VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN (1): TÍNH DỊCH VÀ DỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

VIỆT DỊCH ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(1)

TÍNH DỊCH VÀ DỊCH TRÊN TRỐNG ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

Nguyễn Xuân Quang

Qua bộ sách Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á (hai quyển đầu đã in, hai quyển sau một phần đã đăng trên blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com), tôi đã chứng minh trống đồng của đại tộc Đông Sơn về hình thể cũng như nội dung là trống nòng nọc, âm dương. Nòng nọc, âm dương là nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh.

Qua mẫu số chung nòng nọc (âm dương), trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc đông sơn

là:

-một bộ văn hóa kỳ thư Việt, là một bộ sử đồng Việt Nam vì cốt lõi văn hóa Việt dựa trên nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim Rắn, Tiên Rồng như đã thấy qua bài thuyết trình Trống Đồng Đông Sơn là Bộ Sử Đồng của Đại Tộc Việt.

-một bộ Từ Điển Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Đây là loại chữ viết nòng nọc (âm dương) (đã viết một phần đăng trên blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com).

-và là một bộ Việt Dịch Đồng Nòng Nọc Đông Sơn Việt Nam vì dịch cũng dựa trên nguyên lý nòng nọc (âm dương). Đây là một bộ Dịch đồng nòng nọc vòng tròn-que bằng hình duy nhất trên thế giới của loài người.

Những bài viết này sẽ chứng minh trống đồng nòng nọc Đông Sơn là bộ Việt Dịch Đồng Đông Sơn.

Trước hết xin nhắc lại một vài khía cạnh mang tính dịch và dịch Đông Sơn của trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn.

TÍNH DỊCH VÀ DỊCH ĐÔNG SƠN THEO HÌNH DẠNG TRỐNG.

Về hình dạng, trống đồng của đại tộc Đông Sơn luôn luôn để hở đáy là trống nòng nọc (âm dương). Mặt màng trống đặc là mặt dương và mặt đáy hổng là mặt âm (Cơ Thể Học Trống Đồng).

Sự phân loại trống đồng nòng nọc (âm dương) theo hình dạng dựa trên thuyết vũ trụ tạo sinh của Nguyễn Xuân Quang gồm 6 loại ứng với thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng và cây vũ trụ:

1. Trống Trứng Vũ Trụ hay Trống Thái Cực Nguyễn xuân Quang I (NXQ. I) hình vành cầu tròn hay hình noãn.

Trống trứng vũ trụ có hình vành cầu hay hình noãn (trống thùng, trống cái). Hình vành cầu là do trứng chim có hình cầu tròn cắt bỏ hai chỏm để làm thành trống.

clip_image002

Trống vành cầu thường cho là nắp thạp.

Trống hình noãn là do hình trứng thuôn tròn hai đầu như trứng gà cắt bỏ hai chỏm làm thành.

clip_image004

Trống hình trứng Cảnh Thịnh.

Khuôn mặt trứng vũ trụ của trống vành cầu và trống hình noãn diễn tả thái cực.

2. Trống tượng Lửa dương Nguyễn Xuân Quang II hình trụ ống (hình trụ là nọc có một nghĩa là lửa, số II là hai nọc que II, thái dương, hai nọc làm ra Lửa).

Trống loại này có hình ống hay hình trụ tròn thẳng tuột như cái ống tròn với đáy để hở biểu tượng cho nọc, dương, Lửa thái dương, Càn (Kiền). Ví dụ một trống Lào tôi thấy ở Luang Prabang.

clip_image006

Một trống trụ ống Lào.

Trên trống này có hình chim cắt biểu tượng cho Lửa vũ trụ Càn và hươu sừng biểu tượng cho lửa đất Li tức ngành nọc lửa ăn khớp trăm phần trăm với trống hình trụ ống NXQ II.

.Trống tượng Gió dương, Đoài vũ trụ khí gió Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) hình lọng vòm trời (hình vòm trời biểu tượng cho gió, lọng vòm trời là lọng gió; số III là số Đoài vũ trụ khí gió).

clip_image007

Trống Karen, Nguyễn Xuân Quang III (Heger III).

clip_image008

Trống Lương Sơn (Kim Bôi), NXQ. III (Heger III) (J. Cuisinier, planche XXXI).

4. Trống tượng Nước dương Chấn Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) hình nồi úp (vật đựng biểu tượng cho nước, số IV là số Cấn hôn phối với Chấn có một khuôn mặt biển).

clip_image009

Một trống Nam Trung Hoa Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV).

.Trống tượng Đất dương, Li Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) hình núi trụ tròn cụt đầu (tháp trụ tròn biểu tượng cho núi; số V là số Li).

Trống loại này có hình trụ chống, hình tháp có đáy xoạc ra trông giống như cây trụ cắm trên cái đế lớn vì thế trụ trống hay thân trống trông choãi ra (sloping trunk or axis) theo chính thống, trống có thân trụ cường điệu nhất. Thân trụ cao, dài hơn tất cả các phần khác của trống và đế xoạc rộng ra trông vững chắc. Trống trông như một người đứng trụ hai chân xoạc ra.


clip_image010

Trống Tân Long, Hòa Bình (NXQ.V, Heger II).

Trống loại này có khuôn mặt chính là biểu tượng cho đất dương, núi dương tức núi nhọn đỉnh, Núi Trụ Thế Gian (dương trần, thế gian, Cõi Giữa), núi lửa, lửa thế gian, thiếu dương, Li.

6. Trống Tạo Hóa, Trống Cây Nấm Vũ Trụ, Cây Nấm Tam Thế, Cây Nấm Đời Sống) Nguyễn Xuân Quang Loại VI (Heger I).

clip_image011

Hơn nữa, cũng xin lưu tâm là mỗi tượng lại chia ra bốn tiểu tượng, nói một cách khác, mỗi loại trống có thể có bốn khuôn mặt ứng với tứ tượng Lửa, Đất, Nước, Gió, ví dụ trống Nấm Vũ Trụ NXQ VI có thể có bốn khuôn mặt Lửa, Đất, Nước, Gió như thấy khắc ở trống Ngọc Lũ I.

clip_image012

Từ trái qua phải:

1. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ V có đế loe rộng (trống tháp tròn) biểu tượng cho tộc Đất dương của liên bang mặt trời.

2. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ IV không có trụ trống (trống trệt) biểu tượng cho tượng hay tộc Nước của liên bang mặt trời.

3. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ III có vòm bầu rất tròn (trống vòm trời, lọng vòm) biểu tượng cho tượng hay tộc Gió của liên bang mặt trời.

4. Trống Nấm Vũ Trụ NXQ II có thân trụ hình ống thẳng biểu tượng cho tượng hay tộc Lửa của liên bang mặt trời.

Dàn trống Nấm Vũ Trụ này biểu tượng trọn vẹn Vũ Trụ thuyết hay biểu tượng cho họ, đại tộc Vũ Trụ-Mặt Trời gồm có bốn trống tương ứng với Tứ Tượng hay bốn chi tộc.
Như thế về hình dạng trống diễn tả trọn vẹn thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, tam thế nghĩa là diễn tả trọn vẹn vũ trụ tạo sinh, dịch lý. Nhìn theo chiều dương (trống để đứng theo vị thế đánh trống), bốn loại trống tượng Lửa Nguyễn Xuân Quang II, tượng Gió Nguyễn Xuân Quang III, tượng Nước dương Nguyễn Xuân Quang IV và tượng Đất dương Nguyễn Xuân Quang V diễn tả tứ tượng dương.

Bây giờ nhìn theo chiều âm nghĩa là lật ngược trống lên ta có cồng, cối, vật đượng mang âm tính.

.Trống tượng Lửa Nguyễn Xuân Quang II hình trụ ống lật ngược lên ta có chiếc thống hình trụ ống diễn tả tượng lửa âm ứng với Tốn.

clip_image014

Trống trụ ốngNXQ II lật ngửa.

clip_image016

Thống.

.Trống tượng Gió Nguyễn Xuân Quang III hình lọng vòm lật ngược lên thành hình ngỗng rượu diễn tả gió âm Khảm.

clip_image017

Trống vòm lọng gió NXQ III lật ngửa.

clip_image019

Ngỗng rượu.

.Trống tượng nước dương Nguyễn Xuân Quang IV hình nồi úp lật ngược lên thành nồi diễn tả tượng nước âm Khôn.

clip_image020

Trống nồi úp NXQ IV lật ngửa thành nồi đồng.

.Trống tượng Đất dương Nguyễn Xuân Quang V hình núi trụ tròn cụt đầu lật ngược lên ta có hình thạp diễn tả vực thẳm, đất âm, ứng với tượng đất âm Cấn.

clip_image022

Trống núi trụ tròn cụt NXQ V lật ngửa thành thạp.

Như thế nhìn theo chiều âm của trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn ta có tứ tượng âm.

Hiển nhiên ta có thái cực, lưỡng nghi tứ tượng dương và âm, tam thế (cây tam thế, cây vũ trụ) diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, dịch lý.

Hình dạng trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc đông sơn mang tính dịch và ta có thể có một loại dịch đồng Đông Sơn.

TÍNH DỊCH VÀ D ỊCH ĐÔNG SƠN THEO CẤU TRÚC.

Như đã biết qua chương Bố cục hay “Lay-Out” của Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á, nội dung trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc đông sơn được dàn dựng theo thuyết vũ trụ tạo sinh mang tính dịch.

Trong nhóm trống đồng âm dương hình Cây Nấm Vũ Trụ (cây tam thế, cây đời sống) Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) có nhiều trống diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh. Hãy lấy trống Ngọc Lũ I làm ví dụ tiêu biểu.

A. Cõi Trên Thượng Thế, Tạo Hóa

clip_image024

Thượng thế.

Cõi trên thượng thế ở tâm mặt trống gồm:

1. Hư Vô, Vô Cực

Hư vô, vô cực được diễn tả bằng vòng tròn bao quanh đầu các tia sáng ở tâm mặt trống. Theo chính thống, hư vô, vô cực trung tính.

2. Thái Cực:

Thái cực là trứng vũ trụ ở tâm mặt trống là đĩa tròn bao gồm không gian và mặt trời. Trứng có phần dương (tròng đỏ) là mặt trời và phần âm (tròng trong) là không gian bao quanh mặt trời. Vỏ trứng vũ trụ trùng với vòng tròn hư vô. Vỏ trứng vũ trụ cũng cho biết tính âm dương của trống.

3. Lưỡng Nghi:

Thái cực phân cực thành lưỡng nghi là cực âm không gian và cực dương mặt trời.

Cực âm không gian có thể coi là tròng trắng, tròng trong của trứng vũ trụ. Nói theo danh từ nôm cổ Việt là Nòng. Nói theo thuật ngữ Dịch là Khôn. Nòng không gian tròng trong Trứng Vũ Trụ Khôn gồm hai phần: phần mang dương tính (Khôn dương) tức dương của âm tức thiếu âm là khí nguyên khởi (primeval gas, ether) nhẹ, ở trên và phần nặng mang âm tính (Khôn âm) tức âm của âm tức thái âm là nước nguyên khởi (primeval water) ở dưới. Trong thái dương hệ, cực âm là phần không gian âm, bầu trời, khí gió mù, mây (mây là nước cõi trời) bao quanh mặt trời dương.

Cực âm không gian vì bị mặt trời che khuất một phần nên không gian thường chỉ còn thấy qua các khoảng giữa các tia sáng gọi là khoảng không gian (interradial spaces).

Hình thái của khoảng không gian cũng diễn tả theo dịch (Ý Nghĩa Khoảng Không Gian Giữa Tia Sáng Mặt Trời).

b. Cực dương: mặt trời.

Hình thái mặt trời (khối lửa, tia sáng) cũng diễn tả theo dịch (xem dưới).

4. Tứ Tượng:

Ở những trống biểu tượng Vũ Trụ giáo trọn vẹn, Tứ tượng được diễn tả bằng các hình ngữ trong các khoảng không gian giữa các tia sáng mặt trời.

Hình thái diễn tả trọn vẹn tứ tượng hiện nay gọi lầm là ‘họa tiết lông công’.

clip_image026 clip_image028

Hình thái tứ tượng.

Thật ra đây là bốn chữ nòng nọc vòng tròn-que chỉ tứ tượng. Tôi gọi là hình thái tứ tượng.

clip_image030

Từ trên xuống: hai giọt nước dương Chấn, nọc mũi mác lửa thái dương Càn, bờm hay rèm Gió dương Đoài vũ trụ khí gió và nọc mũi mác kép hình tháp nhọn có dấu nọc chấm dương diễn tả núi đất dương, lửa đất Li.

Tứ tượng còn mang ý nghĩa biểu tượng, tĩnh tại chưa phải là sinh tạo thực sự. Tứ tượng ở dạng sinh tạo, chuyển hành trở thành tứ hành.

.Tứ Hành.

Nhóm vành tứ hành là phần mặt trống bao quanh trứng vũ trụ hay đĩa thái cực hay bọc mặt trời-không gian ở tâm trống. Theo chính thống nhóm vành tứ hành này là vành miệng của trục thế giới. Vùng tứ hành vận hành gồm năm hay sáu vành hoa văn hình học. Như đã nói ở trên tứ tượng ở phần khoảng không gian giữa các nọc tia sáng còn mang ý nghĩa biểu tượng, tĩnh tại chưa phải là sinh tạo thực sự. Ở vùng tứ hành này tứ tượng trở thành tứ hành dưới dạng hành động, sinh tạo hoạt động, năng động, vận hành, chuyển hành mãi mãi không ngừng, vô cùng vô tận, vô thủy vô chung, không đầu không đuôi vì thế được diễn tả bằng những chữ nòng nọc chuyển động theo vòng tròn. Vùng tứ hành chuyển hành bao gồm bốn hành. Thường hành ứng với khuôn mặt chủ của trống được khắc trong cùng nhất, gần mặt trời nhất nghĩa là ở vị trí hàng đầu gần sát mặt trời. Hãy lấy một ví dụ chính thống nhất ở trên trống Ngọc Lũ I. Vùng tứ hành vận hành trên trống Ngọc Lũ I có 5 vành.

clip_image032

Vùng tứ hành trên trống Ngọc Lũ I.

Hai vành bên ngoài là vành 1 và vành 5 là hai vành giới hạn. Hai vành này là hai vành chấm nọc mang tính dương nguyên tạo. Hai vành giới hạn nọc chấm dương này là hai dương cho biết tứ hành chuyển hành nằm bên trong hai vành này mang tính thái dương, cho biết trống Ngọc Lũ I là trống thuộc dòng hay nhóm mặt trời lửa thái dương. Vành những chấm nọc này thường dùng làm vành hoa văn giới hạn giữa các tầng, các cõi của trống nọc lửa, thái dương. Trống dương hay thái dương nên có các vành phân chia ranh giới là những vành chấm nọc lửa.

* Xin lưu tâm tới hệ luận này: ở các trống thái dương hay các trống mang dương tính trội các vành giới hạn giữa các vùng, các cõi thường là những vành có chấm nọc, ngược lại ở các trống thái âm hay mang âm tính trội các vành giới hạn giữa các vùng, các cõi thường là những vành trống không.

Tiếp đến là những vành tứ hành:

-Vành số 2 là vành sóng vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Đoài vũ Trụ. Như trên đã nói vành nằm sát mặt trời thường là vành diễn tả khuôn mặt mang tính trội của trống. Trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống lửa thái dương vì thế ta chọn nghĩa vành sóng “chấm vòng tròn” này là Li sinh động, tạo sinh. Như vậy vành 2 là vành sóng thiếu dương Li lửa đất vận hành.

–Vành số 3 ở giữa có hình ngữ sóng ánh sáng (tia chớp) chữ S gẫy khúc nghiêng (có tác giả cho là chữ N nghiêng) ôm hình chữ S mập, đậm đen là hình những giọt nước chuyển động biến thể mang dương tính, là sóng nước dương (xem chương Chương Những Dấu, Hình, Vật Biểu Tượng). Vòng tia chớp là Càn lửa vũ trụ, thái dương vận hành và vòng sóng lửa nước đậm đen mang tính thái dương là Chấn, nước dương vũ trụ, nước thái âm ngành thái dương vận hành. Hai vành sóng ánh sáng và sóng nước ôm nhau còn mang nghĩa Càn-Chấn lửa-nước, âm dương vận hành, thái dương thái âm giao hòa vận hành, sinh tạo, tạo hóa ở cõi đại vũ trụ. Vì thế hai vành sóng này cũng mang nghĩa âm dương càn khôn kết hợp, giao hợp (dĩ nhiên theo duy dương vì Chấn thay cho nòng Khôn thuần âm).

-Vành số 4 cũng là vành sóng vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Đoài vũ trụ nhưng ngược với vành số 2 tức có nghĩa là thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió (ở cõi vũ trụ, tạo hóa là khí ether). Đây là sóng thiếu âm Đoài vũ trụ khí gió vận hành.

Vậy ba vành này biểu tượng Li, Càn, Chấn, Đoài vũ trụ dưới dạng tứ hành, vận hành. Ba vành này chuyển động theo hình vòng tròn vô cùng vô tận, không đầu không đuôi nên đây là tứ hành vận hành, chuyển hành sinh tạo đời đời.

Tóm lại Cõi Trên, Thượng Thế, cõi vũ trụ của tam thế gồm bọc hư vô, vô cực, trứng vũ trụ, thái cực, lưỡng nghi. tứ tượng, tứ hành. Tất cả đều được viết hết sức tỉ mỉ, chính xác bằng chữ, hình ngữ nòng nọc trên các trống chính thống.

Dựa vào Cõi Trên chiếu xuống tâm trống đồng ta có thể xác định được trống là giáo biểu hay bang biểu hoặc tộc biểu…

Lưu Ý

Văn hóa Việt và Việt Dịch đồng Đông Sơn dựa trên tứ tượng, tứ hành khác với văn hóa và dịch Hoa Hạ dựa trên ngũ hành. Tứ hành chính xác và khoa học hơn ngũ hành vì ăn khớp với khoa di truyền sinh tạo học. DNA chỉ có 4 nguyên tố CGAT gọi là Bốn Chữ của Sự Sống, Bốn Chữ của Thương Đế…

B. Cõi Giữa Trung Thế, Cõi Nhân Gian.

Trung thế gồm phần còn lại của mặt trống và vai trống (trừ ra phần trứng vũ trụ hay thái cực ở tâm mặt trống).

Trung thế lại chia ra ba tầng hay ba tiểu thế:

a. Cõi Trời

Cõi trời thế gian là tầng trên, bầu trời, được biểu tượng bằng không gian và mặt trời. Ở đây trong thái dương hệ, mặt trời không gian đội lốt tầng Tạo Hóa. Đôi khi đơn giản hơn chỉ diễn tả bằng một vành chim bay thay cho mặt trời-không gian thế gian (lúc này mặt trời-không gian có khuôn mặt biểu tượng chính cho Cõi Trên tạo hóa).

b. Cõi Đất

Cõi đất là tầng giữa, đất thế gian, là phần còn lại của mặt trống sau khi trừ đi phần trứng vũ trụ ở tâm mặt trống tức thượng thế.

TANG DAT copy

Tầng đất.

Tầng đất lại chia ra làm hai vùng: vùng đất dương (núi dương, đất cao, đất khô) gần phía trong mặt trời thường có cảnh sinh hoạt nhân sinh và hình thú bốn chân.

vung dat

Vùng đất dương.

và vùng đất âm, đất có nước (non, đồi có suối, đồng bằng, ao đầm, ruộng nước, ven sông, ven biển) ở gần mép trống.

dat am copy

Vùng đất âm.

c. Cõi Nước

Cõi nước là tầng dưới, nước thế gian ở vai trống.

clip_image038

Cõi nước ở vai trống.

C. Cõi Dưới, Hạ Thế, Âm Thế:

Hạ thế là phần đế trống.

D. Trục Thế Giới:

Trục thế giới là phần thân hay eo trống.

Tóm lại

Nhìn toàn diện trống đồng âm dương loại Nguyễn Xuân Quang VI có hình Cây Nấm Vũ Trụ diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh có dàn dựng, bố cục mang tính dịch và có thể diễn tả dịch nòng nọc (âm dương).

TÍNH DỊCH VÀ DỊCH ĐÔNG SƠN THEO CHI TIẾT NỘI DUNG.

Như đã biết, tất cả các chi tiết trên trống đồng nòng nọc (âm dương) chính thống của đại tộc đông sơn đều mang tính nòng nọc, đều diễn tả theo dấu, hình chữ nòng nọc vòng tròn-que nên đều mang tính dịch và có thể diễn tả một thứ dịch nòng nọc.

Xin lấy một vài chi tiết tiêu biểu quan trong nhất là mặt trời, người, nhà, vật tổ…

1. Mặt Trời Mang Tính Dịch và Dịch.

Mặt trời là linh hồn, là trái tim của trống đồng nòng nọc.

Qua chương Ý Nghĩa Hình Mặt Trời Trên Trống Đồng ta đã biết mặt trời trên trống đồng nòng nọc của đại tộc đông sơn mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ thuyết.

Về cấu tạo mặt trời gồm có hai phần chính là khối lửa và ánh sáng. Cả hai có nhiều hình dạng khác nhau mang tính nòng nọc (âm dương) nghĩa là tính dịch khác nhau.

Khối lửa mặt trời (solar mass).

Khối lửa mặt trời cũng mang tính nòng nọc khác nhau.

Hình khối lửa mặt trời tùy theo độ sáng ta có thể thấy dưới các hình dạng khác nhau. Dựa vào hình dạng khối lửa ở tâm mặt trời ta có thể phân loại mặt trời như sau:

a. Mặt Trời Nọc Thái Dương Sáng Chói, Nóng Cháy.

Khi mặt trời sáng chói làm lóa mắt, lóa chóa không thể nhìn rõ được hình dạng của khối lửa mặt trời thì ta chỉ cảm nhận thấy một khối sáng bắn tung té ra các tia lửa. Đây là mặt trời cực sáng và được diễn tả bằng hình khối lửa có góc cạnh sắc nhọn khiến mặt trời trống giống hình ngôi sao tỏa ra ánh sáng. Vì vậy mà có nhiều nhà nghiên cứu trống đồng gọi hình này là “ngôi sao” hay “ngôi sao mặt trời” (“solar star”). Gọi như thế là sai. Đây không phải là ngôi sao mà là mặt trời rạng ngời, mặt trời chói chang. Nhân loại có rất ít tộc thờ ngôi sao mà phần lớn thờ mặt trời. Trên trống có một nghĩa là đực, là dương, là ngày thì ở tâm trống chỉ có thể có hình mặt trời không thể có hình ngôi sao mang âm tính chỉ xuật hiện về ban đêm.

Ví dụ như mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image040

Mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

b. Mặt Trời Nọc Thiếu âm Sáng Dịu, Mát Dịu.

Xin nhắc lại thiếu âm IO là dương của âm.

Nhóm mặt trời này ít sáng hơn, mát dịu (như mặt trời xế chiều) có thể thấy khối lửa hình đĩa tròn lờ mờ, đứt đoạn, một vòng sáng.

Ví dụ mặt trời ở trống đồng Mèo Vạc III. Mặt trời ở đây thấy được những cung tròn giữa các nọc tia sáng dịu mát, là một đĩa tròn đứt đoạn, là mặt trời có ánh sáng dịu mát. Những tia sáng ở đây không còn sắc nhọn có góc cạnh như mũi tên, mũi lao, mũi rìu mà có hình bầu phình ở dưới thon nhọn ở trên trông như một cánh hoa nhọn đầu.

clip_image042

Mặt trời ở trống đồng Mèo Vạc III.

c. Mặt Trời Nọc Thiếu Dương Êm Dịu

(thiếu dương OI là âm O của dương).

Khối lửa có hình vòng tròn vừa phải.

Ví dụ:

clip_image044

Trống Làng Vạc II.

Độ sáng giảm nữa, (như mặt trời lặn, hoàng hôn) ta có thể thấy khối lửa thấy rất rõ được diễn tả bằng vòng tròn có độ dầy đậm bằng hai hoặc 3 vòng tròng đồng tâm chập lại.

Ví dụ như hình mặt trời trên một trống Vân Nam:

clip_image045

Trống Yunnan (M 12:2d) (A.J.B. Kempers, plate 16.08).

Nhiều khi mặt trời nọc thái âm này khối lửa diễn tả bằng hai hay ba vòng tròng đồng tâm thay vì một vòng tròn dầy đặc, thường thấy nhất ở trống minh khí.

-hình hai vòng tròn đồng tâm.

Nên nhớ hai vòng tròn là hai nòng, hai âm là thái âm.

Ví dụ mặt trời trên trống Lãng Ngâm:

clip_image046

Mặt trời trên trống Lãng Ngâm (Hà Bắc). Hình trích trong Trịnh Sinh, Nhân Chiếc Trống Đồng Đông Sơn Mới Tìm Được Ở Triết Giang, Trung Quốc (Khảo Cổ Học 3-97, tr.56).

Trống thuộc loại minh khí, rất nhỏ cao 4, 6 cm, đường kính mặt trống có 3cm, đường kính đáy 7,5cm. Vì trống minh khí thường được dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết nên trống này có mặt trời là mặt trời âm, cõi nước, mặt trời Cõi Âm, cõi tái sinh, hằng cửu.

-Hình ba vòng tròn đồng tâm hay hai vành tròn.

Ví dụ trống minh khí Trung Mầu (Gia Lâm, Hà Nội):

clip_image048

Mặt trời trên trống Trung Mầu (cùng nguồn trích dẫn như trên).

nh sáng.

Về ánh sáng có hai loại ánh sáng nòng nọc (âm dương) là tia sáng mặt trời nọc mũi mác và vòng ánh sáng nòng vòng tròn.

a. Ánh sáng dương nọc mũi mác.

Hầu hết trống đồng nòng nọc, âm dương thuộc ngành nọc dương thái dương tức Nọc Việt thái dương có mặt trời loại nọc mũi nhọn hình mũi mác, mũi dao, mũi giáo nghĩa là có hình dạng của chữ nọc nhọn mũi mác, lửa, thái dương.

clip_image050

Nọc tia sáng hình mũi mác.

b. Ánh sáng âm nòng vòng tròn.

Ánh sáng có hình nòng, vòng tròn sáng thay vì hình tia, hình nọc như thấy trên trống Đào Xá.

clip_image052

Nòng vòng ánh sáng trên trống Đào Xá.

Đây là một nét đặc thù của nền văn hóa của Đông Sơn, một nền văn hóa duy nhất mặt trời có hai dạng ánh sáng nòng nọc và còn giữ dạng nọc và nòng nguyên thủy.

Dựa vào khối lửa mặt trời và số nọc tia sáng trong ngành mặt trời nọc dương thái dương ta có ít nhất bốn loại mặt trời ứng với tứ tượng

Sau đây hãy lấy một thí dụ về loại mặt trời nọc thái dương có khối lửa tỏa sáng bắn ra tua tủa, không thấy vành tròn. Loại này ít nhất có bốn nhóm ứng với tứ tượng:

.Mặt Trời Thiếu Âm Gió Đoài vũ trụ khí gió ngành nọc mặt trời thái dương.

Nhóm này mặt trời có 2, 10, 18 (số Khảm) nọc tia sáng mũi mác. Khảm OIO là âm (O) thiếu âm (IO) tương đồng bản thể với Đoài vũ trụ khí gió IIO, dương (I) thiếu âm (IO) và có Đoài vũ trụ khí gió là đại diện.

Khảm hôn phối vợ chồng với Li IOI.

Như thế loại trống mặt trời thiếu âm có nọc tia sáng số Khảm thiếu âm có hai khuôn mặt chính là Đoài vũ trụ khí gió/Li.

.Mặt Trời Thiếu Dương Lửa Đất Li ngành nọc mặt trời thái dương.

Nhóm này mặt trời có 4, 12, 20 (số Cấn) nọc tia sáng mũi mác. Cấn IOO là âm (O) thiếu dương (OI) tương đồng bản thể với Li Lửa Đất, Đất Dương IOI, dương (I) thiếu dương (OI) và có Li là đại diện.

Cấn hôn phối vợ chồng chấn IOO (Lửa Nước, Nước Dương) và cũng hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió. Như thế loại trống có nọc tia sáng số Cấn thiếu dương có hai ba mặt chính là Li, Chấn, Đoài vũ trụ khí gió.

Ví dụ như mặt trời trên trống Hòa Bình.

.Mặt Trời Thái Dương Lửa Càn ngành nọc mặt trời thái dương.

Nhóm này mặt trời có 6, 14, 22 ( số Tốn) nọc tia sáng mũi mác. Tốn OII là âm (O) thái dương tương đồng bản thể với Càn Lửa vũ trụ III, dương (I) thái dương (II) và có Càn là đại diện.

Tốn hôn phối vợ chồng với Chấn IOO (Nàng Lửa Âu Cơ Tốn với Chàng Nước Chấn Lạc Long quân) và cũng hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió (thấy trong dịch Lạc Việt thế gian trong đó Nàng Đất Núi Âu Cơ Cấn hôn phối với Lạc Long Quân sấm Chấn, còn lại Tốn hôn phối với Đoài vũ trụ khí gió).

.Như thế loại trống có nọc tia sáng số Tốn thái dương có ba khuôn mặt chính là Càn/Chấn/Đoài vũ trụ khí gió.

Ví dụ như mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

.Mặt Trời Thái Âm Nước Chấn ngành nọc mặt trời thái dương.

Nhóm này mặt trời có 8, 16, 24 (Số Kkhôn) nọc tia sáng mũi mác. Khôn OOO là âm (O) thái âm (OO) tương đồng bản thể với Chấn IOO, âm (O) thái âm (OO) và có Chấn là đại diện.

Khôn hôn phối vợ chồng Càn III.

Như thế loại trống có nọc tia sáng số Khôn thái âm có hai khuôn mặt chính là Chấn/Càn.

Tóm lại

Mặt trời trên trống đồng âm dương gồm phần khối lửa và ánh sáng (tia sáng và vòng sáng) được viết theo đúng ngữ pháp của chữ nòng nọc, cũng “hiệp” (accord) theo (giống) tính thái nòng nọc (âm dương), tứ tượng: thái dương, thiếu dương, thiếu âm và thái âm của mặt trời, nói gọn lại là hiệp theo Dịch lý.

2. Người của Đại Tộc Đông Sơn Mang Tính Dịch và Dịch.

Người cũng như các yếu tố, các chi tiết khác cũng diễn tả theo nòng nọc (âm dương), vũ trụ tạo sinh mang tính dịch, theo dịch. Sau đây là những ví dụ điển hình.

Người vũ trụ.

Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa ở bán viên dương trên trống Ngọc Lũ I có trang phục đầu hình quả bầu nậm.

clip_image054

Người cuối cùng ở nhóm 7 người trên bán viên dương.

Bầu nậm có cổ hình nọc I ứng với Trụ và bầu hình nòng O ứng với bầu, bao, bọc, vỏ, Vũ cho biết hai nhóm người thuộc chủng Người Vũ Trụ ứng với truyền thuyết Việt nói rằng Đại Tộc Việt sinh ra từ một quả bầu (vũ trụ).

-Người ngành nọc, dương, thái dương, mặt trời nọc thái dương ứng với Nọc Việt thái dương Viêm Đế:

Ví dụ người chim bổ cắt lửa trên trống Quảng Xương.

clip_image056

Người chim bổ cắt lửa trên trống Quảng Xương.

-Người ngành Nòng, âm, thái âm, mặt trời nòng thái âm ứng với Nòng Việt thái âm Thần Nông:

Người rắn dải nước có sừng trên trống Quảng Xương.

clip_image058

Người rắn dải nước có sừng trên trống Quảng Xương.

Hai người chim cắt sừng và rắn dải nước có sừng này ứng với nòng nọc (âm dương), lưỡng nghi, Viêm Đế-Thần Nông, Nọc Việt và Nòng Việt.

Sau đây là bốn đại tộc ứng với tứ tượng của ngành nọc dương thái dương, Nọc việt.

.Người nhánh nọc lửa, dương thái dương ứng với Càn/Li.

Người chim lửa thái dương, mặt trời nọc thái dương, chim cắt lửa thái dương, Chim Nọc Việt trên trống thái dương Ngọc Lũ I:

clip_image060

Người chim cắt lửa mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

-Người nhánh nọc âm thái dương ứng với Chấn/Đoài vũ trụ khí gió.

.Người chim nước thái âm ngành Nọc dương thái dương, chim nông lửa (bổ nông lửa) âm thái dương, Chim Nòng Việt trên trống Hoàng Hạ:

clip_image062

Người chim nông lửa mặt trời trên trống Hoàng Hạ.

.Người tộc Li hươu sừng, Hươu Việt.

Người chim mặt trời tộc hươu thể điệu hóa trên trống Thành Vân có hai sừng trong có dấu chấm nọc dương.

clip_image064

Người chim mặt trời tộc hươu thể điệu hóa trên trống Thành Vân.

.Người tộc nước dương chấn, Rắn Việt.

Trên trống Nam Ngãi II, người chim mặt trời nước thể đi ệu hóa tối đa thành hình móc xoắn nước:

clip_image066

Trống Nam Ngãi II: Người chim mặt trời nước thể điệu hóa tối đa thành hình móc xoắn nước.

TÍNH DỊCH VÀ DỊCH ĐÔNG SƠN THEO VẬT T Ổ.

Các vật tổ như chim thú, loài bò sát… cũng mang tính dịch. Ỡ nhiều trống vật tổ này dùng diễn tả dịch, Hãy lấy một ví dụ ở trống Ngọc Lũ I.

.Chim trĩ, chim biểu của tượng Lửa thái dương.

Trên nóc nhà nọc, mặt trời có hình một con chim trĩ quay mặt về phía chiều dương, tay phải là chim biểu của khuôn mặt tượng lửa thái dương Càn Đế Minh cõi trời thế gian.

clip_image068

Một chim trĩ trên nóc nhà nọc, mặt trời ở trống Ngọc Lũ I.

. Chim Bổ Nông lửa, chim biểu của tượng nước ngành thái dương

Ổ bán viên dương có 6 con chim nông ở mỏ có chữ nòng nọc (âm dương) hình mũi mác > có một nghĩa thái dương. Số 6 là số Tốn OII, âm thái dương hôn phối với Chấn Lạc Long Quân (Âu Cơ Tốn, Nàng Lửa, Thái Dương Thần Nữ hôn phối với Chàng Nước Chấn, Mặt Trời Nước Thái Dương). Trên trống, Lạc Long Quân thay cho Âu Cơ nên 6 chim nông mang tính thái dương (bổ nông lửa nước) biểu tượng cho Chấn, Tượng nước dương.

clip_image070

Một chim nông thái dương trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image072

Một con bổ nông mỏ mũi mác, mũi rìu trên thạp đồng Hợp Minh.

.Hươu sừng

Hươu sừng trên trống Ngọc Lũ I biểu tượng cho tượng lửa thiếu dương Li Kì Dương vương.

clip_image074

Một con hươu sừng trên trống Ngọc Lũ I.

.Cò gió, chim biểu của tượng gió dương.

Cò gió, cò Lang, Cò Việt trên trống Ngọc Lũ I biểu tượng cho tượng gió Đoài vũ trụ khí gió thiếu âm Tổ Hùng.

clip_image076

Hiển nhiên trên trống Ngọc Lũ I có một thứ dịch Sử Truyền Thuyết Việt qua vật tổ.

Dĩ nhiên trống đồng nòng nọc (âm dương) của đại tộc Đông Sơn còn rất nhiều khía cạnh khác như nhà, thuyền, khoảng khôn gian… mang tính dịch, diễn tả dịch bởi vì từng chi tiết một dù nhỏ nhặt tới đâu cũng diễn tả theo nòng nọc (âm dương), theo hình, dấu, chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Mặt trời trên trống đồng nòng nọc mang trọn ý nghĩa của Vũ Trụ thuyết và Dịch. Trống đồng là giáo biểu của Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo, của Dịch trọn vẹn hay của từng giai đoạn một trong quá trình vũ trụ tạo sinh.

Về mặt dân tộc học, trống đồng âm dương là họ biểu, bang biểu, ngành biểu, đại tộc, tộc, chi tộc biểu của họ người Mặt Trời-Vũ Trụ theo duy dương ứng với khuôn mặt Họ Đỏ của Họ Hồng Bàng của Việt Nam.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: