẫu ở đây cùng ngành nọc dương thái dương, tức mang tính nọc âm thái dương, ta cũng vẫn phải đọc theo chiều dương, chiều ngược kim đồng hồ như khởi đi từ quái Khôn Vụ Tiên (mẹ tối cao thế gian của Việt Nam) ta có theo thứ tự bốn quái âm Khôn, Khảm, Li, Cấn ứng với bốn Tổ Mẫu Vụ Tiên, Thần Long, Âu Cơ, Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Ta thấy rõ một điều là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Truyền Thuyết Việt rập theo khuôn truyền thuyết Tổ Việt và khác với Thiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ thì phải là Dịch của Việt Nam không thể chối cãi được. Việt Nam có Dịch riêng, khác với Dịch Hoa Hạ.

DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN TIÊN THIÊN NGỌC LŨ I QUA DỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT VIỆT. 

Tổng quát

Bây giờ ta tìm dịch đồng Ngọc Lũ i  qua Sử Truyền Thuyết Việt này trên trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I.

Tôi đã giải đọc cặn kẽ trống Ngọc Lũ I và đã đăng trên blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com qua 23 bài viết.

Tổng quát trống Ngọc Lũ I về hình thể là Trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) và về nội dung mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, dịch lý dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương). Mọi chi tiết lớn nhỏ đều diễn tả bằng hình, dấu, chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Ở đây nói về Dịch Sử Truyền Thuyết Việt trên trống đồng nòng nọc (âm dương) Ngọc Lũ I nên chỉ xin nhặt ra các yếu tố liên quan tới dịch này.

Để giản dị (đỡ nhức đầu cho độc giả) và tránh tranh cãi, tôi dựa vào các yếu tố dịch trên trống Ngọc Lũ I qua các con số của toán học mang tính cách khoa học, toán học khả tín như hai năm là mười.

Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia giải thích các con số theo nền văn mình, văn hóa mà họ thừa hưởng. Vì vậy ngày nay những con số mang những ý nghĩa khác nhau tùy theo ở phương Đông hay phương Tây, tùy theo đạo giáo, tín ngưỡng. Ngay cả theo các loại Dịch ý nghĩa của các con số cũng có thể khác nhau.

Ví dụ như đã biết nòng O là số không mà cũng có nghĩa là 1 (Anh ngữ One là một có O khởi đầu), theo một môn phái Ấn Độ nguyên âm O là số 9…(1). Vì thế cùng một con số nhưng có ý nghĩa và giá trị khác nhau ở những nơi khác nhau.

Chúng ta theo Vũ trụ giáo, Mặt trời giáo dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương nên dịch có trong máu, trong đầu óc chúng ta.

Như đã biết, dịch thấy bàng bạc trong văn hóa Việt Nam. Do đó các con số của chúng ta, nhất là các con số dùng trong tín ngưỡng, trong các ngày lễ lạc, giỗ tết thường mang ý nghĩa theo dịch nòng nọc vòng tròn que còn thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (xem Ý Nghĩa Ngày Giỗ Tổ Hùng, Ý Nghĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng, Ý Nghĩa Ngày Lễ Ông Dóng…).

Việt dịch khác với dịch Hoa Hạ. Trong dịch, lý số, phong thủy Hoa Hạ, các con số dĩ nhiên nhiều khi mang ý nghĩa khác với Việt dịch.

Các con số của chúng ta phải hiểu các con số theo nhị nguyên một cách toán học không diễn dịch theo suy diễn lung tung theo dịch lý, bói toán, lý số Hoa Hạ.

Lưu ý

Từ trước tới nay tôi luôn luôn dùng các con số trong dịch theo nhị nguyên mà không theo những ý nghĩa suy diễn khác của dịch Hoa Hạ và thấy các con số dùng trong dân gian Việt Nam tức trong văn hóa Việt Nam rất đúng với ý nghĩa nhị nguyên của dịch.

Các con số dùng thường ngày hiện nay theo hệ thống thập phân (decimal system). Vì thế muốn hiểu rõ các ý nghĩa của các con số theo hệ thống nhị nguyên của dịch, ta phải đổi những con số thập phân qua các con số dịch nhị phân.

Nhà triết gia kiêm toán học gia nổi tiếng người Đức Leibniz đã đổi 64 quẻ dịch từ thập phân qua nhị nguyên bằng cách thay số 0 vào hào âm và số 1 vào hào dương. Ông đã hoán đổi 64 quẻ của Dịch đồ vòng tròn Phục Hy sang dịch đồ 8 tầng hình vuông của ông.

Sau đây là phương vị của 64 quẻ của Phục Hy so với phép tính nhị nguyên của Leibniz:

Muốn hoán chuyển một con số thập phân qua hệ thống nhị nguyên, qua quẻ dịch ta lấy con số đó chia lần lượt cho 2 và mỗi lần ghi lại số thừa. Nếu chia chẵn nghĩa là con số thừa là 0 (hào âm), ta viết (O), nếu còn thừa lại 1 (hào dương) ta viết (I), tổng cộng lại ta sẽ có quẻ dịch tương ứng, ví dụ: số 8 : 8 chia cho 2 được 4 lần còn lại 0 ta viết (O); 4 chia cho 2 được 2 lần còn thừa 0, viết (O) như thế ta có hai lần chia còn thừa là (OO), bây giờ 2 chia cho 2 được 1 lần còn thừa 0 viết (O). Tổng cộng ta có ba con số thừa là (OOO). Đây chính là quẻ Khôn OOO. Số 8 là số Khôn. Dịch có 8 chu kỳ tuần tự, ta suy ra các quẻ do 8 trừ đi 8 hay cộng thêm 8 (bội số của 8) cho ra các số khác cũng vẫn có gốc là Khôn ví dụ 8 – 8 = 0, 8 + 8 = 16, 16 + 8 = 24, 24 + 8 = 32… Ta có 0, 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56 đều có gốc Khôn.

Lưu Ý

Ta thấy rất rõ Leibniz đã hoán đổi các số thập phân qua số nhị nguyên theo dịch nòng nọc-vòng tròn que như số 8 = OOO, quẻ Khôn với vạch (hào) nòng O không thể dùng hào que đứt đoạn của dịch que Hoa Hạ. Ở đây theo toán học cho thấy dịch que Hoa Hạ là dịch muộn, không nguyên thủy bằng dịch nòng nọc nòng tròn que ruột thịt với con số nhị nguyên 0 và 1. Đề nghị các nhà nghiên cứu dịch Việt Nam nên bỏ cách viết của dịch que của Hoa Hạ mà viết theo dịch nòng nọc-vòng tròn que như tôi đang dùng.

Sau đây là vài số thập phân đổi qua hệ thống nhị nguyên:

Số 1: tương đương với 01: 000 001

Số 2: tương đương với 02: 000 010.

Số 3: tương đương với 03 tức 000 011.

Số 4: = 000 100.

Số 5: = 000 101.

Số 6: = 000 110.

Số 7: = 000 111.

……

Chuyển qua các quẻ dịch ba vạch (trigram) viết chồng lên nhau, ta có:

Số 0 số 1 số 2 số 3 số 4 số 5 số 6 số 7

0 0 0 0 1 1 1 1 0 1 1 0 0 1 1 1

0 1 0 1 0 1 0 1

Theo dịch đọc từ dưới lên và theo dịch nòng nọc vòng tròn que ta thay số 1 bằng nọc que I và 0 bằng nòng O, ta có:

Khôn Chấn Khảm Đoài Cấn Li Tốn Càn.

clip_image007

Dịch nòng nọc vòng tròn que theo nhị nguyên.

Theo dịch Hoa Hạ viết bằng hào que ta có:

clip_image008

Dịch que Hoa Hạ theo hệ thống nhị nguyên.

(nguồn: http://proporzionedivina.blogspot.com/2009/06/i-ching-as-binary-system.html).

Ta thấy rất rõ dịch nòng nọc vòng tròn-que chính là dạng thức dịch nhị nguyên 1 và 0 (nọc que I chính là số 1 và nòng O chính là số không) trong khi dịch que Hoa Hạ, hào âm que đứt đoạn tuyệt nhiên không phải, không thể nào là số không 0 được). Dịch nòng nọc vòng tròn-que là mang tính nguyên thủy hơn, chính thống hơn, ‘nhị nguyên hơn’.

Tóm lại trong 64 quẻ dịch ta có:

– Số Khôn: 0, 8, 16, 24, 32, 40, 48, 56.

– Số Chấn: 1, 9, 17, 25, 33, 41, 49, 57.

– Số Khảm: 2, 10, 18, 26, 34, 42, 50, 58.

– Số Đoài: 3, 11, 19, 27, 35, 43, 51, 59.

– Số Cấn: 4, 12, 20, 28, 36, 44, 52, 60.

– Số Li: 5, 13, 21, 29, 37, 45, 53, 61.

– Số Tốn: 6, 14, 22, 30, 38, 46, 54, 62.

– Số Càn: 7, 15, 23, 31, 39, 47, 55, 63.

Bây giờ ta kiểm điểm, kiểm chứng, xác thực lại ý nghĩa những con số vừa nói ở trên theo dịch lý qua các con số dùng trong ca dao tục ngữ Việt Nam. Hãy lấy một ví dụ điển hình qua câu ca dao:

Ba vuông sánh với bẩy tròn.

Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

Ta thấy số 3 là số Đoài đi với vuông. Vuông là hình có bốn góc vuông, có bốn cạnh bằng nhau. Bốn cạnh hình vuông là bốn que nọc ghép lại, một que nọc là một nên vuông hàm nghĩa là 4. Số 4 là số Cấn, Đất (vì thế mới cho là đất vuông). Ba vuông là Đoài vũ trụ tức Trời và Cấn Đất tức Trời Đất cõi thế gian.

Còn bẩy là số Càn, lửa thái dương vũ trụ và tròn là số O, tức Khôn, nước thái âm vũ trụ ở tầng tạo hóa (Khôn không phải là Đất hiểu theo Dịch Hoa Hạ). Bẩy tròn là Càn Khôn cõi vũ trụ.

Rõ như ban ngày ba vuông là 3 + 4 = 7 đem so ‘sánh’ với bẩy tròn” là 7 + 0 = 7, rõ ràng bằng nhau, cả hai đều bằng 7.

Về Dịch lý “ba vuông” là hôn phối âm dương cõi trời đất thế gian, tiểu vũ trụ còn “bẩy tròn” là hôn phối âm dương cõi vũ trụ tạo hóa, đại vũ trụ. Câu ca dao

 Ba vuông sánh với bẩy tròn,

Đời cha vinh hiển, đời con sang giầu.

ý nói nếu sống hợp với lẽ giao hòa âm dương, thuận với tương giao vũ trụ Càn Khôn, trời đất Đoài Cấn thì sẽ sinh sôi nẩy nở, sinh tạo bội phần toàn vẹn vì thế mà đời đời vinh hiển sang giầu.

DỊCH ĐỒNG NGỌC LŨ I QUA DỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT VIỆT TRÊN TRỐNG NGỌC LŨ I.

Như thế dịch đồng Ngọc Lũ I qua sử truyền thuyết Việt này cũng có một khuôn mặt Tiên Thiên bát quái tổng quát.

Qua các bài giải đọc trống Ngọc Lũ I, chúng ta đã biết:

Trống có mặt trời rạng ngời với 14 nọc tia sáng chói chang. Số 14 là số Tốn tầng 2 (6 , 14) thuộc nhóm trống lửa thái dương, thế gian có các vành ngoại biên là hai vành nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc thái dương sinh động. Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của nhánh mặt trời nọc dương thái dương thế gian thuộc ngành mặt trời thái dương.

Đối chiếu với truyền thuyết, cổ sử Việt, trống Ngọc Lũ I là trống biểu của ngành Người Mặt Trời Nọc Dương Thái Dương rạng ngời Bách Việt thuộc chủng người vũ trụ Viêm Đế-Thần Nông. Ở cõi thế gian ứng với họ Mặt Trời Hồng Bàng, ở cõi lịch sử là nhánh Đế Minh-Hùng Kì nhánh nọc mặt trời dương thái dương với khuôn mặt Hùng Kì mang tính chủ vì trống Ngọc Lũ I là trống thế gian (mặt trời có số nọc tia sáng lớn hơn 8 và có vành chủ đạo có hình hươu sừng, thú biểu của Kì dương Vương và có cảnh sinh hoạt nhân sinh).

.Bây giờ ta tìm các quẻ (quái) ba vạch ứng với Sử Truyền Thuyết Việt qua trung gian các con số.

Nguyên tắc chọn lựa các yếu tố dịch.

Nguyên tắc là phải chọn lựa các yếu tố mang tính:

.nọc lửa, thái dương

Trống Ngọc Lũ I là trống thuộc nhóm Lửa thái dương nên các yếu tố dịch phải mang tính nọc dương chuyển động, sinh động như người-chim mặt trời, thú (hươu nai), chim (cò, chim đứng, nông, trĩ) thuộc ngành nọc dương thái dương. Ở phía tứ tượng dương các con thú, chim phải mang dương tính, đực, thái dương và ở phía tứ tượng âm phải là nọc âm mang tính thái dương.

Ngược lại ở trống Hoàng Hạ thuộc nhóm trống nọc dương thái âm ta có thể chọn những yếu tố không phải là động vật như sóng dương chuyển động vì ở trống Hoàng Hạ các thú hươu được thay thế bằng hình sóng nước kép thái dương.

.mang tính thế gian.

Nét chính của trống thế gian là vành sinh hoạt nhân sinh và vành có hươu nai.

clip_image010

Vùng đất dương.

Trên trống Ngọc Lũ I vành này gồm có hai nhóm người: một nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương và một nhóm 6 người nhẩy múa ở bán viên âm.

Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương có trang phục đầu hình quả bầu nậm.

clip_image012

Người cuối cùng ở nhóm 7 người trên bán viên dương.

Bầu nậm có cổ hình nọc I ứng với Trụ và bầu hình nòng O ứng với bầu, bao, bọc, vỏ, Vũ cho biết hai nhóm người thuộc chủng Người Vũ Trụ ứng với truyền thuyết Việt nói rằng Đại Tộc Việt sinh ra từ một quả bầu (vũ trụ). Người Việt chui ra trước có da sáng hơn các tộc chui ra sau.

Ngoài người cuối cùng này ra, còn lại 12 người của hai nhóm đều có trang phục đầu tổng quát giống nhau cho biết cả hai nhóm cùng một ngành.

clip_image014

Một trong mười hai người còn lại của hai nhóm người nhẩy múa ở hai bán viên dương và âm có trang phục đầu tổng quát giống nhau.

Trang phục đầu của 12 người này hình chim. Họ là người chim, Người Mặt Trời. Trang phục đầu có góc cạnh sắc, nhọn mang dương tính, thái dương. Đầu chim phía trước có sừng hình nọc thẳng đứng đây là con chim mỏ cắt lửa (Great Hornbill, Buceros Bicornis). Chim mỏ cắt là chim rìu, chim Việt, chim mỏ sừng (hornbill) là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế. Viêm Đế có họ Khương có nghĩa là Sừng. Đây là những Người Mặt Trời Thái Dương thuộc hai nhánh nọc dương thái dương và nọc âm thái dương ngành nọc mặt trời thái dương Viêm Đế.

Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của Người Mặt Trời thái dương, nhánh nọc d ương thái dương, ngành mặt trời nọc thái dương, chủng ngưởi vũ trụ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, đây là Người Việt Mặt Trời thái dương, nhánh Nọc việt dương thái dương, ngành mặt trời thái dương Viêm Đế-Đế Minh-Hùng Vương Mặt Trời thái dương.

.Phải chọn con số mang yếu tố dịch thích ứng với từng loại dịch. Phải chọn các yếu tố dịch mang tính sinh tạo, tạo hóa cho Tiên Thiên bái quái và các yếu tố dịch mang tính thế gian cho Hậu Thiên bát quái. Ví dụ ở bán viên âm của trống Ngọc Lũ I có hai số Khôn 8 là 8 con nông và 8 người nhẩy múa, ta phải chọn 8 con nông cho dịch mang tính Tiên Thiên và 8 người cho dịch mang tính Hậu Thiên.

.Ở dịch Tiên Thiên, vì các cặp quẻ ba vạch hôn phối dạng vợ chồng và nếu mặt trống có hai bán viên đối ứng nòng nọc (âm dương) trọn vẹn với nhau ta chọn những các quẻ ba vạch ứng với tứ tượng dương ở bán viên dương và các quẻ ba vạch ứng với tứ tượng âm bán viên âm.

Ở dịch Hậu Thiên có sự hôn phối hỗn hợp tương đồng ruột thịt cha con trai, mẹ con gái và vợ chồng. Hai cặp chủ chốt trong Hậu Thiên là cặp Đoài-Chấn theo con trai với cha (Hùng Vương với Chấn Lạc Long Quân) và cặp Cấn-Tốn theo con gái với mẹ (Hoàng Hậu Hùng Vương với Âu Cơ). Ta thấy rõ Hậu Thiên nghiêng về phía nòng âm Khôn Đoài Chấn nên ta chọn các cặp mang âm tính là Đoài Chấn và Cấn-Tốn tức theo hôn phối con trai-cha và con gái-mẹ ở bán viên âm còn các cặp Li-Khảm, Càn-Khôn theo hôn phối chồng vợ, ta có thể chọn ở cả hai bán viên dương và âm.

Bây giờ ta đi tìm các thành tố dịch căn bản là thái cực, lưỡng nghi (nòng nọc, âm dương), tứ tượng, bát quái (4 tượng dương và 4 tượng âm) của dịch ứng với Sử Truyền Thuyết Việt diễn tả qua các con số trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image016

Mặt trống Ngọc Lũ I.

.Thái cực

Trứng vũ trụ, thái cực thấy rõ qua trang phục đầu của người cuối cùng ở nhóm 7 người nhẩy múa có hình bầu nậm. Vỏ trứng thái cực (vòng tròn bao quanh đỉnh nọc tia sáng) ở đây rất mỏng mang tính lửa thái dương.

.Lưỡng nghi

Như đã biết, tổng quát trống đồng nào ở tâm trống cũng có mặt trời nằm trong vòng tròn không gian diễn tả vũ trụ nòng nọc (âm dương). Tuy nhiên ở đây ta phải chọn các con số diễn tả nòng nọc (âm dương) riêng của trống này.

Vành chủ thể mang tính nòng nọc, âm dương là vành ngoài sát biên trống có 18 con cò bay và 18 con chim đứng.

Nhìn tổng quát, 18 là số Khảm tầng 3 (2, 10, 18). Khảm OIO là nòng âm O thiếu âm IO có Đoài vũ trụ khí gió IIO (là nọc I thiếu âm IO) là đại diện. 18 con cò Lang biểu tượng cõi tạo hóa ở cõi trời thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió. Khảm hôn phối với Li nên 18 con chim đứng trên đất (có một khuôn mặt là Li) biểu tượng cho cõi trời Đất thế gian Li. Đây là lưỡng hợp thiếu âm Đoài với thiếu dương Li tức lưỡng hợp tiểu vũ trụ cõi người thế gian (thiếu là tiểu) (ăn khớp với trống này có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian). Đây là dạng hôn phối nòng nọc (âm dương) thế gian.

Rất tiếc chưa định được danh tính từng con một của 18 con chim đứng (tôi chưa có dịp nhìn tận mắt trống Ngọc Lũ I để nghiên cứu mà hiện nay chỉ có hình vẽ của một số chim trong 36 con chim này).

clip_image018

Một số cò bay và chim đứng.

Vì thế chỉ có thể giải đọc vành này một cách tổng quát.

Những con cò ở đây là những con cò Lang, cò ió mà hiện nay nhiều nhà làm văn hóa Việt Nam còn gọi lầm là chim Lạc, tôi đã viết rõ trong bài Cò Lang hay chim Lạc? (xem bài viết này).

Cò gió biểu tượng cho gió tức không gian dương, thái dương (II) nòng O âm ứng với Đoài IO vũ trụ khí gió. Cò gió, cò lang là chim biểu của Lang Hùng tức Hùng Vương có mạng Đoài vũ trụ khí gió khí gió.

clip_image020Con số 18 cũng là mã số DNA của Hùng Vương (xem DNA của Hùng Vương).

18 con cò Lang bay diễn tả cõi trời, cõi trên mang tính sinh tạo đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa, Vũ Trụ, Thượng Thế. Đây là yếu tố Trời tạo hóa. Cò Lang bay là biểu tượng cho cõi Trời mang tính Đoài vũ trụ khí gió thiếu âm.

Còn 18 con chim đứng chưa biết rõ danh tính chỉ biết chim biểu tượng cõi trời và đứng trên mặt đất là chim biểu tượng cõi trời của Đất thế gian. Đất dương ứng với thiếu dương Li. Trong 18 con chim đứng phải có một con chim biểu tượng cho bầu trời Đất thiếu dương Li. Con chim này là con chim mang tính lửa nghĩa là có các yếu tố dương như mỏ to như mỏ rìu và sống nhiều trên mặt đất. Các con chim biểu tượng cho đất dương Li là chim cắt đất (ground hornbill) trĩ, gà… Trong 18 con chim đứng có một con có mỏ lớn như mỏ rìu.

clip_image022

Một con chim đứng.

Chim này có con mắt dương nọc chấm vòng tròn, cuối mỏ có đánh dấu nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > có nghĩa là nọc, dương, lửa, thái dương sinh động. Đặc biệt nhất là dưới cổ có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc chấn vòng tròn. Theo duy dương có những nghĩa là mặt trời tạo hóa và cũng có nghĩa là thiếu dương (OI) Li (xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn Que Hình Chấm Nọc-Vòng Tròn). Như vậy con chim này là chim mỏ rìu mang tính Đất lửa thiếu dương Li ngành mặt trời thái dương (Viêm Đế). Đây có thể là con chim bồ cắt đất (bồ = O, Cắt = I, tức OI, thiếu dương nguyên thể của đất) ngành mặt trời thái dương.

Một điểm hỗ trợ nữa là con chim này đứng ngay dưới con cò có bờm phướn gió trong có ba gạch que ngang là Càn hai bên có hai chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc chấm-vòng tròn có những nghĩa mặt trời, thái dương sinh tạo. Con cò này mang tính lửa vũ trụ thái dương tạo hóa như thế con chim đứng ở dưới cũng có thể mang ý nghĩa lửa ở cõi đất.

Như thế đi vào chi tiết ta cũng thấy hiển nhiên lưỡng hợp Trời và Đất tiểu vũ trụ này có khuôn mặt là hai yếu tố nòng nọc, âm dương ứng với hai cực, lưỡng nghi của Hùng Vương Lạc Việt.

Tóm lại nhìn chung và đi vào chi tiết vành 18 cò bay và 18 chim đứng có một khuôn mặt diễn tả nòng nọc (âm dương), lưỡng nghi của Hùng Vương thế gian.

.Tứ Tượng

Mặt trống Ngọc Lũ I chia ra làm hai bán viên đối ứng nòng nọc (âm dương) trọn vẹn nên bán viên dương có tứ tượng dương và bán viên âm có tứ tượng âm ngành nọc mặt trời thái dương.

Bán Viên Nọc, Dương và Tứ Tượng Dương.

.Càn ứng với Đế Minh.

Trống Ngọc Lũ I thuộc nhóm trống thái dương Tốn-Càn nên ta chọn khuôn mặt Càn trước.

Ta có hai số Càn là Càn 7 nọc tia sáng mặt trời và Càn 7 người nhẩy múa ở bán viên dương này.

Vì Đế Minh có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa thế gian ta chọn Càn 7 nọc tia sáng cho thích hợp với khuôn mặt Tiên Thiên bát quái. Còn Càn 7 người nhẩy múa thích hợp với Hậu Thiên bát quái.

Số 7 nọc tia sáng là số Càn, lửa vũ trụ ứng với Càn Đế Minh, Đế Ánh sáng.

.Li ứng với Kì Dương Vương.

Trống Ngọc Lũ I là trống thế gian vì có mặt trời có số nọc tia sáng lớn hơn 7 nên khuôn mặt lửa đất thế gian Li đội lốt lửa trời, lửa vũ trụ Càn mang tính chủ.

Như đã biết, lửa đất thế gian Li Kì Dương Vương có những khuôn mặt là Vua Hươu Đực Lộc Tục và Vua Hươu Mặt Trời thái dương. Hươu là thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng lửa biểu tượng cho Đất Lửa Li, là thú biểu của Kì Dương Vương.

Ở bán viên dương này nằm sát nhà nọc mặt trời về phía tay phải có dàn trống có 5 ô, 4 ô có 4 người ngồi đánh trống và một ô riêng cho lá phướn, trong khi ở bán viên âm chỉ có 4 ô.

clip_image040

 Ở bán viên dương dàn trống có 5 ô.

clip_image042

Dàn trống ở bán viên âm chỉ có 4 ô.

Trường hợp này giống ở trống Hoàng Hạ, dàn trống ở bán viên dương có thêm con chim bay ở trên để có số 5 Li, còn bán viên âm không có chim (xem trống Hoàng Hạ) và ở trống Sông Đà, một dàn trống có thêm cây cột phướn cho có số 5 Li, còn dàn trống bên kia không có (xem trống Sông Đà).

Số 5 là số Li ứng với Kì Dương Vương.

Câu hỏi được đặt ra là tại sao số 5 Li lại đi với trống?

Trước hết dàn trống có 4 người. Số 4 là số Cấn OOI, nòng âm O thiếu dương OI, có Li IOI là nọc dương I thiếu âm OI làm đại diện. Thứ đến trống mang trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh như trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I), trong đó trống có một nghĩa là nọc (đực), là chống (cây, trụ chống đỡ). Hán Việt cổ (trống) ruột thịt với  Việt ngữ cổ có nghĩa là cây, cọc, cột như ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời, cổ (neck) là cây, cột, phần nối dài của cột sống để cắm đầu vào thân. Trống nguyên thủy làm từ một khúc cây. Do đó trống liên hệ mật thiết với núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời biểu tượng cho đất dương thế gian tức Li.

Ta thấy rõ nhất trong ma phương Lạc Thư 5/15 có số trục là số 5 và tất các chi nhánh cộng lại bằng 15 thì số trục biểu tượng cho trụ thế gian, trụ chống trời con hình vuông biểu tượng cho đất bằng. Đây chính là lý do người Hoa Hạ chọn số 5 làm hành thổ khi ngũ hành diễn tả theo ma phương này.

Đây là lý do số 5 trên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn thường tím thấy ở dàn trống.

Bây giờ ta xét tới hai khuôn mặt âm của ngành nọc dương thái dương là Chấn và Đoài vũ trụ khí gió.

.Chấn ứng với Lạc Long Quân.

Ờ cõi đại vũ trụ, ta có hôn phối thái dương Càn với thái âm ngành nọc dương Chấn.

Ở bán viên dương này, ta có hai số Chấn là Chấn  1 chim trĩ và Chấn 9 cò bay. Trên nóc nhà thờ phượng nọc mặt trời mái cong ở bán viên dương này có một con chim trĩ.

clip_image032

Một con chim trĩ trên mái nhà nọc mặt trời trên bán viên dương trên trống Ngọc Lũ I.

Đây là con chim trĩ đực vì nó quay về phía tay phải, phía dương (dương có một nghĩa là đực).

Chim trĩ là chim lửa. Người Trung Hoa thần thoại hóa chim trĩ thành chim phượng. Chim trĩ là loài gà sống nhiều trên mặt đất nên có khuôn mặt thế gian và đậu trên mái nhà chứ không bay nên cũng có khuôn mặt bầu trời đất thế gian.

Số 1 là số Chấn tầng 1 cõi trời, cõi trên. Số Chấn thứ hai là 9 con cò bay (ở một bán viên nên chỉ có 9 con, tức một nửa vành 18 con). Số 9 là số Chấn  tầng 2 (1, 9) cõi trời thế gian.

Ta chọn số 1 Chấn chim trĩ vì không cần tới số 9.

Như vậy 1 chim trĩ ứng với Chấn 1 Lạc Long Quân sinh tạo.

.Đoài ứng với Tổ Hùng.

Ở cõi tiểu vũ trụ ta có hôn phối thiếu dương Li với thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió.

Trong nhà nọc mặt trời ở bán viên dương này có 3 người. Hai người ngồi đưa hai tay lên cao, ngửa mặt lên trời đang làm lễ cung nghinh mặt trời. Người thứ ba ngồi ở góc phải dưới đang cầm hay đánh chiếc trống lục giác trong có vòng tròn rỗng nhỏ cột vào giữa một cây nọc (ở bán viên âm không có người này). Trống này diễn tả trống Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống. Trống vốn có một khuôn mặt biểu tượng cho không gian như ta thường nghe nói tiếng trống thu không. Ta có từ đôi trống không nghĩa là trống = không. Vì thế mới có vòng tròn nhỏ rỗng ở tâm trống phụ đề thêm cho biết trống biểu tượng cho nòng, không gian, bầu vũ trụ, bầu trời. Trống hình lục giác với số 6 là số Tốn (OII) có một khuôn mặt là không gian O lửa, thái dương II tức Khôn dương khí, gió. Tốn là Gió âm là vậy. Trống Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống mang tính sinh tạo, Tạo Hóa. Tóm tắt lại trống này biểu tượng bầu không gian O thái dương II tạo hóa. Đây chính là bản thể khí gió Đoài IIO vũ trụ của Tổ Hùng sinh ra từ bọc Trứng Vũ Trụ.

Số 3 là số Đoài tầng 1 vũ trụ.

Như vậy 3 người dòng mặt trời ở trong nhà nọc mặt trời ứng với Đoài vũ trụ khí gió Tổ Hùng ngành nọc mặt trời thái dương.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời rạng ngời, vùng đất dương ở bán viên dương có những người, thú, chim diễn tả, qua các con số mang nghĩa nhị nguyên, những khuôn mặt ứng với bốn quẻ ba vạch Càn, Li, Chấn, Đoài của bốn Tổ Phụ mặt trời ngành mặt trời thái dương Viêm Đế.

-Bán Viên Âm và Tứ Tượng Âm.

.Khôn ứng với Vụ Tiên

Ở bán viên âm này, ta có 8 con chim nông thuộc loài chim nước.  Vụ Tiên là vịt trời Le Le cùng loài chim nước bồ nông nên ta chọn số Khôn 8 con nông nước.

Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8) tức Khôn cõi trời thế gian (Khôn 0 ở tầng Tạo Hóa).

Như thế 8 con nông ứng với Khôn Vụ Tiên nhánh âm của ngành mặt trời thái dương.

.Khảm ứng với Long Nữ

Ta có hai số Khảm là Khảm 2 con trĩ (tầng 1) và Khảm 10 con hươu nai (tầng 2).

Trên nóc nhà nọc mặt trời ở bán viên âm này có hai con chim trĩ.

clip_image036

Ngôi nhà thiêng liêng nọc, mặt trời ở bán viên âm.

Ta chọn Kh ảm 2 con trĩ vì một con đực, lớn, đuôi dài quay về phía tay phải, phía dương và một con cái nhỏ, đuôi ngắn quay về phía tay trái, phía âm. Con đực diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que là nọc que I (hào dương) và con cái là nòng O (hào âm). Đọc theo chiều âm tức chiều kim đồng hồ ta có IO, thiếu âm, khí gió. Như đã biết, Long Nữ có cốt là Khảm OIO tức Nàng O Gió IO. Hai con chim trĩ này ở bán viên âm diễn tả bản thể khí gió của Khảm Thần Long.

Số 2 là số Khảm.

Như vậy hai con chim trĩ diễn tả thiếu âm này ứng với Khảm Long Nữ nhánh âm của ngành mặt trời thái dương.

.Tốn ứng với Âu Cơ

Ở bán viên âm này có 6 người mặt trời thái dương nhẩy múa.

clip_image038

6 người nhẩy múa ở bán viên âm.

Hiển nhiên số 6 là số Tốn.

Tốn OII có một khuôn mặt là mặt trời đĩa tròn âm O thái dương II. Dân dã Việt Nam gọi là Nàng O Lửa II.

6 người mặt trời thái dương này thuộc nhánh Nàng Lửa, Mặt Trời Nữ Thái Dương Âu Cơ.

Như vậy nhóm 6 người mặt trời nhẩy múa này ứng với Tốn Âu Cơ nhánh âm lửa, mặt trời nữ của ngành nọc thái dương.

.Cấn ứng với Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Ở hai bán viên, bên phải nhà nọc mặt trời đều có một dàn trống có bốn người đánh trống.

clip_image040

Dàn trống ở bán viên dương. Ở bán viên dương này bốn người đều ngồi.

clip_image042

Dàn trống ở bán viên âm. Ở bán viên âm này có một người sau cùng đứng.

Ta thấy ngay số 4 là số Cấn, Núi.

Ở đây ta lại gặp một khúc mắc nữa là tại sao lại diễn tả Cấn, đất âm bằng bốn người đánh trống?

Hiểu theo nghĩa thông thường của trống thì 4 người đánh 4 chiếc trống để tỏa ra bốn phương trời. Tuy nhiên nhìn theo dịch lại có nghĩa khác.

Tại sao trống lại đi với số 4? Trống có một khuôn mặt biểu tượng cho sấm (đánh trống qua cửa nhà sấm). Ông thần sấm thường cầm trống.

Nhưng quan trọng hơn là ông thần sấm có nhà ở đầu núi. Lạc Long Quân Chấn có một khuôn mặt sấm có nhà ở đầu Núi Cấn Âu Cơ (dẫn 50 con lên Núi). Ta thấy rất rõ 4 người có số 4 Cấn (Âu Cơ) đánh trống sấm (Lạc Long Quân). Dàn trống diễn tả sự hôn phối vợ chồng Cấn-Chấn (Âu Cơ-Lạc Long Quân).

Đi sâu vào chi tiết nữa ta thấy người sau cùng trong 4 người đánh trống ở bán viên âm đứng quay mặt về phía tay trái. Phía trái cho biết dàn trống của nhánh âm trên bán viên âm (trong khi bốn người đánh trống ở bán viên dương đều quay mặt về phía tay phải, phía dương). Ở bán viên âm này chỉ có 4 khung (ba khung có người, khung đầu chỉ có một chiếc phướn), số 4 là số Cấn. Trong khi ở bán viên dương có 5 khung, số 5 là số Li, Đất dương (4 khung mỗi khung có một người và khung đầu chỉ có một chiếc phướn). Đất dương 5 Li ăn khớp với bán viên dương. Ở bán viên âm vẫn giữ 4 khung với 4 là số Cấn, Núi âm. Khung cuối cùng có hai người, một đứng, một ngồi, thay vì một người một khung nên mang một ý nghĩa mấu chốt. Trong dịch, đứng là dương, là I, ngồi là âm, là O (ở một vài tộc Thổ Dân Mỹ châu ngồi mang nghĩa là chết. Họ chôn người chết ở tư thế ngồi bó gối giống như tư thế của bào thai ngồi trong bụng mẹ). Người đứng dương quay mặt về phía trái, phía âm nên trong chữ nòng nọc vòng tròn-que phải đọc theo chiều âm, cùng chiều kim đồng hồ, hai người ngồi đứng trong khung cuối cùng đọc là OI, thiếu dương nguyên thể của đất (Cấn, Li).

Hai người này cho biết dàn trống hàm nghĩa Cấn Đất núi nhánh âm. Ở bán viên âm này bốn người đánh trống diễn tả đất, núi âm Cấn. Cũng xin nhắc thêm là Chấn IOO ngược với Cấn OOI. Chấn có một khuôn mặt sấm mưa có biểu tượng là trống nên dàn trống Chấn đi với 4 người Cấn núi giống như Chấn Lạc Long Quân có một khuôn mặt sấm mưa hôn phối với Cấn Âu Cơ có một khuôn mặt núi.

Tóm lại 4 người đánh trống ở bán viên âm ứng với Cấn vì số 4 là số Cấn.

Như thế bốn người đánh trống ở bán viên âm ứng với Cấn Hoàng Hậu Tổ Hùng thế gian.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời rạng ngời ở bán viên âm có những người, chim diễn tả, qua các con số mang nghĩa nhị nguyên, những khuôn mặt ứng với bốn quẻ ba vạch Khôn, Khảm, Tốn, Cấn của bốn Tổ Mẫu nhánh mặt trời âm ngành mặt trời thái dương Viêm Đế-Thần Nông thái dương.

Tám Quẻ Ba Vạch (Bát Quái).

Tứ tượng dương và tứ tượng âm tạo thành tám quẻ ba vạch.

Hiển nhiên chúng ta có một loại Tiên Thiên bát qúai Ngọc Lũ I kiểm chứng qua Dịch Sử Truyền Thuyết Việt .

Bây giờ ta đi tìm dịch đồ của dịch này.

Ta biết trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống lửa, thái dương. Số 14 là số Tốn tầng 2 (6, 14).

Tốn 14 có hai khuặn mặt chính là Càn và Li. Tốn 14 bước thêm một bước về phía tay phải, chiều dương là 15 Càn và lùi một bước về phía trái, âm là số 13 Li. Tốn OII là nòng O âm thái dương II tương đồng bản thể với Càn III, nọc I dương thái dương. Ngoài ra, Tốn hôn phối với Chấn và với Đoài vũ trụ khí gió. Như thế nhóm trống lửa thái dương có bốn khuôn mặt chính là Càn, Li, Chấn và Đoài vũ trụ khí gió.

Tuy nhiên dựa vào hai nhóm ngưởi nhẩy múa đều có trang phục đầu hình chim dương, có đường nét thẳng và góc cạnh, có sừng hình trụ thẳng và cao của chim cắt lửa thái dương, cho biết trống Ngọc Lũ I là trống biểu riêng của nhánh nọc dương thái dương Càn Li mà thôi (nên ta loại trừ hai khuôn mặt Chấn và Đoài vũ trụ khí gió ra ngoài).

Thêm nữa, như đã biết, trống Ngọc Lũ I là trống thế gian nên khuôn mặt Li đội lốt Càn là khuôn mặt mang tính chủ. Như thế trống Ngọc Lũ I có hai khuôn mặt dịch chính là Càn theo nhóm trống Lửa thái dương Càn và Li theo khuôn mặt đại tộc Li mang tính chủ.

-Dịch Nhìn Theo Nhánh Nọc Lửa Thái Dương Càn hay Tiên Thiên Bát Quái Ngọc Lũ I Càn Đế Minh Sử Truyền Thuyết Việt.

Nhìn theo diện lửa thái dương của trống này thì Càn Đế Minh để lên trên hết. Kế tiếp vì trống Ngọc Lũ I thế gian có Li mang tính chủ đội lốt Đế Minh ở cõi nhân gian nên tiếp đến là Li Kì Dương. Đi theo dòng truyền thuyết sử Việt thì tiếp đến nữa là Chấn Lạc Long Quân và cuối cùng là Tổ Hùng thế gian Đoài vũ trụ khí gió.

Ta có Tiên Thiên bát quái Ngọc Lũ I Càn Đế Minh Sử Truyền Thuyết Việt ngành Nọc Việt dương thái dương, một dạng Tiên Thiên bát quái Phục Hy Sử Truyền Thuyết Việt.

clip_image044

Tiên Thiên Bát Quái Ngọc Lũ I Càn Đế Minh Sử Truyền Thuyết Việt.

Theo Dịch đồ ở trên, nếu đọc theo ngành nọc dương thái dương tức theo chiều dương ngược chiều kim đồng hồ khởi đi từ quái Càn ta có theo thứ tự là bốn quái dương Càn, Li, Chấn, Đoài ứng với bốn Tổ Phụ Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Tổ Hùng. Về phía bốn Tổ Mẫu ở đây cùng ngành nọc dương thái dương, tức mang tính nọc âm thái dương, ta cũng vẫn phải đọc theo chiều dương, chiều ngược kim đồng hồ nhưng khởi đi từ cực âm đối ứng với cực dương Càn tức khởi đi từ quái Khôn Vụ Tiên (mẹ tối cao thế gian của Việt Nam) ta có theo thứ tự bốn quái âm Khôn, Khảm, Tốn, Cấn ứng với bốn Tổ Mẫu Vụ Tiên, Long Nữ, Âu Cơ, Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Vì các Tổ Phụ và Tổ Mẫu của chúng ta nhìn dưới diện truyền thuyết là các vị thần tổ mang tính sinh tạo, đội lốt tạo hóa nên Việt Dịch Ngọc Lũ I Sử Truyền Thuyết là một thứ Tiên Thiên Bát Quái.

.So sánh với Việt Dịch Bầu Cua.

Việt dịch đồng Ngọc Lũ I Sử Truyền Thuyết này giống với Việt Dịch Bầu Cua nếu nhìn theo chiều dương của Dịch Bầu Cua. Đọc theo chiều dương ta có Bầu Cọc Cá Cua ứng với Đế Minh Càn Bầu, Kì Dương Vương Li Cọc Hươu, Lạc Long Quân Chấn Cá và Tổ Hùng Đoài vũ trụ khí gió Cua.

So Sánh Với Dịch Hoa Hạ.

Nếu đem so sánh với Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy của Hoa Hạ, ta thấy các quẻ trên Việt dịch đồng Ngọc Lũ I Càn Đế Minh Sử Truyền Thuyết này và Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ dùng từ cổ thời cho tới hiện nay có sự giống nhau về từng cặp quẻ ba vạch hôn phối với nhau, chỉ khác thứ tự các quẻ ba vạch. Ở Tiên Thiên bát quái Ngọc Lũ I Càn Đế Minh, ta có theo thứ tự Càn Đế Minh, Li Kì Dương Vương, Chấn Lạc Long Quân và Đoài vũ trụ Tổ Hùng thay vì là Càn, Đoài, Li, Chấn thấy trên Tiên Thiên bát quái Phục Hy Hoa Hạ.

clip_image045

Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

Như thế Việt dịch Ngọc Lũ I Càn Đế Minh Sử Truyền Thuyết cũng là một thứ Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nhưng khác với Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ về vị trí của các quẻ ba vạch. Tôi gọi là Tiên Thiên Bát Quái Ngọc Lũ I Càn Đế Minh Sử Truyền Thuyết Việt.

-Dịch Nhìn Theo Khuôn Mặt Li Mang Tính Chủ hay Dịch Kì Việt Thế Gian.

Ở dịch này dựa trên khuôn mặt Li mang tính chủ. Li Kì Dương Vương đích thực là vua thế gian của nước Xích Quỉ và hai vị Tổ Lạc Long Quân và Tổ Hùng cũng có khuôn mặt thế gian hay lịch sử tức bây giờ chỉ là hai đại tộc Hùng Lạc và Hùng Lang

Trong Dịch này quẻ ba vạch Li ứng với Kì Dương Vương phải để trên hết tiếp theo là hai Chấn Lạc Long Quân, Đoài Tổ Hùng/Hùng Vương rồi mới tới quẻ ba vạch Càn Đế Minh, tức theo thứ tự Li, Chấn, Đoài Càn hay Li Đoài Chấn, Càn. Có thể có hai thứ tự:

1. Theo Thứ Tự Li, Chấn, Đoài, Càn.

Ta thấy nếu để theo thứ tự Li, Chấn, Đoài, Càn này thì Kì Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân thế gian/lịch sử tức Hùng Lạc, Lạc Việt và Lạc Long Quân thế gian/lịch sử sinh ra Hùng Vương thế gian/lịch sử tức Hùng Lang, Lang Việt. Còn Đế Minh Càn chỉ manh tính sinh tạo tượng trưng (deus otiosus). Ta có dịch Kì Dương Vương Ngọc Lũ I Lạc Việt-Lang Việt. Dịch này có thứ tự đúng theo truyền thuyết Việt nên mang tính chuẩn, chính thống.

2. Theo Thứ Tự Li Đoài Chấn Càn.

Còn theo thứ tự Li, Đoài, Chấn, Càn thì Kì Dương Vương thế gian sinh ra hai chi nhánh: chi nhánh Hùng Lang, Lang Việt Đoài và chi nhánh Hùng Lạc, L ạc Việt Chấn, ta có dịch Kì Dương Vương Lang Việt-Lạc Việt. Dịch này không theo đúng thứ tự của truyền thuyết Việt nên không chuẩn.

Hậu Thiên Bát Quái Trên Trống Ngọc Lũ I.

Ta đã thấy trống Ngọc Lũ I có dịch mang tính Tiên Thiên vì trống Ngọc Lũ I có một khuôn mặt diễn tả thuyết vũ trụ tạo sinh trọn vẹn thấy qua hình thái tứ tượng ở khoảng không gian giữa các nọc tia sáng, qua vành tứ hành, qua người thứ 7 của nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu quả bầu nậm vũ trụ, qua đối ứng nòng nọc (âm dương) trọn vẹn của hai bán viên…

Tuy nhiên, trước hết trống Ngọc Lũ I là trống có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống thế gian và như đã thấy ở trên, trống Ngọc Lũ I cũng có dịch diễn tả riêng của nhánh nọc dương Càn Li, của đại tộc Li mang tính chủ và có nhiều yếu tố có cùng hai con số như đã nói ở trên ví dụ như ở bán viên dương có hai số Càn 7 là Càn 7 nọc tia sáng mặt trời và Càn 7 người  nhẩy múa… như thế trống Ngọc Lũ I cũng có một thứ dịch mang tính Hậu Thiên, thế gian.

Sự khác biệt giữa Hậu Thiên bát quái Việt dịch và Hậu Thiên bát quái Văn Vương là sự hoán đổi vị trí của hai quẻ ba vạch âm là Cấn và Khôn. Trong Hậu Thiên Việt, Cấn bắt cặp với Tốn còn trong Hậu Thiên Văn Vương Cấn bắt cặp với Khôn.

Như đã biết, trong dịch Hậu Thiên ta có sự hôn phối/tương giao hỗn hợp theo con trai Đoài-cha Chấn (Hùng Vương-Lạc Long Quân), con gái Cấn với mẹ Tốn (Hoàng Hậu Hùng Vương với mẹ Âu Cơ) và theo hỗn hợp vợ chồng Li với Khảm (Li Kì Dương Vương với Long Nữ Khảm) và Càn với Khôn (Viêm Đế Càn với Vụ Tiên Khôn). Các cặp tương giao con trai, con gái-mẹ trong Hậu Thiên mang âm tính, ta chọn ở bán viên âm. Cặp Đoài Chấn và Cấn Tốn là hai cặp chủ chốt nên ta xếp Đoài-Chấn lên trên hết tiếp sau là cặp Cấn-Tốn.

Bây giờ ta đi tìm Hậu Thiên bát quái Ngọc Lũ I.

Vì quan trọng nhất là cặp Đoài-Chấn Tốn trong Hậu Thiên bát quái Việt nên ta chọn các quẻ ba vạch này ở bán viên âm và để trên hết:

.Đoài-Chấn

Chấn 1 người đứng trong nhà nòng-Đoài 3 người nhóm giã chầy cối bên cạnh nhà ở bán viên âm.

Tóm lại ta có cặp Đoài 3 người nhóm giã gạo bắt cặp với Chấn 1 người đứng trong nhà nòng theo hôn phối con trai với cha.

.Cấn-Tốn

Như đã biết, đây là cặp quan trong trong Hậu Thiên bát quái.

Ta có Cấn 4 người đánh trống và Tốn 6 người nhẩy múa ở bán viên âm.

.Khôn-Càn

Khôn 8 con nông hôn phối với Càn 7. Ta có hai số Càn 7 là Càn 7 nọc tia sáng mặt trời và Càn 7 người nhẩy múa. Ta đã thấy Càn 7 nọc tia sáng thích ứng với Tiên Thiên bát quái rồi như thế Càn 7 người nhẩy múa còn lại dùng vào hậu Thiên Bát quái (Mặc dù Càn 7 người nhẩy múa thuộc bán viên dương nhưng như đã nói ở trên ta lấy không có trở ngại gì vì cặp Càn Khôn hôn phối theo Vợ chồng nên lấy ở hai bán viên âm và dương không có gì nghịch lý cả).

.Khảm-Li.

Ta có Khảm 10 hươu nai ở bán viên âm bắt cặp với Li 5 con đực trong 10 hươu nai ở bán viên dương theo hôn phối vợ chồng tương tự như cặp Càn Khôn.

Như thế rõ ràng ta có một Hậu Thiên bát quái Ngọc Lũ I.

Kiểm chứng thêm nữa ta cũng thấy trống Ngọc Lũ I có Lạc Thư (Hà Đồ Trên Trống Ngọc Lũ I) thì có Hậu Thiên bát quái là chuyện hữu lý.

Kết Luận

Như thế rõ như hai năm là mười mặt trống đồng Ngọc Lũ I có dịch đồng Sử Truyền Thuyết Việt.

Suy rộng ra, tổng quát trống Ngọc Lũ I diễn tả một thứ Tiên Thiên bát quái Việt dịch. Điểm này dễ hiểu vì trống Ngọc Lũ I diễn đạt trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh và ta cũng có Hà Đồ Ngọc Lũ I.

Nhìn dưới diện nhóm trống Lửa thái dương có mặt trời 14 nọc tia sáng tức trống biểu của nhánh nọc lửa dương thái dương, Việt Mặt Trời Nọc Dương Thái Dương ngành mặt trời thái dương Viêm Đế, ta có Tiên Thiên bát quái Ngọc Lũ I Càn Đế Minh Sử Truyền thuyết Việt và nhìn dưới diện đại tộc Li mang tính chủ ở cõi thế gian thì ta có dịch Kì Dương Vương Ngọc Lũ I Lạc Việt-Lang Việt.

Ngoài ra trống Ngọc Lũ I cũng diễn tả một dịch mang tính Hậu Thiên thế gian, một Hậu Thiên bát quái Ngọc Lũ I.

Những dịch này được diễn tả qua các hình ảnh người, thú, chim bằng hệ thống hình, biểu tượng, chữ nòng nọc vòng tròn-que và qua các con số hiểu theo nghĩa nhị nguyên một cách hết sức tinh vi, tiêu chuẩn.

Qua trống Ngọc Lũ I lửa thái dương có một loại Việt dịch đồng Đông Sơn Sử Truyền Thuyết Việt ngành Nọc Việt dương thái dương Càn Li, ta thấy rõ mỗi trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn diễn tả một loại Việt dịch đồng nòng nọc hay một khuôn mặt Việt dịch đồng nòng nọc hoặc một góc cạnh Việt dịch đồng nòng nọc.

Trống đồng nòng nọc Đông Sơn là một bộ dịch đồng bằng hình tuyệt phẩm, một bảo vật của Việt Nam và nhân loại. Đây là bộ dịch nòng nọc vòng tròn-que bằng đồng diễn tả bằng hình ảnh duy nhất của nhân loại.

—————

Chú Thích

1. The vowel O represents the numeral 9: Naghaha. Shobhana Laxman, Indian Numerals, Gokhala.

Điều này cũng dễ hiểu, Việt ngữ chín là số 9 và cũng có nghĩa là chín (ripe, cooked) ngược với sống (unripe, uncooked). Ta cũng có sống ngoài nghĩa sống (unripe, uncooked) còn có nghĩa là sống (life, live).

So sánh:

Chín > < sống

(Ripe, cooked) (unripe, uncooked)

Chết > < sống

(Death) (Live)

ta có: chín = chết

Thật vậy chín cũng hàm nghĩa già, chết, hủy diệt như chín thối, chín rữa, chín luỗng… Chết là hết, là trở về số 0 (zero) trở về hư không O. Vì thế mà nguyên âm O biểu tượng cho 9.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: