TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN, BỘ SỬ ĐỒNG BẰNG HÌNH CỦA ĐẠI TỘC VIỆT (phần 3 và hết).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN, BỘ SỬ ĐỒNG BẰNG HÌNH CỦA ĐẠI TỘC VIỆT.

Nguyễn Xuân Quang

(phần 3 và hết).

(Bài nói chuyện ngày 19-4-2015 tại Hội Phát Triển Nghệ Thuật Truyền Thống Việt Nam và Hội Quán Lạc Hồng tại Little Saigon, Nam Cali, Hoa Kỳ).

clip_image002

II. SỬ SÁCH, LỊCH SỬ VIỆT TRONG SỬ ĐỒNG ĐÔNG SƠN VIẾT BẰNG HÌNH, CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN QUE.

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là những hiện vật do con người làm ra và được cho là có từ thời Hùng Vương lịch sử nên bắt buộc có một khuôn mặt là bộ sách LỊCH SỬ VIỆT bằng hình, bằng đồng đích thực.

Lưu Ý

Các vua Hùng lịch sử là di duệ hay đội lốt các Thần Tổ Phụ Mặt Trời sinh tạo thế gian ứng với tứ tượng là:

.Mặt Trời Ánh Sáng Đế Minh ứng với Lửa Vũ Trụ, Lửa Trời Càn mà dân gian Việt Nam gọi nôm na là Chàng (I) Lửa (thái dương II) tức III, quái Càn.

.Kì Dương Vương ứng với Đất Lửa Li cõi đất dương gian mà dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Đất (thiếu dương OI) tức IOI, quái Li.

.Lạc Long Quân ứng với Nước dương mà dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Nước , (thái âm OO) tức IOO, quái Chấn.

. Tổ Hùng ứng với Gió dương mà dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Gió (thiếu âm IO) tức IIO, quái Đoài.

Mỗi Đại Tộc có bốn Tộc, mỗi Tộc có bốn Chi Tộc cũng ứng với tứ tượng.

Ở cõi thế gian lịch sử, thú biểu bốn chân của các Vua Hùng Vương lịch sử là vật tổ chính còn chim biểu thường là biểu tượng cõi trời thế gian nhưng đôi khi cũng biểu tượng cả cõi vũ trụ tạo hóa, nhất là trên các trống vũ trụ có mặt trời có số nọc tia sáng bằng hay dưới 8.

CHỦNG NGƯỜI TIỂU VŨ TRỤ HỒNG LẠC (LẠC HỒNG): LỬA NƯỚC, CHIM-RẮN.

Hồng Lạc phải nhìn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch học. Hiển nhiên ta thấy rõ trước mắt là khi thì gọi là Hồng Lạc khi thì gọi là Lạc Hồng. Gọi xuôi ngược như vậy là gọi theo hai diện chim rắn, Tiên Rồng nọc nòng, dương âm. Hồng là Đỏ là Lửa và Lạc là nác, Nước. Theo ngành Lửa, Chim, Tiên, Mẹ Âu Cơ thì gọi là Hồng Lạc (Hồng Lửa để trước) còn theo ngành Nước, Rắn, Rồng, Cha Lạc Long Quân thì gọi là Lạc Hồng.

Như thế Hồng Lạc, Lạc Hồng phải hiểu nghĩa dọc theo suốt cả chiều dài của văn hóa Việt dựa trên Vũ Trụ Tạo Sinh từ thái cực, Trứng Vũ Trụ trở xuống.

Hồng Lạc là chủng Người vũ Trụ Chim Rắn Viêm Đế-Thần Nông.

-Ở tầng thái cực, Trứng Vũ Trụ, Hồng Lạc (Lạc Hồng) là Lửa-Nước (Nước Lửa) nhất thể, là vũ trụ, là Viêm Đế-Thần Nông hay Thần Nông Viêm Đế nhất thể, là Tổ Hùng Tạo Hóa nhất thể.

Hồng Lạc là chủng Chim-Rắn và Lạc Hồng là Rắn-Chim nhất thể còn ở dạng thiên nhiên hay đã thần thoại hóa.

Chứng sử đồng như đã nói ở trên, về phía Lạc Hồng là Rắn Nước-Chim Rìu Lửa ở đầu thuyền trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ…

-Ở tầng lưỡng nghi, nòng nọc, âm dương đối cực, Hồng Lạc là Lửa-Nước, Chim Rắn tách riêng hai ngành. Nhìn theo hai cực đối ngược nòng nọc, âm dương, Hồng Lạc là chủng Chim Cắt Hồng Hoàng (Hán Việt chim cắt gọi là Hồng Hoàng) và Rắn Nước Lạc.

Chứng sử đồng còn thấy ở thuyền Sông Đà. Đầu thuyền đầu Rắn nước, đuôi thuyền đầu chim cắt.

clip_image004

Thuyền Lạc Hồng Rắn Nước Lạc-Chim Cắt Lửa Hồng (Hoàng) trên trống Sông Đà.

Ở ngành chim Nọc Việt dương thái dương, nhìn dưới diện chim biểu cõi trên tạo hóa, Hồng Lạc là chủng Chim Hồng Hoàng Mỏ Cắt và Chim Nước Bồ Nông (chim nông Hán ngữ là Đường Nga, có Nga chỉ chung cả họ chim nước chân có màng là nông, ngỗng, ngan, vịt trời…).

Chứng sử đồng còn thấy qua hình chim cắt và chim Nông bay.

clip_image005 clip_image007

Chim cắt bay ở một tang trống Điền Việt và chim nông bay trên trống Ngọc Lũ I.

Ở cõi trời sinh tạo thế gian là Chim Lửa Trĩ Việt (Đế Minh)

clip_image009

Chim trĩ Lửa, Trĩ Việt trên nóc nhà mặt trời trên trống Ngọc Lũi I.

và Chim Nước ngỗng, le le (Vụ Tiên)…

Trên những trống Shan thường có các loài chim nước được cho là thuộc họ nhà vịt.

clip_image011

Hình những con chim nước được cho là họ nhà Vịt trên một trống Shan.

Lưu ý là tộc Shan nói tiếng Tầy Thái thuộc ngành nòng âm Thần Nông, Lạc Long Quân.

HỒNG LẠC, LẠC HỒNG THẾ GIAN.

Ở cõi thế gian nhìn dưới diện thú biểu là con thú Hồng, thú Hùng (đỏ, mặt trời, dương), đực (thư hùng), con thú Đực, con Đục, con Đọc, con Cọc, con Hươu sừng Kì Dương Vương.

clip_image013

Một con hươu sừng đực trên trống Ngọc Lũ I.

và con thú Lạc. Thú Lạc sống được dưới nước mang tính Việt (có sừng, mào, mõm nhọn, vi gai nhọn, vi sừng…). Con thú Lạc thấy nhiều trên các trống ở Việt Nam là con Cá Sấu Việt. Việt ngữ sấu biến âm với sẩu (xương sẩu). Sẩu có một nghĩa là sừng: xin khúc đầu những xương cùng sẩu. Sấu biến âm với sậu có nghĩa là cứng (ngô sậu, khoai sậu). Theo c=s (cắt = sắt) ta có cứng = sừng. Con sấu là loài sống được dưới nước như cá và có vi sừng. Theo ng = g (như ngẫm = gẫm), Hán Việt ngạc, cá sấu biến âm với Việt ngữ gạc, sừng. Cá sấu là con cá gạc (sừng), cá ngạc (Hán Việt).

Sấu Dao Việt (xem dưới) là một khuôn mặt thú biểu vùng đất có nước như đầm hồ, ven sông, biển của Lạc Long Quân.

Sấu Việt thấy trong sử đồng Đông Sơn trên trống Hóa Bình.

clip_image015

Cá sấu Lạc Việt trên trống Hòa Bình.

Hồng Lạc thế gian về thú biểu là Hươu Hồng-Cá Sấu Lạc.

HỌ HỒNG BÀNG THẾ GIAN

Theo truyền thuyết thì Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống. Như thế nếu nói chung thì họ Hồng Bàng phải kể từ thần tổ tối cao là thần mặt trời Viêm Đế của ngành Nọc Việt dương thái dương trở xuống. Tại sao Họ Hồng Bàng Thế gian chỉ kể từ Kì Dương Vương trở xuống? Điểm này dễ hiểu vì Kì Dương Vương được coi là con người đầu tiên của loài người, là thần tổ đầu tiên của người Việt, vua đầu tiên của nước Xích Quỉ, Người Việt Mặt Trời.

Trong sử sách có nhiều tác giả giải thích về Họ Hồng Bàng nhìn dưới những góc cạnh khác nhau của văn hóa Việt có cốt lõi chim rắn Tiên Rồng nòng nọc, âm dương, Dịch học nên bất đồng ý kiến giống như các thầy bói sờ voi.

Phải giải thích Họ Hồng Bàng cũng như những tên khác trong sử truyền thuyết lịch sử Việt (như Viêm Đế, Thần Nông, Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Tổ Hùng, Hồng Lạc, Văn Lang…) và tất cả các chi tiết khác của văn hóa Việt theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch học.

Hồng Bàng cũng vậy.

Như đã biết, vị thần tổ tối cao của phía người Việt Mặt Trời thái dương là thần mặt trời Viêm Đế, các Tổ Phụ Việt đều là các thần mặt trời, Hùng Vương trong ngành Nọc Việt dương thái dương là vua dòng Mặt Trời, Người Việt là Người Mặt Trời, Xích Quỉ là Người Đỏ, Người Mặt Trời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), … như thế theo ngành Nọc Việt thái dương Mặt Trời ta phải hiểu một cách thật giản dị là lấy theo nghĩa Mặt Trời. Hồng Bàng là Họ Đỏ: Họ Mặt Trời thái dương.

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn luôn luôn có mặt trời ở tâm trống do con người thế gian làm ra nên có một khuôn mặt biểu tượng cho Họ Hồng Bàng Thế Gian.

Còn lấy theo vật tổ thì như đã biết

-Ở cõi trên tạo hóa, sinh tạo, chim tổ của ngành Nọc Việt mặt trời Viêm Đế có chim biểu là con chim mỏ rìu, mỏ cắt, chim Việt có mũ sừng nên Họ Hồng Bàng là Họ Chim Hồng Hoàng (xin nhắc lại tên Hán Việt của chim Rìu, Chim Việt, Chim Cắt là Hồng Hoàng).

Có tác giả giải thích Hồng Bàng là họ chim Hồng và cho là con ngỗng Hồng, một loài chim nước, là chỉ nhìn theo đại tộc Lạc Long Quân, không nhìn theo toàn ngành chim Hồng Hoàng mặt trời Viêm Đế, như thế không hoàn chỉnh.

-Ở cõi thế gian là những thú bốn chân có nghĩa là Việt, Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống là họ của các con thú Việt mặt trời biểu tượng của Kì Dương Vương là Hươu Việt, của Lạc Long Quân là Rắn Nước Việt (Cá sấu Việt, Thằn Lằn Việt), của Tổ Hùng là Sói Việt. … (sẽ nói rõ ở dưới).

Như thế ở cõi thế gian gọi theo vật tổ bốn chân thì Hồng Bàng thế gian là Họ Thú Việt Mặt Trời của ba tiểu thế của cõi giữa nhân gian là Hươu Việt Đất Dương, Sấu Việt Đất Âm, vùng Nước và Sói Lang Việt Gió Dương, Bầu Trời.

Trong đồ đồng Đông Sơn còn thấy một chiếc rìu thờ có khắc ba loài thú này, tôi gọi là Rìu Hồng Bàng thế gian:

clip_image017

Rìu thờ Đông Sơn có ba thú biểu là Dao Long (Sấu Dao Việt thần thoại hóa), Hươu Việt và Sói Lang Việt.

HÙNG VƯƠNG LỊCH SỬ.

Hùng Lang sinh ra từ bọc trứng thế gian của Tổ Hùng thế gian đội lốt bọc trứng vũ trụ của Tổ Hùng Tạo hóa, một khuôn mặt của Thần Nông-Viêm Đế nhất thể. Như đã biết Tổ Hùng thế gian có ít nhất có ba khuôn mặt chính là

-Khuôn mặt sinh tạo nòng nọc, âm dương Nhất Thể, Bọc Trứng Sinh Tạo thế gian.

Đây là khuôn mặt sinh tạo ở cõi Tiểu Vũ Trụ đội lốt Thần Nông-Viêm Đế ở cõi tạo hóa.

Hùng biến âm với Naacal Naga ngữ Hun là 1 (nhất thể), là Đấng Tạo Hóa Nhất Thể lưỡng tính phái ứng với trứng vũ trụ, trứng thế gian.

clip_image019

clip_image021

Bọc Trứng Trăm Lang Hùng.

-Khuôn mặt duy dương là ngành Nọc Việt thái dương mặt trời Viêm Đế tức 100 Lang Hùng sinh ra từ tròng đỏ trứng vũ trụ. Ngành này gồm hai nhánh: nọc Việt dương thái dương (Hùng Man, Hùng Kì) và nọc Việt âm thái dương (Hùng Lạc, Hùng Lang).

-Khuôn mặt duy âm là nhánh Nòng Việt thái dương đại diện cho Nòng Bộc thái âm phía Thần Nông thái âm.

Như thế Hùng Vương di duệ của Tổ Hùng cũng có ít nhất ba khuôn mặt chính:

1-Hùng Vương Bầu Trời sinh tạo nhân gian:

nòng nọc, âm dương Nhất Thể sinh ra từ bọc trứng thế gian đội lốt Trứng Vũ Trụ Thần Nông-Viêm Đế cõi tạo hoá mang di thể (gene) Chim-Rắn nhất thể.

Về chim biểu của khuôn mặt sinh tạo nòng nọc, âm dương nhất thể này, Hùng Vương lịch sử cũng có chim biểu là Cò Lang, Cò Việt, Cò Gió Lang đội lốt Cò Lang tiểu vũ trụ của Tổ Hùng.

2. Khuôn mặt Nòng Việt thái dương Đại Diện cho Ngành Nòng Bộc Thần Nông Thái Âm và cho Khuôn Mặt Nữ Âu Cơ (xem trống Đào Xá ở dưới).

3. Khuôn mặt Nọc Việt thái dương lịch sử.

-Nhánh Hùng Vương Mặt Trời thái dương.

Ở ngành Nọc Việt mặt trời thái dương Viêm Đế mang di thể Chim Viêm Đế có chim biểu là con cắt Lang trắng.

-Nhánh Hùng Vương Không Gian Khí Gió.

Theo thái âm là ngành nòng Bộc không gian thái âm Thần Nông mang di thể Rắn Thần Nông.

Trên trống đồng (trống là đực) khuôn mặt Nòng Bộc thái âm Thần Nông thái âm này không có mặt, được đại diện bằng nhánh Hùng Vương nọc Việt âm thái dương và có chim biểu là con chim Nông thái dương.

clip_image006

Chim nông trên trống Ngọc Lũ I trong mỏ có dấu (accent) nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) > có một nghĩa thái dương.

HÙNG VƯƠNG VUA MẶT TRỜI NGÀNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG MẶT TRỜI VIÊM ĐẾ- ĐẾ MINH.

Đại tộc Việt thuộc ngành Nọc Việt thái dương thần Mặt Trời Viêm Đế có các vua tổ thế gian là Hùng Vương.

Hùng là gì?

– Ở cõi trời thế gian, Tổ Hùng, như đã nói ở trên, có khuôn mặt đấng tạo hóa nhất thể, đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nhất thể, thấy qua từ Hùng biến âm với chữ viết Naacal Đông phương Hun, có nghĩa là 1, Đấng Tạo Hóa.

-Ở cõi thế gian Hùng Vương lịch sử nhánh Nọc Việt dương thái dương, mặt trời Viêm Đế thì Hùng có những nghĩa:

.Hùng là Đực (hùng trĩ, thư hùng): Đực là dương, là Mặt Trời.

.Hùng, hung là đỏ. Hung đỏ. Đỏ là mặt Trời.

.Hùng là hồng là đỏ (hồng kỳ), Đỏ là tỏ, là mặt trời.

.Hùng là mạnh. Hùng mạnh. Sức mạnh là Mặt trời.

.Hùng là người đứng đầu, là số 1. Đây là lấy theo nghĩa duy dương của Hun, 1 của Naacal Đông phương. Ta thấy Hùng = hun = Mường ngữ Cun, người đứng đầu, số 1, tù trưởng của Mường Việt. ‘Cun lang bú chó, cun vó bú trâu’.

Theo duy dương Số 1 là mặt Trời (Việt ngữ son, một mình, còn son, Anh ngữ solo, Pháp ngữ seul, Tây Ban Nha ngữ solamente ruột thịt với gốc sol, Pháp ngữ soleil, Đức ngữ sonn, mặt trời).

.Hùng là Uighur ngữ Hun là Mặt Trời. Uighur lấy nghĩa theo duy dương của Naacal Đông phương Hun có nghĩa là Một, Đấng Tạo Hóa.

Hiện nay các nhà làm văn hóa Việt Nam chỉ hiểu Hùng theo nghĩa ‘người đứng đầu, thủ lãnh, số 1’ bởi vì không nhìn dưới lăng kính Chim Rắn, Tiên Rồng nòng nọc, âm dương, Dịch học, cốt lõi của văn hóa Việt Nam.

Như thế trong Đại tộc Việt thuộc ngành Nọc Việt thái dương thần Mặt Trời Viêm Đế, Hùng có nghĩa ở cõi sinh tạo là Hun, số 1, nhất thể, Đấng Sinh Tạo đội lốt Tạo Hóa và ở cõi nhân sinh lịch sử có nghĩa là Mặt Trời.

CHỨNG SỬ HÙNG VƯƠNG LỊCH SỬ ĐẤNG SINH TẠO, VUA MẶT TRỜI TRONG SỬ ĐỒNG.

Trống đồng của đại tộc Đông Sơn luôn luôn có mặt trời nằm trong vòng không gian tức trụ vũ, là bọc trứng thế gian sinh ra Hùng Vương, biểu tượng cho khuôn mặt sinh tạo của Hùng Vương. Theo duy dương trong ngành Nọc Việt thái dương Mặt trời thì mặt trời là biểu tượng cho Hùng Vương.

Như thế trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có một khuôn mặt chính là trống biểu của Tổ Hùng sinh tạo trứng thế gian và vua Hùng Vương mặt trời thái dương (vì trống có nghĩa chính là đực, mặt trời).

clip_image023

Trống Ngọc Lũ I.

 HAI NHÁNH HÙNG VƯƠNG CHIM RẮN, TIÊN RỒNG CỦA NGÀNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG MẶT TRỜI VIÊM ĐẾ.

Trống đồng có một nghĩa là đực, dương, mặt trời là trống biểu chính của ngành Nọc Việt mặt trời Viêm Đế. Ngành này chia ra làm hai nhánh: nhánh Nọc Việt dương thái dương có chim biểu là Chim sừng thái dương mỏ cắt, có hai đại tộc Hùng Man dòng Đế Minh, Hùng Kì dòng Kì Dương Vương và nhánh Nọc Việt âm thái dương có rắn biểu là Rắn sừng hay có mồng thịt âm thái dương gồm hai đại tộc Hùng Lạc dòng Lạc Long Quân và Hùng Lang dòng Tổ Hùng.

Chứng sử đồng của hai đại tộc chim sừng, Chim Việt và rắn sừng, Rắn Việt này còn thấy rõ trong sử đồng Đông Sơn.

. Đầu mũi thuyền trên trống Ngọc Lũ và các trống liên hệ, như đã nói ở trên, có hình chim rìu, chim mỏ sừng (hornbill), mỏ cắt cắm vào miệng rắn nước có sừng cong (cong mang âm tính, âm thái dương) :

clip_image025

Đầu thuyền trên trống Ngọc Lũ I có chim rìu chim mỏ sừng, mỏ cắt cắm vào miệng rắn có sừng cong, bên trong sừng có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que cong mang nghĩa nọc âm thái dương.

.Trên trống Quảng Xương có hai nhánh người Việt mặt trời chim cắt sừng lửa và rắn dải nước có sừng :

clip_image027

Trống Quảng Xương.

clip_image029

 Người mặt trời chim cắt mũ sừng.

clip_image031

Người mặt trời rắn dải có sừng, có mồng.

 BỐN ĐẠI TỘC NGƯỜI VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG DÒNG HÙNG VƯƠNG MẶT TRỜI ỨNG VỚI TỨ TƯỢNG NGÀNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG VIÊM ĐẾ.

Như vừa nói ở trên ngành người Việt mặt trời thái dương con cháu Tổ Hùng, Hùng Vương ngành Nọc Việt mặt trời thái dương gồm có 4 đại tộc Hùng Man, Hùng Kì, Hùng Lạc, Hùng Lang ứng với tứ tượng dương thái dương.

Thổ dân Mỹ châu cũng có quan niệm là chủng người tiểu vũ trụ, ngành mặt trời gồm có Tứ Dân (Four People).

clip_image033

Quan niệm vũ trụ sinh ra Bốn Đại Tộc Người của Thổ dân Mỹ châu.

Chứng sử Bốn Đại Tộc, Tứ Dân này còn thấy khắc ghi rõ trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trên một trống đồng Điền Việt thấy qua tế vụ bốn tộc người chim mặt trời Việt bay quanh mặt trời trên trục thế giới giống như tế vụ Bay Quanh Trụ Palo volador của người Maya ở Mễ và Guatemala còn thấy hiện nay.

clip_image034

Tế vụ Người Chim Mặt trời Việt bay quay trục mặt trời trên một trống Điền Việt và tế vụ Bay Quanh Trụ Palo volador của Maya ở Mễ và Guatemala hiện nay.

NHÁNH NỌC VIỆT THÁI DƯƠNG.

Nhánh Nọc Việt thái dương gồm hai chi: chi Nọc Việt dương thái dương có Hùng Man Đế Minh, Hùng Kì Kì Dương Vương và chi Nọc Việt âm thái dương có Hùng Lạc Lạc Long Quân và Hùng Lang Tổ Hùng.

Chi Nọc Việt Dương Thái Dương.

Đại Tộc Hùng Man. 

Như đã nói ở trên, Hùng Man dòng Đế Minh. Man, Mán, Mường là Người là Ngời là Sáng, là Minh.

Đại tộc Hùng Man là Man Việt với Việt viết với bộ kim (thấy từ đời nhà Chu). Kim là vật kim loại nhọn như vũ khí kim loại nhọn, là nọc lửa như tia ánh sáng minh. Trên đầu chữ kim có chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ^ có nghĩa là nọc, dương, lửa mặt trời, lửa thái dương sinh động ứng với Đế Minh.

Về ngôn ngữ học: ở đây trống biến âm với chông (cọc, nọc nhọn). Nọc, cọc nhọn có một nghĩa là lửa, mặt trời.

Chứng Sử Đồng Đông Sơn.

-Về hình dạng

Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Man Việt Hùng Man có trống biểu là Trống LỬA hình Trụ Ống Nguyễn Xuân Quang II ứng với lửa thái dương Càn Đế Minh. Ví dụ một trống Lào hình trụ ống:

clip_image036

Trống trụ ống Lào.

Thân trống có nhiều vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động, ăn khớp với trống Lửa hình trụ ống và những vành giới hạn nọc chấm lửa nguyên tạo ứng với Càn.

Trống hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II với các vành dương, lửa thái dương này là trống biểu của Hùng Man dòng Đế Minh.

-Về nội dung

Trống Đông Sơn IV là trống biểu của Hùng Man dòng Đế Minh.

clip_image038

Trống Đông Sơn IV.

Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng mũi mác. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8) thế gian. Khôn hôn phối với Càn ứng với Vụ Tiên Khôn hôn phối với Đế Minh Càn. Trống có bốn con cò Lửa bay chim biểu của Càn Đế Minh (xem dưới). Ngoài biên có hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động.

Như thế trống Đông Sơn IV là trống biểu Lửa thái dương Càn của Đế Minh, của đại tộc Hùng Man.

-Về vật biểu.

Về vật biểu, với tước vị Đế mang tính sinh tạo nên có vật biểu chủ yếu là một loài chim.

-Nhìn theo dòng Viêm Đế thì Đế Minh có chim biểu là chim rìu, chim Việt, chim cắt lửa thái dương.

Trên thân trống Lào  đã nói ở trên, ở dưới có con chim cắt đứng giống như chim cắt đứng trên trống Duy Tiên.

clip_image040

Hình chim cắt đứng trên một trống Lào.

Nhìn dưới diện tượng Lửa thế gian thì chim cắt đứng này là khuôn mặt tượng lửa cõi tứ tượng của Hùng Man, Đế Minh.

Phía trên thân trống có hươu sừng, thú biểu của Hùng Kì, Kì Việt Kì Dương Vương. Chim Cắt- Hươu nhìn chung là vật biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man (Đế Minh) và Hùng Kì (Kì Dương Vương).

Tóm lại trống này là trống biểu của Hùng Man, Man Việt dòng Đế Minh và cũng là trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì.

-Nhìn theo vật tổ của Tổ Hùng Vương ở cõi sinh tạo.

Như đã biết Tổ Hùng sinh tạo có chim biểu là Cò Lang. Cò Lang cũng có bốn đại tộc ứng với tứ tượng. Ở đại tộc Hùng Man này là con Cò Lửa.

Chứng sử đồng Đông Sơn là con cò lửa thấy trên trống Đông Sơn IV:

clip_image042

Cò không có bờm, mỏ nhọn và cổ có hình nõ, cọc, bộ phận sinh dục nam trong có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que có một nghĩa là lửa, thái dương, mặt trời… Đây là con cò Lửa thái dương, chim biểu của Càn Đế Minh.

-Nhìn theo tượng lửa cõi đất nhân sinh là con chim Lửa, Trĩ Việt.

Chim trĩ vốn thuộc họ nhà gà sống nhiều trên mặt đất.

clip_image044

Chứng sử đồng còn thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là con chim trĩ trên nóc một căn nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I:

clip_image046

Chim trĩ trên nóc nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Lưu ý trong nhà có hai người đang cung nghinh, tôn vinh mặt trời, ‘cầu trời’ và nhà có để hai trống ở hai bên nhà. Hai trống là hai đực, hai dương, thái dương. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời, con trĩ là trĩ lửa thái dương, trĩ Việt, chim biểu của Hùng Man, Đế Minh.

-Về dân tộc học.

Man, Mán, Mường là Người là Ngời, là Sáng, là Ánh Sáng dòng Ánh sáng Mặt Trời Đế Minh.

Trên trống Ngọc Lũ I có hai nhóm người nhẩy múa. Trừ người thứ 7 trong nhóm 7 người nhẩy múa có trang phục đầu hình bầu nậm diễn tả người tiểu vũ trụ sinh ra từ bầu vũ trụ, còn lại 6 người trong mỗi nhóm có trang phục đầu hình chim có góc cạnh mang dương tính giống nhau cho thấy họ cùng một ngành người (Việt) mặt trời dương thái dương hóa trang chimthuộc chủng người tiểu vũ trụ.

clip_image048

Nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

 Đầu chim phía trước có nọc cao cường điệu diễn tả sừng thái dương. Đây là con chim Cắt Mũ Sừng Lớn (Great Hornbill) chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế và cũng là của Đế Minh, cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế.

Như thế những người này là những người Việt mặt trời ngành Viêm Đế-Đế Minh.

Ta cũng thấy tay trái cầm dùi nọc thẳng biểu tượng cho nọc lửa thái dương Đế Minh và tay trái cầm phách hay lệnh để ở tư thế hình núi tháp nhọn  ^  có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Kì Kì Dương Vương Đất lửa Li.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Đế Minh, những người này thuộc nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì.

Trống Ngọc Lũ I là trống biểu nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì của ngành Nọc Việt thái dương.

Đại Tộc Hùng Kì

Đại tộc Hùng Kì là Kì Việt với Việt viết với bộ tẩu clip_image050 như thấy trong tên Việt Nam. Việt bộ tẩu diễn tả nọc nhọn rìu (Việt) biết chậy là con Cọc, con Sừng, Con Hươu Việt (tôi đã nói rõ trong bài nói chuyện Việt Là Gì?). Việt viết với bộ tầu là Kì Việt, Hùng Kì.

Về ngôn ngữ học: ở đây trống biến âm với chống (cọc chống đỡ). Cọc chống, trụ chống có một khuôn mặt là Núi Trụ Chống Trời biểu tượng cho Đất dương Li ứng với Kì Dương Vương. Việt ngữ nổng là núi hình nọc trụ chống. Nổng biến âm với nống (nâng, chống người nào lên như cứ nống nó lên). Nam Dương ngữ gunung, núi, nổng chính là Việt ngữ gò nổng. Chống, núi trụ chống trời ứng với Đế (với nghĩa vật chống như đế hoa) của Viêm Đế.

-Kì Dương hiểu theo Kì là trụ và Dương là mặt thời là Vua Mặt Trời Trên Trục Thế Giới, thiên đỉnh (zenith), chính ngọ.

-Kì Dương hiểu theo Kì là Cọc, con Cọc (Hươu) và Dương là đực thì là Vua Cọc Đực, Vua Hươu Nọc, Hươu Sừng, Mang gạc, Hươu Sủa đực có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đực), Hươu Việt.

-Kì Dương Vương hiểu theo Kì là Cọc, con Hươu Cọc và Dương là mặt trời thì Kì Dương Vương là Vua Hươu Mặt Trời.

Chứng Sử Đồng Đông Sơn.

-Về hình dạng

Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Kì Việt, Hùng Kì có trống biểu là Trống Đất Dương hình núi tháp cụt tròn xoay Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) ứng với lửa Đất thiếu dương Li Kì Dương Vương . Ví dụ trống Tân Long:

clip_image052

Trống Tân Long, Hòa Bình có thân choãi rộng ra hình núi tháp trụ tròn xoay cụt đầu.

 Thân trống choãi ra nên có hình núi tháp tròn xoay cụt đầu. Đây là lý do tại sao các nhà khảo cổ Việt Nam tìm thấy loại trống này nhiều nhất ở vùng cao, vùng núi.

-Về nội dung

Trống Phú Xuyên là trống biểu của Hùng Kì, Kì Việt dòng Kì Dương Vương.

clip_image054

Trống Phú Xuyên.

Trống có mặt trời 14 nọc tia sáng mũi mác. Số 14 là số Tốn âm thái dương tầng 2 (6, 14) thế gian. Đây là trống thái dương như trống Ngọc Lũ I, trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương Hùng Man-Hùng Kì. Vì là trống thế gian nên khuôn mặt Hùng Kì, Kì Dương Vương mang tính chủ.

Trống có bốn con cò Đất thái dương bay, chim biểu của Kì Dương Vương, Hùng Kì (xem dưới). Ngoài biên có hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động.

Như thế trống Phú Xuyên là trống biểu Đất thiếu dương Li của của đại tộc Hùng Kì, Kì Dương Vương (xem Trống Kì Việt Phú Xuyên).

-Về vật biểu.

.Thú biểu

Hươu Sừng, Hươu Việt.

Về vật biểu, Kì Dương Vương là con người đầu tiên trên thế gian, vua tổ đất của Việt Xích Quỷ có cốt là con Hươu Sừng, con Kì, con Kẻ. Vì thế Việt ngữ Kẻ chỉ người, nơi ở như Kẻ Sặt. Kẻ hiểu theo nguồn cội là người tộc núi, con dân của Hùng, Kì, Kì Dương Vương. Điểm này thấy rõ là Mường Việt là tộc ở trên núi nên thờ bà Ngu Cơ qua hình bóng con nai sao, dòng Hươu Cọc Kì Dương Vương nhiều hơn thờ Lạc Long Quân qua hình bóng con cá chép.

clip_image056

Thú biểu nai sao của Ngu Cơ Mường Việt.

Truyền thuyết Kì Dương Vương ăn khớp với truyền thuyết Đông Á, theo James Churchward, con người đầu tiên trên mặt đất là con Hươu Keh.

clip_image058

Hươu sừng keh tiền thân của con người đầu tiên của nhân loại (James Churchward).

 Keh chính là Việt ngữ Kẻ, Kì ruột thịt với Ai Cập cổ ngữ Keb hay Geb, Thần Đất dương.

Hươu Keh chính là Hươu Kè, Hươu Kẻ, Hươu Đực Lộc Tục, Hươu Sừng, Hươu Mặt Trời thượng đỉnh, Hươu Việt. Hươu Sừng gọi theo Việt ngữ là mang gạc (mang, mễn là hươu), Anh ngữ munjac chính là Việt ngữ mang gạc. Mã ngữ là kijang chính là Việt ngữ Kì Dương (con Cọc Đực, Lộc Tục). Munjac trong thiên nhiên còn gọi là con hươu sủa (barking deer) bởi vì về mùa nhẩy cái, hươu đực này phát ra tiếng gọi con cái như tiếng chó sủa. Gần đây tại Việt Nam mới tìm lại được loài hươu sủa mang gạc này ở Vụ Quang và được cho là ‘mỏ vàng sinh học’ ở Việt Nam.

clip_image060

Hai con thú hai bên là mang gạc, hươu sủa Việt Nam.

Như thế chúng ta đã tìm lại được thú tổ thế gian mang gạc Kì Dương Vương của Việt Nam. Tiếc rằng các nhà làm văn hóa ở Việt Nam không phát huy, phổ biến, truyền bá rộng rãi vật tổ Việt này cho dân Việt Nam và thế giới biết.

Loài hươu này được chọn làm thú biểu cho Đất lửa dương Li vì sừng không có mấu hay sừng chỉ có hai mấu nhọn. Hai sừng là hai nọc có một nghĩa là lửa đất (hai que nọc dùi ra lửa).

clip_image062

Sọ mang gạc có sừng không có mấu nhọn và có răng nanh lòi ra ngoài miệng.

Mang gạc có một điểm đặc thù nữa là có hai răng nanh nhọn lòi ra như lợn lòi. Hai răng nanh nhọn lòi ra này xác thực mang gạc là con thú chủ (host) của linh thú Nghê mà Hán Việt gọi là Kì (lân). Xin nhắc lại con đực gọi là Kì. Như đã biết, Kì biến âm với kè, kèo, kẻ là nọc, đực. Theo biến âm ng = k như nghẹt = kẹt, ta có nghê = kì. Con thú cái gọi là Lân. Lân là dạng dương của nân, nang (túi, bao). Nang biến âm với nàng, nường (con gái). Chúng ta múa lân là theo dòng con cái nghĩa là có cốt là con nai không có sừng.

Người Trung Quốc lầm gọi chung là qilin, kì lân. Ngay con đực họ cũng gọi là kì lân là sai.

clip_image064

Con Nghê hay con Kì.

Thân con Nghê, con Kì nhỏ như con chó, có sừng hai mấu và hai răng nanh lòi ra ngoài miệng giống con mang gạc, hươu sủa Kì Dương. Linh thú Nghê gốc là linh thú biểu của Kì Dương Vương  Việt Nam.

Chứng sử Vật Tổ Hùng Kì, Kì Việt trong sử đồng Đông Sơn.

Trên trống Phú Xuyên có bốn con mang gạc hươu sủa:

clip_image066

Mang gạc hươu sủa trên trống Phú Xuyên đang há miệng sủa.

Hươu trông như con chó, con chồn có sừng hai mấu nhọn, đang há miệng sủa.

Trên một trống Sangeang, Nam Dương có hình mang gạc:

clip_image068

Mang gạc hươu sủa trên một trống Sangeang.

Như đã biết, trên một chiếc rìu thờ Hồng Bàng thế gian của đại tộc Đông Sơn có hình mang gạc đi cùng với hình giao long và sói lang.

clip_image070

Thú biểu bò.

Ngoài ra con bò là thú bốn chân có sừng sống trên đất cạn tương đương với hươu nên cũng có tộc dùng làm thú biểu cho Đất dương thế gian như con bò Nandi của Ấn giáo.

biến âm với bổ (búa), sừng, qua từ đôi báng bổ, ta có báng = bổ. Bị trâu bò húc bằng sừng gọi là bị báng (bị trâu báng, bò báng). Bò = bổ = báng (sừng). Anh ngữ cow (bò cái) trong nhiều ngôn ngữ cũng phát xuất từ một gốc có nghĩa ‘sừng, có sừng, (Cow words sometimes are from roots meaning ‘horn, horned’) ví dụ như ngôn ngữ Lithuania karve, Cổ ngữ Church Slavic Krava, bò. Ta thấy rất rõ, theo k = g như kài = gài, ta có kar-, k(r)av- = gạc (sừng).

Trong sử đồng, hình bò thấy ở thân các trống Đồi Ro, Làng Vạc I…

clip_image072

Trống Đồi Ro.

Nhưng bò thấy nhiều nhất trong đồ Đồng Điền.

clip_image074

Tượng bò trên một trụ thờ trục vũ trụ Điền Việt làm bằng hai chiếc trống đồng.

 -Về chim biểu:

.Nhìn theo dòng Viêm Đế, Đế Minh, Hùng Kì có chim biểu là chim rìu, chim Việt, chim cắt Đất như đã nói ở trên.

.Nhìn theo chim tổ của Tổ Hùng Vương ở cõi sinh tạo.

Như đã biết Tổ Hùng sinh tạo có chim biểu là Cò Lang. Cò Lang cũng có bốn đại tộc ứng với tứ tượng. Ở đại tộc Hùng Kì này là con cò Đất ngành nọc thái dương.

Chứng sử đồng Đông Sơn là con cò Đất ngành nọc thái dương lửa thấy trên trống Phú Xuyên này.

clip_image076

Cò Đất trên trống Phú Xuyên.

Cò có bờm hình núi tháp nhọn đỉnh và thân-đuôi cũng hình núi tháp nhưng đặc điểm nhất là giữa cánh có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác có một nghĩa là núi tháp nhọn Đất dương. Đây là con cò Đất dương chim biểu của Hùng Kì, Kì Việt dòng Kì Dương Vương.

-Về dân tộc học.

Trên trống Thành Vân có những người chim mặt trời có mắt mặt trời, đầu có cặp sừng cong, trong có bỏ dấu chấm nọc mang dương tính, diễn tả người mặt trời đại tộc Hùng Kì, Kì Việt.

clip_image078

Người  chim mặt trời Việt thuộc đại tộc Hùng Kì Hươu

có mắt là chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời và đầu có hai sừng có bỏ dấu chấm nọc mang dương tính trên trống Thành Vân.

Trên thạp đồng Việt Khê có người hươu có thân hươu đầu người.

clip_image080

Thạp Việt Khê (Charles Higham fig. 4.22).

 Chi Nọc Việt Âm Thái Dương.

Đại Tộc Hùng Lạc. 

Đại tộc Hùng Lạc là Lạc Việt với Việt viết với bộ mễ (làm ruộng lúa nước, Lạc điền).

Lạc là dạng dương của Nác, Nước. Lạc là nước lửa, lửa nước, nước dương, nước thái dương ứng với Lạc Long Quân.

Về ngôn ngữ học: ở đây trống biến âm với tròng, lòng, dòng (nước).

Chứng Sử Đồng Đông Sơn.

-Về hình dạng

Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Lạc Việt Hùng Lạc có trống biểu là Trống NƯỚC hình âu hay bát Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) mang nghĩa nước ngành thái dương Chấn Lạc Long Quân. Trống hầu như không có trụ trống, trông lùn tịt nên gọi là trống trệt. Trống loại này có rất nhiều ở Nam Trung Quốc, nhất là ở tộc Lạc Việt Tráng Zhuang, Quảng Tây nên Heger gọi loại này là trống trệt Nam Trung Quốc.

clip_image082clip_image084

 Trống trệt Nam Trung Quốc hình cái âu, cái bát.

 -Về nội dung

Như đã biết Lạc Long Quân có nhiều khuôn mặt:

.Thần tổ của đại tộc Hùng Lạc, Lạc Việt lịch sử.

.Sinh Tạo đội lốt Tạo Hóa phía nòng âm Thần Nông là sấm mưa như đã nói ở trên.

.Khuôn mặt đại diện cho Nòng Việt âm thái dương Âu Cơ (xem dưới).

.Khuôn mặt đại diện cho ngành Nòng Bộc Thần Nông thái âm (xem dưới).

Khuôn mặt Thần Tổ của Hùng Lạc, Lạc Việt.

Lạc Việt lại chia ra làm những chi sống dưới nước gọi là long nhân, long hộ và những tộc sống ở vùng đất âm bên bờ nước, đầm, ao, sông làm ruộng nước, Lạc điền.

1. Lạc Việt Rắn long nhân, long hộ sống dưới nước (vạn chài, thuyền nhân).

Những tộc này có tộc biểu là con Rắn Nước. Vì là ở ngành Nọc Việt thái dương nên con rắn này mang dương tính có sừng, có mồng thịt, rắn biểu của mặt trời Nước Lạc Long Quân. Ví dụ như đã nói ở trên, đầu thuyền Rắn Nước có sừng cong trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ và người tộc Rắn dải Nước có sừng trần truồng trên trống Quảng Xương

clip_image085

Người Nước: long nhân, long hộ rắn dải nước có sừng trên trống Quảng Xương.

 Trên trống rất muộn Nam Ngãi II, người chim tộc Nước đã thể điệu hóa tối đa thành hình chữ nòng nọc vòng tròn-que móc nước dương.

clip_image087

Trống Nam Ngãi II.

2. Đại Tộc Hùng Lạc, Lạc Việt: Tộc Sấu Dao Việt.

Đây là tộc sống ở vùng đất âm có nước như đầm lầy, sông rạch là ruộng nước, Lạc điền.

Những tộc này có vật tổ là con cá sấu mang dương tính nọc, Việt tức Sấu Việt. Cá sấu Việt loại này có mõm dài nhọn như dao (một thứ vật nhọn, việt) gọi là sấu dao (gavial, Tomistoma Schlegelii).

clip_image089

Sấu mõm dao.

hay loài con đực có sừng thịt (ghar) ở đầu mõm gọi là gharial. Ta thấy ghar = gạc.

clip_image091

Sấu đực mõm sừng thịt gharial.

Hình cá sấu mõm sừng thịt gharial thấy trên thạp Đào Thịnh.

clip_image093

Thuyền sấu mõm sừng thịt trên thạp Đào Thịnh.

Sấu mõm dao thấy trên trống Hoà Bình:

clip_image095 clip_image096

Sấu Dao, Sấu việt trên trống Hòa Bình.

Bốn con thú bốn chân trên trống Hòa Bình trông giống thằn lằn có con mắt âm hai vòng tròn đồng tâm. Hai vòng tròn là hai nòng âm OO, thái âm có một nghĩa là nước. Đuôi con vật cũng có hình sóng cuộn. Con thằn lằn này sống được dưới nước là con cá sấu. Con cá sấu này có mõm nhọn như dao là con cá sấu dao, sấu Việt.

Trống Hòa Bình là trống biểu của tộc Lạc Việt Sấu Dao, Sấu Việt.

Muộn về sau, cá sấu dao thần thoại hóa thành rồng cá sấu dao gọi là Dao Long (thường viết là Giao Long, tôi viết là Dao để nhớ con Dao Long có cốt là con cá sấu mõm Dao).

clip_image098 clip_image100

Những tộc có tộc biểu là Dao Long là Dao Việt.

3. Đại Tộc Hùng Lạc: Tộc Thằn Lằn Rồng Đất.

Những tộc ở bên bờ nước như sông suối nhưng không có cá sấu có thể lấy con thằn lằn mang âm tính nước làm vật tổ.

Rồng đất thằn lằn cũng có nhiều loại như thấy qua bài đồng dao hát vòng quanh:

Kỳ nhông là ông kỳ đà,

Kỳ đà là cha cắc ké,

Cắc ké là mẹ kỳ nhông…

Các loài thằn lằn này gọi là Kỳ có nghĩa là Ki, Cây, Cọc mang dương tính của ngành Nọc ứng với Việt. Kỳ Nhông là con thằn lằn Cọc Nông (với h câm, ta có nhông = nông, có một nghĩa là khí gió như thấy qua tên Thần Nông). Kỳ Nhông là con thằn lằn Gió dương. Kỳ Đà có Đà có một nghĩa là nước như thấy qua các từ Đà Nẵng, Sông Đà, Đà Lạt, Đắc Lắc có gốc đác là nác là nước. Theo bài đồng dao này, Kỳ Đà mang nghĩa là con thằn lằn Nước dương (trong thực tế ngày nay người Việt gọi chung kỳ đà là loài thằn lằn rồng đất lớn). Cắc Ké có Cắc biến âm của cặc, cược, cọc và ké biến âm của kè (cây kè), kẻ (thước), qué (gà qué), que. Cắc Ké là con Cọc Que, con trụ nọc mang nghĩa biểu tượng cho Đất dương (lưu ý vì cắc ké có nghĩa cọc, que liên quan tới bộ phận sinh dục nam nên mới dùng như một tiếng chửi rủa: đồ cắc ké). Bài hát biểu tượng cho ba tiểu thế thế gian có kỳ nhông là cõi Trời (Gió), kỳ đà biểu tượng cho cõi nước và cắc ké biểu tượng cho cõi đất của ngành nọc Kỳ thái dương.

Ở đây Kỳ Đà với nghĩa thằn lằn nước thích hợp với tộc Hùng Lạc, Lạc Việt. Vì vậy tôi dùng từ thằn lằn kỳ đà nước cho thú biểu thằn lằn của Hùng Lạc, Lạc Việt.

Thằn lằn là vật tổ của các tộc thuộc nhánh nọc Việt âm thái dương thấy ở tộc Ao-Naga (Âu Long, Âu Lạc) ở vùng cực tây địa khối Vân Nam. Ngoài vật tổ chim cắt rắn nước, họ còn có tộc thờ thằn lằn.

clip_image102

Vật tổ của người Ao-Naga: rắn nước mang dương tính (hình sóng nước nhọn đầu), hai con rắn tạo hóa, sinh tạo nòng nọc, âm dương cuộn tròn, thằn lằn (có loại thần thánh hóa trông như rồng đất, khủng long) và chim mỏ rìu (dưới dạng cây rìu).

Chứng sử thằn lằn trong sử đồng Đông Sơn thấy ở Lào: trên trống đồng U Bông hay Nen-xỏng ở Lào có hình thằn lằn.

Đảo Komodo, Nam Dương có loài thằn lằn khổng lồ có thể sống dưới nước (được cho là có nguồn gốc từ Úc bơi tới) gọi là Rồng komodo. Đây chính là loài kỳ đà nước khổng lồ nên được gọi là Rồng Komodo.

clip_image104

Rồng Komodo ở đảo Komodo, Nam Dương.

Rồng Komodo được dùng làm vật tổ tương đương với cá sấu thấy ở trống Sangeang Malakamau, Nam Dương.

clip_image002[4]

Nhà Nọc có hình thằn lằn khổng lồ dragon Komodo ở chái nhà bên trái trên trống Sangeang Malakamau.

Ta thấy rắn nước Việt thần thoại hóa thành Rồng Rắn nước Việt, cá sấu Việt thành Rồng Sấu dao Dao Long, Dao Việt, thằn lằn Kỳ Đà Việt thành Rồng Kỳ Đà Việt… Chúng ta có Rồng Việt khác rồng Trung Quốc (có dịp tôi sẽ nói về đề tài này).

.Khuôn Mặt Sinh Tạo Đội Lốt Tạo Hóa Phía Nòng Âm Thần Nông.

Đây là khuôn mặt sấm mưa đã nói ở trên.

-Về vật biểu.

.Thú biểu

Về vật biểu, Hùng Lạc lịch sử thế gian nên có khuôn mặt vật tổ chính là con thú bốn chân sống trên mặt đất. Như đã thấy ở trên là loài bò sát sống được dưới nước hay liên hệ tới nước (như có mầu đen) mang dương tính nọc Việt (như mõm dao nhọn, có sừng…) như rắn có sừng, có mồng, cá sấu dao, cá sấu mõm sừng gharial, thằn lằn kỳ đà…

Về chim biểu:

Chim biểu của Hùng Lạc, Lạc Việt phải là một loài chim nước chân có màng có mang dương tính Việt.

.Ở cõi sinh tạo thế gian là con chim nông mang dương tính tức bổ nông đội lốt chim bồ nông ở cõi tạo hóa.

.Nhìn theo dòng Viêm Đế, Đế Minh, Hùng Lạc có chim biểu là chim rìu Lạc Việt, chim cắt Nước mầu đen như đã nói ở trên.

.Nhìn theo chim tổ của Tổ Hùng Vương ở cõi sinh tạo.

Như đã biết Tổ Hùng sinh tạo có chim biểu là Cò Lang. Cò Lang cũng có bốn đại tộc ứng với tứ tượng. Ở đại tộc Hùng Lạc này là con cò Nước, cò Lạc.

Chứng sử đồng Đông Sơn là con cò Nước ngành nọc thái dương lửa thấy trên trống Hữu Chung.

clip_image109

Cò có bờm như mũ che mưa. Trên cánh có hình sóng nước nhọn đỉnh mang dương tính là sóng nước dương. Đây là con cò Nước, Cò Lạc chim biểu của Hùng Lạc, Lạc Long Quân.

.Ở ngành nọc Việt âm thái dương là một loài chim nước mang dương tính Việt như thuộc loài ngỗng ngan, vịt trời Việt.

Như đã nói ở trên, trên trống Shan có hình chim nước được cho là loài vịt.

-Về dân tộc học.

Trên trống Nam Ngãi II như đã nói ở trên có những người chim thể điệu hóa tối đa thành những hình móc xoáy nước diễn tả người mặt trời đại tộc Nước Hùng Lạc, Lạc Việt.

Đại Tộc Hùng Lang

Đại tộc Hùng Lang là Lang Việt với chữ Việt hình rìu cong.

clip_image111

Chữ Việt trên giáp cốt văn hình rìu Việt có mặt trời vòng tròn tạo hóa, sinh tạo.

Chữ Việt cổ rìu tròn trong giáp cốt văn, theo duy dương (vì là vật nhọn), vòng tròn biểu tượng mặt trời, tạo hóa, sinh tạo. Rìu Việt vòng tròn biểu tượng của Tổ Hùng Tạo Hóa thượng thế và Tổ Hùng Sinh Tạo thế gian.

Rìu Việt nhà Thương hình câu liêm tức vòng tròn mở ra.

clip_image113

Chữ Việt đời nhà Thương hình câu liêm.

 Vòng tròn mở ra là dạng vòng tròn kín chuyển động mang dương tính. Rìu câu liêm là biểu tượng của Tổ Hùng, Hùng Vương ngành nọc Việt mặt trời thái dương.

Về ngôn ngữ học: ở đây, trống biến âm với không. Trống không. Không có một nghĩa là không khí, gió.

Như đã biết Lang có nhiều nghĩa:

-Ở cõi tạo hóa và sinh tạo thế gian Tổ Hùng có khuôn mặt là đấng tạo hóa, sinh tạo Trứng vũ trụ, trứng thế gian thì Lang là dạng dương của Nang (trứng).

-Ở ngành Nọc Việt thái dương thì Lang là con trai, đực, dương, mặt trời trai trẻ, vua mặt trời mới mọc rạng ngời. Ở đây, Lang là lạng, lạn là sáng (sáng lạn), mầu của mặt trời.

-Ở ngành Nọc Việt âm thái dương Lang là Nang (bọc túi) có khuôn mặt là bầu vũ trụ, bầu không gian, khí gió. Ở đây Lang có nghĩa là trắng, trong (trong trắng), mầu khí gió.

Chứng Sử Đồng Đông Sơn.

-Về hình dạng.

Trong sử đồng Đông Sơn, về hình dạng, Lang Việt, Hùng Lang có trống biểu là Trống Gió Dương hình lọng vòm trời  Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) ứng với Gió Dương thiếu âm Đoài vũ trụ, Tổ Hùng, Hùng Vương thái tổ có bản thể Khí, Gió. Ví dụ trống:

clip_image115

Trống Lương Sơn, Kim Bôi.

clip_image002[6]

Trống Karen.

Trống có trụ trống và đế trống thẳng đứng như trụ lọng và phần bầu trống ứng với tán lọng hình vòm trời thường có tua gió.

Lưu ý.

.Lọng nhất là lọng thờ có nhiều loại có hình dạng mang nghĩa biểu tượng theo nòng nọc, âm dương. Lọng đĩa tròn đỏ biểu tượng mặt trời. Lọng có tán hình vòm trời có tua biểu tượng không gian gió.

. Xin nhắc lại tộc Karen làm hầu hết loại trống này dùng làm trống biểu của họ. Karen nói tiếng Tầy Thái thuộc nhánh Nọc Việt âm thái dương. Karen là tộc dương của ngành nòng âm là thiếu âm, khí gió vì vậy họ lấy loại trống Gió này làm trống tộc biểu.

-Về nội dung.

Hùng Vương có liên bang Văn Lang gồm rất nhiều tộc vì thế có rất nhiều trống Gió, có nhiều loại cò Gió (cò sẽ nói ở phần chim biểu ở dưới).

Hãy lấy một hai ví dụ:

-Trống Quảng Xương.

Như đã biết, trống Quảng Xương là trống Hùng Vương sinh tạo thế gian đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa. Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8). Như thế mặt trời là mặt trời Càn nằm trong không gian Khôn. Trống là trống càn-khôn. Mặt trời-không gian càn khôn là bọc trứng vũ trụ. Trống Quảng Xương là trống biểu của Tổ Hùng Trứng Thế Gian sinh ra 100 Lang Hùng Mặt Trời.

Trên mặt trống diễn tả hai nhánh 50 Lang Hùng: nhánh Lửa Người Việt Mặt Trời Chim Cắt và nhánh Nước Người Việt Mặt Trời Rắn Dải của 100 Lang Hùng.

-Trống Việt Khê.

clip_image119

Trống Việt Khê.

Trống có mặt trời 8 nọc tia sáng mũi mác giống như trống Quảng Xương. Như vừa mới nói ở trên, trống Quảng Xương có cảnh sinh hoạt nhân sinh là trống thế gian đích thực. Ở trống Việt Khê này không có cảnh sinh hoạt nhân sinh và thú bốn chân thì không thật sự là trống thế gian mặc dù có mặt trời 8 nọc tia sáng như trống Quảng Xương. Trống chỉ có một vành bốn con cò bay nghĩa là trống mang tính trống vũ trụ. Tại sao? Như đã nói ở trên, vì trống có một nghĩa là đực dương mang tính chủ nên trên trống đồng chính thống không có loại mặt trời đĩa tròn có số 0 ánh sáng tức số Khôn tầng 1 tạo hóa (loại mặt trời đĩa tròn 0 ánh sáng này thường diễn tả mặt trời nữ thái dương có thể thấy trên cồng, một khuôn mặt âm của trống hay trên gương đồng, biểu tượng chính cho phía âm nữ). Vì vậy trên trống đồng mặt trời có số Khôn 8 nọc tia sáng đôi khi đại diện cho mặt trời có số Khôn 0 như thấy ở trống Việt Khê này. Vì thế trống Việt Khê có khuôn mặt là trống vũ trụ mặc dù có mặt trời 8 nọc ánh sáng.

Vì vậy trên mặt trống Việt Khê không có cảnh sinh hoạh nhân sinh và thú bốn chân mà chỉ có vành cò bay chủ yếu là vậy.

Đây là bốn con cò Gió bay, chim biểu của Hùng Vương (xem dưới). Quanh mặt trời và ngoài biên chỉ có một vành trống không lớn diễn tả không gian, trong có bỏ dấu (accent) chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm nọc nhỏ mang dương tính, lửa, thái dương nguyên tạo. Như thế hai vành trống không diễn tả không gian này mang tính dương, thái dương tức là Khôn dương Khí Gió.

Ở dưới chân trống có con chim ngửa cổ lên trời hót mang hình bóng con chim tu hú, chim biểu tượng cho Gió.

Như thế trống Việt Khê có khuôn mặt là trống vũ trụ, trống Gió Dương, Đoài vũ trụ mang tính sinh tạo, tạo hóa của một tộc Hùng Lang Gió.

-Về vật biểu.

.Thú biểu

Sói Lang Việt.

Về vật biểu, Hùng Vương lịch sử, thế gian nên khuôn mặt vật tổ chính là con thú bốn chân sống trên mặt đất. Con thú này theo nguyên tắc tên phải có nghĩa là nọc, Việt, mặt trời và tên phải là Lang. Đó là con thiên cẩu Sói Lang, Lang Việt. Ta thấy rất rõ Hùng Vương thứ nhất có hiệu là Lân Lang, Sói Lang Sáng Ngời (lân là lửa sáng như ma trơi, như lân tinh).

Chứng tích vật tổ Sói Lang Việt còn thấy nhiều trong văn hóa, lịch sử Bách Việt. Ví dụ

.Người Mường có câu ‘Cun lang bú chó, cun vó bú trâu’ xác thực Lang có một nghĩa là chó sói Lang và sói Lang là một vật tổ, vật biểu của tộc Mường [trong khi Cun vó là Cun loài bốn chân có móng như ngựa (vó ngựa) trâu, bò thì bú trâu].

.Tại vùng quê Việt Nam nhất là ở Huế trước đây có tục múa thiên cẩu (chó trời ám chỉ chó sói Lang với khuôn mặt tạo hóa, bầu trời)

.

clip_image121

Múa thiên cẩu (tranh dân gian).

Người Lạc Việt Tráng Zhuang, tộc Jangxi ngày nay còn giữ tục múa chó để chào mừng trẻ em sơ sinh, cầu vật tổ Chó phù họ cho em bé.

clip_image123

Tục múa Vật tổ Chó của tộc Jangxi, Tráng zhuang (ảnh của tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Sắc Tộc, Vân Nam).

Lạc Việt hải đảo ở Nam Dương ngày nay vẫn còn giữ tục tôn thờ vật tổ chó Aso.

clip_image125

Vật tổ Chó Aso.

 Chứng sử Vật Tổ Sói Lang Việt trong sử đồng Đông Sơn.

Như đã nói ở trên, trên trống Miếu Môn I đi với những còn cò ‘Nang’ có túi gió, túi âm thanh hình tam giác dưới mỏ (hiện nay tưởng lầm là mồi) có bốn con thú mà các tác giả Việt Nam gọi là ‘thú lạ’.

clip_image127

Cò ‘nang’ và thú ‘nang’ trên trống Miếu Môn I.

 Tôi đã dùng con “Nang’ này làm hình bìa cho cuốn Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc (Âm Dương) Đông Nam Á tập II.

clip_image129

Như đã nói ở trên, đây là con thú có túi nang dưới cổ để hú, tru tức con chó sói, con Lang, thú biểu của Lang Hùng Vương có mạng khí gió.

Như đã biết, trên một chiếc rìu thờ tôi gọi là Rìu Hồng Bàng còn ghi khắc hình con sói lang Việt, thú biểu của Tổ Hùng đi cùng với Hươu Sủa mang gạc Việt, thú biểu của Kì Dương Vương và Dao Long, linh thú biểu của Lạc Long Quân .

clip_image070[1]

Trên rìu thờ Hồng Bàng Thế Gian có con sói Lang Tổ Hùng đi với hươu sủa mang gạc Kì Dương Vương và dao long Lạc Long Quân.

…..

-Về chim biểu:

Hùng Vương thế gian có khuôn mặt sinh tạo đội lốt Tổ Hùng nên có các vật tổ chim cùng với Tổ Hùng như Cò Gió, Cò Lang. Cò Lang, ở đại tộc Hùng Lang này là con cò Gió mầu trắng ngành nọc thái dương .

.Nhìn theo dòng Viêm Đế, Đế Minh, Hùng Lang có chim biểu là chim rìu, chim Việt, chim cắt Lang mầu trắng như đã nói ở trên.

clip_image131

Một chứng sử đồng Đông Sơn là con cò Gió:

-Như đã nói ở trên, cò Lang trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image133

-Trên trống Việt Khê này.

clip_image134

Cò Gió trên trống Việt Khê.

Cò có bờm tua gió. Cánh hình tán lọng, vòm trời giống linh tự bầu trời của Ai Cập cổ:

clip_image136

Linh tự Ai Cập cổ ‘sky’ (bầu trời) diễn tả vòm trời như cái nắp vòm giống hình cánh cò ở đây trên có ‘viết’ chữ ba chiếc bình tròn diễn tả ba nòng âm OOO tức quái Khôn có một nghĩa là không gian, bầu trời thái âm.

Thân cò cong hình vòng cung bầu trời. Thân và đuôi hình con diều gió. Đây là con cò Gió dương biểu tượng của Tổ Hùng, Hùng Lang có một khuôn mặt bầu vũ trụ, bầu trời, khí gió.

Ở thân trống, như đã biết, có con chim tu hú, chim biểu của gió, của Tổ Hùng, Hùng Lang có mạng Gió.

clip_image137

Chim tu hú trên trống Việt Khê.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt rạng ngời trống Việt Khê là trống biểu của Tổ Hùng tạo hóa, Hùng Vương sinh tạo.

…..

Mê Linh

Hai Bà Trưng dòng dõi Hùng Vương quê ở Châu Phong :

Bà Trưng quê ở châu Phong,

Giận người tam bạo thù chồng chẳng quên…

lấy tên thủ đô là Mê Linh. Như đã biết, tiếng Ê- Đê có loài chim tên là mơ linh, mơ lang, Mã ngữ langling là chim cắt sặc sỡ ở miền Nam Mã Lai. Như thế Hai Bà Trưng lấy tên thủ đô Mê Linh là tên con chim Cắt Lang, chim biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương.

Châu Phong, Bạch Hạc.

Hiển nhiên Châu Phong là châu Gió, vùng đất tổ Hùng và Bạch Hạc có nghĩa là Cò Trắng, Cò Lang, Cò Gió, chim biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương.

Việt Trì

Việt Trì thường hiểu theo nghĩa là Ao Việt. Ao là ‘bọc nước’, hồ nước. Ao hồ. Ao sen còn gọi bầu sen. Rõ ràng bầu là bao bọc, ao. Ao biến âm với áo có một nghĩa là lớp bao bọc. Ao là bọc nước Nòng Nước. Như đã biết Việt là rìu, nọc nhọn, lửa. Việt Trì là Nọc lửa-Nòng Nước là Chim lửa- Rắn nước, Tiên-Rồng.

Vì vậy mà Việt Trì mới là thủ đô của tỉnh Phú Thọ vùng đất Tổ Việt Nam, nơi có đền Tổ Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh.

Con Số 18 của Hùng Vương.

Có 18 con cò bay, 18 chim đứng trên mặt trống Ngọc Lũ I. Rất tiếc không có đủ hình vẽ của cả vành chim này nên không thể nhận diện chính xác từng con một. 18 con chim này ứng với con số 18 là mã số DNA của Hùng Vương (xem bài viết này).

clip_image139

Một số cò bay và chim đứng trong vành 18 cò bay và 18 chim đứng trên trống Ngọc Lũ I.

Theo nguyên tắc mỗi bán viên có 9 con cò bay và 9 con chim đứng. Trong sử sách có nói tới Cửu Lê, Cửu Lạc. Lê biến âm la, lá, lửa và Lạc biến âm với Nác, Nước. Cửu Lê thuộc ngành Lửa, Chim, Tiên và Cửu Lạc thuộc ngành Nước, Rắn, Rồng. Chín con cò bay và 9 con chim đứng ở mỗi bán viên có thể liên quan tới Cửu Lê và Cửu Lạc.

Âu Lạc.

Âu Lạc là liên minh Âu Việt nhánh Âu Cơ với Lạc Việt nhánh Lạc Long Quân còn thấy rõ trên trống Sông Đà.

clip_image141

Trống Sông Đà.

Những vành ngoài biên trống có vành những hình thoi chuyển động diễn tả gió dương Đoài vũ trụ, đại diện cho gió âm Tốn, một khuôn mặt của Âu Cơ và có những hình sóng cuộn gẫy cạnh diễn tả sóng nước dương Chấn Lạc Long Quân. Vành này cho biết có sự liên hợp Âu Lạc Việt.

Trống Đào Xá cũng là trống biểu của một khuôn mặt Âu Lạc phía nòng âm thái dương (xem dưới).

Văn Lang

Đây là một liên bang của nhiều ngành, nhiều đại tộc, chi tộc nên Văn Lang có nhiều nghĩa. Cũng như các từ khác của văn hóa Việt Nam phải nhìn theo diện nòng nọc, âm dương và dọc suốt chiều dài của qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh, của Dịch lý.

.Nhìn dưới dạng sinh tạo.

Văng Lang có thể là Vlang, là Lang, Nang (bọc, trứng) mang dương tính tức Bọc Trứng 100 Lang Hùng. Với nghĩa này, Văn Lang là liên bang 100 Lang Hùng, Tổ Hùng. Như đã biết trống Quảng Xương có một khuôn mặt là trống biểu của Văn Lang Tổ Hùng này.

.Nhìn dưới dạng ngành Nọc Việt dương thái dương mặt trời Viêm Đế thì Văn Lang = Vlang = Lang (con trai) = Chàng (con trai, đục chisel) = Việt = Mặt Trời.

Văn Lang theo nghĩa này là liên bang Người Việt mặt trời thái dương ngành Nọc Việt thái dương gồm hai nhánh Nọc Việt dương thái dương và Nọc Việt âm thái dương. Trống Ngọc Lũ I có một khuôn mặt là trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương này.

.Nhìn dưới diện lịch sử thế gian có thú biểu là loài bốn chân sống trên mặt đất thì Văn Lang = Mang Lang. Văn có nghĩa là đực, phái nam thấy rõ qua chữ đệm Văn của tên người Việt như Nguyễn Văn X, nhìn chữ đệm Văn biết ngay là tên người nam (trong khi nhìn chữ Thị là biết tên người nữ). Đực là nọc (heo nọc), cọc. Con Cọc là con thú bốn chân có sừng tức con hươu, con mang. Theo v=m như váng = màng, ta có Văn = Man, Mang. Mang có một nghĩa là gai nhọn (thảo mang) cùng là vật nhọn với sừng. Con thú có mang (gai, vật nhọn) là con mang (Hươu sừng, mang gạc, mang mễn). Như thế nhìn dưới diện thú biểu bốn chân sống trên mặt đất thì Văn = Mang, con mang, con hươu sừng và Lang là con Sói Lang. Với nghĩa này Văn Lang là liên minh hai đại tộc Hươu mang gạc, munjac, hươu sủa, Hươu Việt, thú biểu của Hùng Kì, Kì Dương Vương nhánh Nọc Việt dương thái dương với đại tộc sói Lang, Sói Việt, thú biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương nhánh Nọc Việt âm thái dương.

Lưu ý thêm nữa là Mang gạc Hùng Kì Đất dương Li ứng với thiếu dương và Lang sói Hùng Lang, gió dương Đoài vũ trụ ứng với thiếu âm. Văn Lang Mang Lang là dạng kết hợp thiếu dương với thiếu âm tức giao hòa Tiểu Vũ Trụ (thiếu là tiểu) ở cõi người, thế gian. Văn Lang Mang Lang là nhánh Người Nọc Việt thái dương thuộc chủng người Tiểu Vũ Trụ.

Như thế liên minh Mang Lang có thể mang nghĩa chính của Văn Lang vì đây là liên minh của Hùng Vương lịch sử, thế gian.

Chứng sử đồng còn thấy là trống Miếu Môn I có mang gạc và sói ‘nang’ ở trên cùng một vành mang tính chủ yếu của trống (xem trống này).

clip_image145

Trống Miếu Môn I.

clip_image146

Hai nhóm Mang gạc và Sói Lang trên Trống Miếu Môn I.

Trống Miếu Môn I là trống Văn Lang Mang Lang thế gian.

.Nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh trọn vẹn thì Văn Lang là liên minh của cả ngành Nọc Việt thái dương gồm hai nhánh Nọc Việt dương thái dương và Nọc Việt âm thái dương có đủ tứ dân, bốn đại tộc ứng với tứ tượng ở tứ phương.

Chứng sử đồng về hình dạng là loại trống Đông Sơn Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I). Trống này do trống biểu của bốn loại trống ứng với tứ tượng hợp lại. Đó là trống Lửa hình trụ ống Nguyễn Xuân Quang II (ví dụ một trống Lào Man Việt, Đế Minh), trống Gió hình lọng gió Nguyễn Xuân Quang III (trống Karen Lang Việt, Tổ Hùng), trống Nước hình cái âu, cái bát Nguyễn Xuân Quang IV (trống trệt Nam Trung Hoa Lạc Việt Lạc Long Quân) và trống Đất hình Núi tháp trụ tròn xoay cụt đầu Nguyễn Xuân Quang V (trống Tân Long Kì Việt Kì Dương Vương).

clip_image148

Trống loại Đông Sơn này tìm thấy nhiều nhất ở Việt Nam xác thực Việt Nam là đất tổ của liên bang Văn Lang (federal seat) giống như Washington D.C. của liên bang Hoa Kỳ.

. NHÁNH NÒNG VIỆT THÁI DƯƠNG.

Trong sử đồng Đông Sơn dĩ nhiên không có trống thuần âm nòng nữ thái âm của ngành Nòng Bộc Thần Nông thái âm và của khuôn mặt nữ Âu Cơ. Thường chỉ có trống Nọc Việt âm thái dương đại diện.

Tộc ‘Khủng Long’.

Thằn lằn còn có tên là rồng đất. Có một loài thằn lằn rồng đất ‘kinh khủng’gọi là khủng long. Khủng long dinosaur có dino-, kinh khủng và saur có gốc Latin sauros, thằn lằn.

Hình khủng long thấy trên Trống Đào Xá.

clip_image150

Trống Đào Xá.

Trống có mặt trời 6 vòng ánh sánh. Ánh sáng vòng tròn là ánh sáng Nòng âm. Như đã nói ở trên, trên trống đồng có hai loại ánh sáng nòng nọc, âm dương là ánh sáng Nòng vòng tròn như ở đây và ánh sáng Nọc mũi mác thấy gần như hầu hết trên các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Văn hóa Đông Sơn gần như duy nhất là nền văn hóa mặt trời có hai loại mặt trời có ánh sáng nòng nọc, âm dương. Điều này cho thấy rõ và xác thực văn hóa Việt Nam có cốt lõi đích thực là Chim-Rắn Tiên Rồng, nòng nọc, âm dương, có triết thuyết là Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch Nòng Nọc Đông Sơn ăn khớp khắng khít với văn hóa Đông Sơn cũng dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương.

Số 6 là số lão âm, âm thái dương. Sáu vòng ánh sáng là ánh sáng âm thái dương. Tính thái dương cũng được xác thực bằng hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là thái dương sinh động nằm ở hai bên 6 vòng ánh sáng.

Như thế mặt trời là mặt trời nòng âm thái dương. Trống là trống biểu của một tộc thuộc Nòng Việt âm thái dương. Điểm này thấy rất rõ qua sự kiện là không có sự hiện diện của Chim, vật biểu của nhánh Nọc Việt thái dương.

Ta đã biết loài bò sát rắn, cá sấu, thằn lằn nước là vật biểu của ngành Nòng Bộc Thần Nông thái âm. Nếu các vật tổ loài bò sát có liên hệ tới nước này có mang thêm dương tính (như sừng, mồng) thì là vật biểu của Lạc Long Quân thuộc nhánh Nọc Việt âm thái dương. Trong trường hợp này Lạc Long Quân là đại diện cho Nòng Bộc thái âm.

Đuôi khủng long hình lông chim nhọn như lưỡi dao nhọn mang tính nọc lửa, thái dương, Việt. Ở đây những con khủng long mang một yếu tố dương lông chim nhọn nhưng không ở đầu mà lại là ở đuôi tức mang tính âm. Đây là khuôn mặt âm (O) thái dương II tức quẻ ba vạch OII, Tốn, khuôn mặt Nàng Lửa, mặt trời nữ thái dương của Âu Cơ hay Không gian (O) thái dương tức khí gió âm cũng là một khuôn mặt bầu trời, Gió âm của Âu Cơ (sinh ra bọc trứng).

Như thế nhìn dưới một tộc duy nhất đây là tộc khủng long mang tính âm thái dương phía Âu Cơ. Tuy nhiên ở trên trống có khuôn mặt chủ là đực (gà trống) là nọc, là Việt nên có khuôn mặt âm nam Lạc Long Quân là đại diện (vì thế mà lông chim Âu Cơ để ở đuôi).

Tóm lại trống khủng long có đuôi lông chim này nếu nhìn theo phía diện âm nữ thái dương là trống biểu của Âu Cơ nấp bóng Lạc Long Quân.

Nếu nhìn dưới dạng kết hợp, liên minh Nước-Lửa thì khủng long thằn lằn-đuôi chim ứng với Lạc Long Quân-Âu Cơ. Chim ở đuôi nên khuôn mặt long ở đầu mang tính chủ. Điểm này dễ hiểu vì trên trống thì khuôn mặt nam Lạc Long Quân mang tính chủ (trên cồng âm nữ hay gương đồng khuôn mặt nữ Âu Cơ mang tính chủ giống như thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật có vật biểu là gương).

Nhìn dưới diện lịch sử thì đây là liên minh Lạc-Âu phía nòng âm thái dương.

Hình khủng long-đuôi lông chim dưới dạng kết hợp này làm liên tưởng tới sự hôn phối giữa Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung. Chử Đồng Tử có nghĩa là chàng Con Trai ‘Sống ở Bãi Sông’ (dân vạn chài, đánh cá), Chử biến âm với Cừ (với h câm, Chử = Cừ). Cừ là cây nọc đóng ven sông. Nọc, cọc là con trai. Cừ, Chử là chàng trai sống ven sông. Như thế Chử Đồng Tử thuộc dòng nước Lạc Long Quân. Tiên Dung có Dung là Dong như bao dung = bao dong. Qua từ đôi bao dong ta có Dung, Dong = bao, bọc. Lá dong dùng bao bọc, gói bánh chưng. Bao bọc là Nang (túi) là Nàng, Nường, Nòng (các Nàng, Nường có bao, có túi, dạ con). Bao, bọc cũng biểu tượng cho khí, gió, bầu không gian, bầu trời, túi trời (Ông Túi Trời là ông Thần Gió). Nàng Dung có khuôn mặt gió âm Tốn thuộc dòng Âu Cơ. Còn Tiên hiểu theo nghĩa giai nhân sống trên núi hiển nhiên cùng dòng Tiên Âu Cơ. Tiên có một khuôn mặt là Lửa, Chim. Theo duy dương Tốn OII là Nàng (O) Lửa (II).

Như thế Tiên Dung có hai khuôn mặt: Tiên là Chim, lửa ứng với khuôn mặt Nàng Lửa Tốn của Âu Cơ và Dung, Dong là Gió ứng với khuôn mặt Nàng Gió Tốn của Âu Cơ.

Như vậy Chử Đồng Tử con cháu Lạc Long Quân và Tiên Dung con cháu Âu Cơ. Sự hôn phối giữa Tiên Dung với Chử Đồng Tử là một dạng hôn phối Chim-Rắn nòng nọc, âm dương.

Theo cùng ngành nòng âm cùng bản thể âm, ta có sự kết hợp giữa Chủ Đồng Tử có Chử là Nọc Nước dòng Chàng Nước Lạc Long Quân lấy Tiên Dung có Dung, Dong là Nòng Gió, Nường Gió dòng Âu Cơ với khuôn mặt Nàng Gió Tốn. Nếu nhìn theo nòng nọc, âm dương đối nghịch ta có Nọc Nước Chử Đồng Tử lấy Nường Tiên (Dung) dòng Âu Cơ với khuôn mặt Nàng Lửa Tốn.

Bây giờ đối chiếu con khủng long đuôi lông chim này với truyện Chử Đồng Tử-Tiên Dung. Ta thấy rõ khủng lỏng rồng đất khổng lồ (nói theo cách lười biếng, tắt ngang ở Việt Nam hiện nay là ‘Rồng Khủng’) là một khuôn mặt của Lạc Long Quân-Chử Đồng Tử và đuôi chim là một khuôn mặt của Âu Cơ-Tiên Dung.

Sự đối chiếu này cho thấy rõ trống Đào Xá, theo duy âm, cùng bản thể âm là trống kết hợp giữa khủng long Lạc Long Quân Nước dương Chấn với lông chim Âu Cơ Gió âm Tốn. Ta có một loại Dịch với Tiên Thiên bát quái trong đó Chấn hôn phối với Tốn (gió âm).

Theo âm dương đối nghịch trống Đào Xá là trống hôn phối giữa khủng long Lạc Long Quân Chấn Nước dương với đuôi chim Âu Cơ Lửa âm Tốn (lửa âm).

Trống Đào Xá là một trống diễn tả khuôn mặt Nòng Việt thái dương (Âu Cơ) nấp bóng Nọc Việt âm thái dương (Lạc Long Quân).

Đây là một trống được cho là rất muộn tuy nhiên về phương diện Vũ Trụ thuyết và sử học đây là một trống độc nhất hiện nay là trống biểu của ngành Nòng Việt thái dương. Đây là trống độc nhất hiện nay có ánh sáng âm nòng vòng tròn. Đây là một trống quí nhất trong trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

……

TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN LÀ CỦA VIỆT NAM.

Bộ sử đồng này là một bằng chứng nữa, một bằng chứng kiên cố, không thể chối cãi được là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, là của Bách Việt.

Trống đồng tuyệt nhiên không phải của người Trung Quốc (xem Trống Đồng của Việt Nam hay Trung Quốc?).

Điều đáng buồn là người Việt Nam quá thờ ơ với quốc bảo, với di sản văn hóa và tâm linh của mình, trong khi đó người Trung Quốc tận lực phổ biến, phát huy trống đồng cho dân tộc họ và cho cả trong cộng đồng thế giới. Từ phi trường Nam Ninh về thành phố là Đại lộ Trống Đồng với những kiến trúc trống đồng khổng lồ để dọc theo bên đường.

clip_image152

Đại lộ trống đồng.

Những cơ sở văn hóa, trung tâm thương mại xây dựng theo hình dạng trống đồng.

clip_image154

Bảo tàng viện cũng là một kiến trúc trống đồng vĩ đại.

clip_image156

Nhìn sự quảng bá trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn này của người Trung Quốc mà thấy rưng rưng nước mắt…

Kết Luận

Nhìn tổng quát trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn chứa đựng một kho tàng văn hóa chính thống có cốt lõi dựa trên nguyên lý căn bản là nòng nọc, âm dương, chim-rắn, Tiên Rồng của Việt Nam. Trong đó có ba bảo thư bằng đồng là 1. Bộ Sách Văn Hóa Việt Bằng Đồng, Bằng Hình 2. Bộ Việt Dịch Đông Sơn Bằng Đồng, Bằng Hình 3. Bộ Việt Sử Đồng Đông Sơn Bằng Hình.

Trống Đồng là Bộ Sử Đồng Bằng Hình chính thống của Đại Tộc Việt cách đây trên dưới 3.000 năm.

Bộ sử này đã cho thấy sử miệng hay sử sách (dù có muộn về sau) vẫn giữ được nguồn cội ít nhiều so với sử đồng.

Sử đồng cho thấy người Việt thuộc chủng Người Tiểu Vũ Trụ, con của Đại Vũ Trụ. Chủng người Tiểu Vũ Trụ gồm có hai ngành:

-Ngành Nọc, Chim, Lửa, Mặt Trời ứng với Trụ của Vũ Trụ, ngành thần mặt trời Viêm Đế thái dương. Đây là ngành Nọc Việt thái dương.

-Ngành Nòng, Rắn. Nước, Không Gian ứng với Vũ của Vũ Trụ, ngành thần không gian Thần Nông thái âm. Đây là ngành Nòng Bộc thái âm (Bộc hiểu theo nghĩa Bọc, Bao, Bầu đi với không gian).

Đại Tộc Việt thuộc về ngành Nọc Việt thái dương. Trống có khuôn mặt chủ là nọc, đực (trống có một nghĩa chính là đực), mặt trời, Việt nên bộ sử đồng Đông Sơn có khuôn mặt chính là bộ sử của Người Việt Mặt Trời Thái Dương ngành Nọc Việt thái dương dòng thần mặt trời Viêm Đế. Nhìn chung trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Ngành Nọc Việt mặt trời thái dương.

[Trong khi cồng (khuôn mặt âm của trống đồng) là cồng biểu của Nòng Bộc phía dương và gương đồng có một khuôn mặt là gương biểu của Nòng Bộc phía âm nữ].

Các Hùng Vương lịch sử là Vua Mặt Trời thuộc ngành Nọc Việt thái dương, di duệ của thần mặt trời Viêm Đế nên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có khuôn mặt chính là trống biểu của Hùng Vương lịch sử.

Mỗi trống là một chương sử đồng, một vài ví dụ như:

1. Ngành Nọc Việt thái dương.

Gần như hầu hết trống đồng nòng nọc, âm dươngcủa đại tộc Đông Sơn có mặt trời có tia sáng dương nọc mũi mác là trống biểu của ngành Nọc Việt thái dương. Trong đó có

-Trống Ngọc Lũ I là trống biểu của nhánh Nọc Việt dương thái dương của ngành Nọc Việt thái dương.

-Trống Hoàng Hạ là trống biểu của nhánh Nọc Việt âm thái dương của ngành Nọc Việt thái dương.

-Trống Quảng Xương là trống biểu của Văn Lang 100 Lang Hùng gồm hai nhánh Người Chim Cắt Tiên và Người Rắn Dải Rồng.

-Trống Miếu Môn I là trống biểu của Văn Lang thế gian Hươu Mang Hùng Kì-Sói Lang Hùng Lang.

-Trống Đông Sơn IV là trống biểu của đại tộc Man Việt dòng Đế Minh.

-Trống Phú Xuyên là trống biểu của đại tộc Kì Việt dòng Kì Dương Vương.

-Trống Hòa Bình là trống biểu của đại tộc Lạc Việt, tộc Sấu Dao dòng Lạc Long Quân.

-Trống Việt Khê là một trong những trống biểu của đại tộc Lang Việt dòng Tổ Hùng.

…….

2. Ngành Nòng Việt thái dương.

Rất hiếm thấy trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có mặt trời có ánh sáng âm nòng vòng tròn, trống biểu của ngành Nòng Việt thái dương. Hiện nay chỉ thấy có một trống Đào Xá.

Ta hãy dùng bộ sử đồng này để kiểm chứng, đối chiếu, điều chỉnh và tu chính lại sử miệng và lịch sử Việt cho đúng. Hiện nay cổ sử Việt đã và đang bị diễn dịch và giáo dục sai lạc rất nhiều.

Trống đồng là quốc bảo của Việt Nam và là bảo vật của thế giới. Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là di sản văn hóa Việt, linh hồn Việt, là khí thiêng sông núi Việt, là bài vị của tổ tiên Việt… TRỐNG ĐỒNG PHẢI LÀ MỘT DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI UNESCO CỦA VIỆT NAM.

Như đã nói ở trên, ngoài ra trống đồng còn là bộ Việt Dịch đồng Đông Sơn duy nhất bằng hình của nhân loại và là quyển tự điển bằng đồng chữ nòng nọc vòng tròn-que của nhân loại, có dịp tôi sẽ nói trong tương lai.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: