TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN, BỘ SỬ ĐỒNG BẰNG HÌNH CỦA ĐẠI TỘC VIỆT (phần 2).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN, BỘ SỬ ĐỒNG BẰNG HÌNH CỦA ĐẠI TỘC VIỆT.

Nguyễn Xuân Quang

(phần 2).

(Bài nói chuyện ngày 19-4-2015 tại Hội Phát Triển Nghệ Thuật Truyền Thống Việt Nam và Hội Quán Lạc Hồng, Quận Cam, Little Saigon, Nam Cali., USA).

clip_image002

clip_image004

Dân Tộc Học: Man, Mán, Mường.

Chúng ta là Man, Mán, Mường có nghĩa là Người (Việt ngữ Man chính là Anh ngữ Man, Người). Người là Tiểu Vũ Trụ, con của Đại Vũ Trụ, sinh ra từ Bầu Vũ Trụ, Trứng Vũ Trụ, Cây Vũ Trụ.

Như đã nói ở trên, người cuối cùng có trang phục đầu hình bầu nậm của nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I là người Bách Việt thuộc chủng Người Tiểu Vũ Trụ.

clip_image006

Rõ như ban ngày chúng ta Man, Mán, Mường thuộc CHỦNG NGƯỜI TIỂU VŨ TRỤ.

Dân tộc học cũng ăn khớp trăm phần trăm với sử miệng.

CHỦNG NGƯỜI TIỂU VŨ TRỤ BÁCH VIỆT.

Người Tiểu Vũ Trụ Bách Việt, con của Đại Vũ Trụ ứng với Thần Nông-Viêm Đế nhất thể, gồm hai ngành:

-Ngành nọc dương mặt trời Viêm Đế là Ngành Nọc Việt Người Việt Mặt Trời Thái Dương, Chim, Tiên ứng với phần Nọc cổ bầu của trang phục đầu hình bầu nậm của Người Tiểu Vũ Trụ nói trên.

-Ngành nòng âm không gian Thần Nông thái âm là ngành Nồng Bộc, Rắn, Rồng ứng với phần Nòng bầu của trang phục bầu nậm của Người Tiểu Vũ Trụ nói trên.

Chứng sử hai ngành Chim-Rắn, Tiên Rồng của Người Tiểu Vũ Trụ Bách Việt còn thấy ghi rõ rất nhiều trong sử đồng Đông Sơn.

Trên trống Quảng Xương có hai nhánh chim cắt và rắn nước (con dải) thái dương ngành nọc Việt Người Việt Mặt Trời thái dương Viêm Đế.

clip_image008

Người mặt trời hóa trang chim cắt có trang phục đầu hình chim cắt có mắt là chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời, có mỏ rìu cường điệu, có mũ sừng và váy xòe hình hai cánh chim thuộc nhánh Chim Cắt nọc Việt dương thái dương.

clip_image010

Người mặt trời con dải (rắn) nước có thân dải nước, đầu có mắt chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm-vòng tròn mặt trời có tia sáng tỏa rạng, đầu sừng ở trần truồng thuộc nhánh Rắn Nước nọc Việt âm thái dương.

Như đã nói ở trên, những người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I hóa trang thành người chim có trang phục đầu có góc cạnh mang dương tính hình đầu chim cắt có sừng cao.

clip_image012

Người mặt trời hóa trang chim cắt trên trống Ngọc Lũ I.

Đây là Người Việt Mặt Trời Thái Dương nhánh Nọc Việt dương thái dương ngành mặt trời Viêm Đế.

Trên đồ đồng Điền Việt còn thấy tộc rắn Nòng Bộc thuộc ngành nòng âm không gian Thần Nông thái âm:

clip_image014

Một ‘đền thờ’ của một tộc Nòng Bộc rắn Điền Việt có trụ ‘bảng tên’ bộ tộc hình rắn trước đền.

Và rất nhiều dạng chim-rắn lưỡng hợp:

clip_image016

Một chiếc thuyền trên trống Sông Đà có đầu rắn nước, đuôi đầu chim mỏ rìu, mỏ cắt.

clip_image018

Hình chim mỏ cắt bay ở tang trống và con rắn ở chân chiếc trống phía trên của một Trục Thế Giới dùng dâng lễ vật của Điền Việt, Nam Trung Hoa được làm bằng hai chiếc trống đồng chồng lên nhau.

Lưu ý chim cắt bay ở trên tang trống diễn tả cõi trời lửa Thượng Thế thái dương, hươu sừng ở eo trống diễn tả Trung Thế và con rắn ở chân trống diễn tả Hạ Thế thái âm.

clip_image019

(hình vẽ A and B của Goloubev,1940, Figure 16).

Mũi thuyền trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ nhìn tổng thể có đầu rắn có mắt âm với con ngươi hình chấm bao quanh bởi hai vòng tròn đồng tâm. Hai vòng tròn nòng là hai nòng âm, thái âm có một nghĩa là nước, xác định con rắn này là con rắn nước.

Theo truyền thuyết của người Ngaju, Dayak, Borneo (một tộc Lạc Việt hải đảo), Rắn nước (Watersnake Tampon, trong ngôn ngữ Hindu-Javanese gọi là naga) là thần Nước Nguyên khởi hay Âm thế (deity of the Primeval water or Nether world). Dưới thời ảnh hưởng văn hóa Hindu, vị thần này được gọi dưới tên là Bawin Jata Balawang Bulau có nghĩa là “ thần nữ Jata với cửa vàng” (“the feminine Jata with the golden door”). Biểu ngữ “cửa vàng” chỉ âm hộ phái nữ (the expression “golden door” is a euphemism for the female pudenda) (Hans Scharer, Ngaju’s Religion, tr.15). Như thế, theo thuần âm, đầu thuyền hình rắn nước biểu tượng nòng, âm, nước nguyên khởi, nước vũ trụ, cực âm, thái âm và bộ phận sinh dục nữ, cõi âm.

Trong miệng rắn có một con chim mỏ rìu tức chim cắt, có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Mũi thuyền cho thấy có sự kết hợp, giao hợp giữa rắn nước âm và chim rìu lửa dương nhánh thái dương.

Lưu ý con rắn này có sừng (hay mồng thịt) cong là rắn thuộc nhánh nọc âm thái dương ứng với Lạc Long Quân (sẽ nói rõ ở phần Lạc Long Quân ở dưới).

clip_image021

Đầu thuyền trên trống Miếu Môn I, hàm trên của rắn nước bây giờ là đầu chim mỏ cắt. Đây cũng là một dạng lưỡng hợp chim rắn nhưng đã bắt đầu ở dạng thần thoại hóa thành Rắn-Chim, một thứ ‘rồng rắn chim’ của Bách Việt.

clip_image023

Một chiếc thuyền trên trống Quảng Xương có đầu thuyền đã thần thoại hóa hoàn toàn thành rắn nước-bờm chim cắt. Đây là ‘rồng rắn nước- bờm chim cắt’của Việt Nam. Rắn-bờm chim này tương tự như rắn-lông chim Quetzal Coatl của Aztec và kukulcan của Maya.

NGÀNH CHIM VIỆT MẶT TRỜI THÁI DƯƠNG VIÊM ĐẾ.

Như đã biết, Man, Mán, Mường là Người tức Tiểu Vũ Trụ, con của Đại Vũ Trụ. Đại Vũ Trụ gồm phần Vũ là Võ, Vỏ tức không gian và Trụ là Nọc, Cọc, dương là mặt trời. Chúng ta là Việt Người Mặt Trời thuộc về Trụ của Vũ Trụ thuộc ngành Chim Việt mặt trời Viêm Đế.

Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế là vị thần mặt trời sinh tạo cõi người thế gian đội lốt thần mặt trời Viêm Đế cõi tạo hóa.

.Man Mán Mường là Người, theo duy dương, Người là Ngời là Rạng (Mã Lai ngữ orang là người có -rang = rạng). Man, Mán, Mường ngời rạng là Con của Ánh Sáng (Đế Minh), là Người Mặt Trời ( Xích Quỷ của Kì Dương Vương) giống như các thổ dân Mỹ châu liên hệ với chúng ta, họ vẫn nhận là Children of Light, là People of the Sun.

.Việt là rìu là nọc là dương là mặt trời (Việt Là Gì ?).

Tôi đã nói rõ Người Việt là Người Mặt Trời Hừng Rạng trong bài nói chuyện Việt Là Gì? kỳ trước, giờ chỉ xin nhắc lại một vài chứng tích tiêu biểu.

clip_image025

.Hàng trên: ở bãi đá cổ Sapa, Việt Nam còn khắc ghi người Việt Mặt Trời nam có bộ phận sinh dục hình rìu Việt câu liêm giống như chữ Việt clip_image002[1]trên giáp cốt văn đời nhhà Thương và người nữ có bộ phận sinh dục là vòng tròn nòng. Đây là hình ảnh Chàng, Lang và Nàng (Mẹ), Nương (Mỵ) Hùng mặt trời.

Hàng dưới: trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây còn hình vẽ cảnh người Lạc Việt Tráng Zhuang nhẩy múa thờ mặt trời. Người Tráng có chiếc rìu Việt đầu hình mặt trời.

Còn rất nhiều chứng sử Người Việt Mặt Trời trong sử đồng Đông Sơn.

Man, Mán, Mường là Người, Ngời con của Ánh Sáng Đế Minh, là Xích Quỉ Người Mặt Trời con của Kì Dương Vương nên Người trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn hầu hết hóa trang thành Người Chim Mặt Trời, tay thường cầm rìu Việt  biểu tượng mặt trời.

clip_image027

Một người mặt trời hóa trang chim tay cầm rìu Việt là Người Việt Mặt Trời thái dương.

clip_image029

Như đã nói ở trên, rõ nhất là những người trần truồng thuộc tộc nước có trang phục đầu con dải rắn nước. Người này có con mắt hình mặt trời với nọc tia sáng rạng ngời. Một trăm phần trăm đây là Người Mặt Trời. Đây là Người Việt mặt trời thuộc nhánh Nọc Việt âm thái dương nước rắn Lạc Long Quân.

Chúng ta Người Mặt Trời hiển nhiên thờ mặt trời. Còn nhiều chứng tích cho thấy chúng ta thờ mặt trời trong sử đồng như sau:

.Chúng ta thờ trống đồng, hiển nhiên thờ mặt trời. Người Lạc Việt Tráng Zhuang thờ trống đồng với cảnh nhẩy múa thờ mặt trời quanh trống đồng còn thấy vẽ trên vách đá Hoa Sơn.

clip_image031

Cảnh thờ trống đồng và mặt trời của người Việt Tráng Zhuang trên vách đá Hoa Sơn.

Trên trống Quảng Xương có ngôi nhà nọc thờ mặt trời với hai cánh cửa có hình mặt trời tỏa rạng ánh sáng hai bên.

clip_image033

Nhà thờ mặt trời trên trống Quảng Xương.

Trong ngôi nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I có hai người ngồi đưa tay ra trước mặt đang thực thi một giáo vụ cung nghinh, tôn vinh mặt trời, ‘cầu trời’.

clip_image034

Hai người trong một ngôi nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I đang cung nghinh, tôn vinh mặt trời, cầu trời.

Hai người này giống hệt như hình người Lạc Việt Tráng Zhuang cung nghinh, tôn vinh mặt trời vẽ trên vách đá Hoa Sơn, Quảng Tây:

clip_image035

Hình người đang cung nhinh, tôn vinh mặt trời đưa tay ra phía trước mặt trên vách đá Hoa Sơn của Lạc Việt Tráng Zhuang.

Và cũng giống người Ai Cập cổ cung nghinh mặt trời đưa hai tay ra trước mặt:

clip_image037

Kệ tang Khonsu cho thấy sự thờ phượng Thần Mặt Trời Bò cái Mehet-Weret, Egyptian Museum, Cairo (Madanjeet Singh fig. 461).

Tuy nhiên, cảnh thờ phượng mặt trời làm tôi nổi gai ốc khi nhìn thấy là cảnh tế mặt trời do những người hóa trang chim bay quanh trục mặt trời trên một trống Điền Việt. clip_image039

Cảnh người chim mặt trời bay quanh trục mặt trời trên một trống Điền Việt và cảnh người Maya ngày nay ở Mexico và Guatemala bay quanh trụ thờ Palo Volador (Pole Flying).

 Những người này có trang phục đầu hình bờm chim mặt trời, khố hình đuôi chim bay trong gió. Mặt trời có những tia sáng tỏa rạng ngời mang tính thái dương. Mặt trời chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn nằm trong vòng tròn không gian là vũ trụ theo nòng nọc, âm dương đề huề ứng với Viêm Đế-Thần Nông vũ trụ còn theo duy dương là mặt trời lưỡng tính phái ứng với Viêm Đế lưỡng tính phái của ngành nọc Việt dương thái dương tương tự như thần mặt trời Ra lưỡng tính phái của Ai Cập cổ.

Đứng dưới đất là một thầy tế đang dâng tế vật. Bốn người chim bay quanh trục mặt trời này là bốn đại tộc Việt chính ứng với bốn vị thần tổ phụ mặt trời của chúng ta (sẽ nói rõ ở dưới).

Tế vụ này làm liên tưởng tới vành chim bay quanh mặt trời ở tâm trống trên mặt trống đồng (mặt trời ở tâm trống cũng là mặt trời trên đỉnh trục thế giới trụ trống, người chim bay giống chim bay, cả hai đều bay theo chiều dương ngược chiều kim đồng hồ).

Cảnh tế này giống hệt cảnh người Maya ở Guatemala và Mexico ngày nay còn thực hiện gọi là Palo Volador (Pole Flying).

Cũng xin nhắc lại người Maya ruột thịt với chúng ta. Họ có cùng DNA với chúng ta. Họ nói ngôn ngữ ruột thịt với chúng ta. James Churward trong The Lost Continent of Mu cho rằng người Đông Nam Á cổ nói tiếng Naga-Maya. Bình Nguyên Lộc cho rằng Maya nói tiếng Mã Lai (nghĩa là liên hệ mật thiết với tiếng Việt). Học giả người Guatemala Don Antonio Batres Jaurequi chứng minh Đức Chúa Jesus nói tiếng Maya và tôi cũng đã chứng minh Đức Chúa Jesus nói tiếng Việt (xem Đức Chúa Jesus Nói Tiếng Việt). Trong bài nói chuyện Việt là Gì? Tôi đã tìm thấy người Maya có chiếc rìu Việt có hình mặt trời giống như chữ Việt trên giáp cốt đời nhà Thương.

clip_image041

Maya có rắn lông chim kukulcan (tiếng Việt là kúc ku-chăn, chim cúc cu-trăn) giống rắn-bờm chim cắt trên thuyền Quảng Xương như đã nói ở trên.

……

Ai cũng biết Maya thờ mặt trời. Hiển nhiên chúng ta cũng thờ mặt trời. Cảnh bay quanh trụ mặt trời trên trống đồng Điền Việt này còn thấy hình mặt trời trên trụ và người hóa trang chim trong khi ở Palo Valador hình ảnh mặt trời đã phai nhòa cho thấy sự thờ tế mặt trời này có thể có nguồn gốc từ người cổ Việt của chúng ta.

SỬ TRUYỂN THUYẾT VIỆT TRONG SỬ ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Các Thần Tổ Nọc Việt Mặt Trời Ngành Chim Việt Mặt Trời Thái Dương Viêm Đế.

Ở tầng

.Trứng Vũ Trụ, thái cực, ta có Viêm Đế Nhất Thể lưỡng tính phái như mặt trời Ra Ai Cập cổ, Brahma Ấn giáo.

.Lưỡng nghi: Viêm Đế nhất thể sinh ra:

Viêm Đế Nọc Việt dương thái dương và Viêm Đế Nọc Việt âm thái dương.

.Tứ Tượng: Nọc Việt dương thái dương và Nọc Việt âm thái dương sinh ra bốn Thần Tổ Phụ Việt Nam:

-Nọc Việt dương thái dương gồm Đế Minh và Kì Dương Vương.

-Nọc Việt âm thái dương gồm Lạc Long Quân và Tổ Hùng Vương.

Bây giờ ta xét từng khuôn mặt các vị thần tổ mặt trời này. Chỉ xin vắn tắt ở đây, quí vị có thể đọc thêm trong các tác phẩm đã in ra của tôi.

A. Thần Mặt Trời Viêm Đế.

Viêm Đế có họ Khương (sừng) có tất cả các vật biểu đều có nghĩa là Sừng, là Việt. Sừng là vật nhọn, một thứ rìu, một thứ Việt nguyên sơ của cổ Việt. Ví dụ ở cõi tạo hóa Viêm Đế có chim biểu là con chim rìu, chim cắt có mỏ rìu, mỏ Việt, có mũ sừng (hornbill) là con chim sừng, chim rìu, chim Việt. Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế có chim biểu là chim di sừng, chim di Việt. Ở cõi đất sinh ra Kì Dương Vương có thú biểu bốn chân sống trên mặt đất là con thú có sừng như cọc nhọn là con hươu sừng, con cọc (Bầu Cua Cá Cọc), con Hươu Việt. Ở vùng đất âm có nước đầm hồ là con cá có vi sừng, cá có sừng, có sẩu (xin khúc đầu những xương cùng sẩu) là con cá sừng, cá sấu, cá sấu Việt …

Tóm lại tất cảt vật biểu, chim thú biểu của ngành Nọc Việt Viêm Đế đều có nghĩa là vật nhọn như nọc, cọc, rìu, búa, dao, sừng… đều có nghĩa là Việt: chim Việt, hươu Việt, cá sấu Việt…

Lưu Ý

Các thần tổ mặt trời Việt ở cõi tạo hóa, cõi trời sinh tạo nên có khuôn mặt vật tổ chính là loài chim, vì thế ở đây chỉ chính yếu nói tới chim biểu còn các thú biểu bốn chân sống trên mặt đất là vật tổ chính của Hùng Vương thế gian, lịch sử sẽ nói ở phần các Hùng Vương lịch sử thế gian, con cháu của các thần tổ tạo hóa ở dưới.

Ở các trống vũ trụ có số tia sáng hay vòng sáng bằng 7 hay dưới 7, các chim thường có khuôn mặt biểu tượng cho cõi tạo hóa (Xin nhắc lại Dịch có 64 quẻ, chia ra làm 8 chuỗi hay 8 tầng, mỗi chuỗi hay tầng có 8 quẻ. Chuỗi hay tầng đầu tiên từ 0 đến 7 diễn tả tạo hóa, cõi trên hay thượng thế nên các trống có mặt trời có tia sáng hay vòng sáng bằng 7 hay dưới 7 là trống vũ trụ, còn các trống có mặt trời có tia sáng hay vòng sáng bằng 8 hay hơn 8 trở lên là trống thế gian hay hạ thế). Ở trống thế gian, vành chim thường có khuôn mặt chính biểu tượng cõi trời thế gian.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn không có mặt trời nòng đĩa tròn 0 ánh sáng (mặt trời này thường diễn tả mặt trời âm, nữ thái dương như thấy ở lá cờ Nhật, con cháu của thái dương thần nữ Amaterasu. Mặt trời âm thái dương đĩa tròn 0 ánh sáng này thường thấy trên cồng, khuôn mặt âm của trống hay gương đồng) nên trên trống đống mặt trời có 8 nọc tia sáng đôi khi mang cả khuôn mặt đại diện cho mặt trời 0 ánh sáng).

Chim biểu cắt Việt của Viêm Đế thấy khắp nơi trong của Bách Việt và ở các nền văn hóa chịu ảnh hưởng của văn hóa Bách Việt. Ví dụ:

clip_image043

Papua New Guinea trong một am thờ có tượng chim cắt trên người có hình mặt trời. Một tộc Bách Việt ở Nam Trung Quốc có trang phục đầu là đầu chim cắt

thứ thiệt và ở Nam đảo vật tổ chim cắt thấy rất nhiều, nhất là ở tộc Lạc Việt hải đảo Dayak (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Chứng sử chim cắt Việt Viêm Đế trong sử đồng Đông Sơn còn rất nhiều như đã thấy ở các thuyền, trục thế giới Điền Việt ở trên. Bằng chứng cụ thể hùng hồn nữa là người Điền Việt có rìu Việt thờ hình đầu chim cắt.

clip_image045

Rìu Việt chim cắt Việt Điền Việt.

-Nhánh Nọc Việt Dương Thái Dương: Đế Minh và Kì Dương Vương.

Thần mặt trời Viêm Đế có Viêm là nóng (viêm nhiệt) liên hệ với, lửa vũ trụ, mặt trời và Đế (trụ chống như đế hoa) liên hệ với núi trụ thế gian, đất dương. Vì thế Viêm Đế sinh ra nhánh nọc Việt dương thái dương là Đế Minh, Đế Ánh Sáng lửa mặt trời thuộc Viêm và Kì Dương Vương, Đất dương, lửa đất thuộc Đế.

.Tổ Phụ Mặt Trời Ánh Sáng Đế Minh.

Đế Minh Ánh Sáng Mặt Trời là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế. Có tước hiệu là Đế nên có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, mặt trời sinh tạo thế gian và có một khuôn mặt thế gian thứ hai ứng với tượng lửa (khuôn mặt này sẽ nói trong phần lịch sử).

.Ở cõi trời sinh tạo đội lốt Viêm Đế trong trò chơi Bầu Cua Cá Cọc, Đế Minh được diễn tả bằng quả bầu mầu đỏ.

clip_image047

Bộ Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc do tôi thiết kế.

Bầu là bầu trời sinh tạo (diễn tả bằng đĩa thái cực ở hình trên) và đỏ là lửa. Bầu đỏ sinh tạo là lửa bầu vũ trụ, bầu trời lửa ứng với Càn.

Về chim biểu, Đế Minh phải có loài chim có nghĩa là lửa thái dương, là vật nhọn, Việt.

Đại diện Viêm Đế ở cõi thế gian nên Đế Minh cũng có chim biểu là chim cắt Việt nhưng mỏ mầu đỏ cam và là loài nhỏ hơn có mũ sừng dẹp.

clip_image049

Chim cắt loài nhỏ có mũ sừng dẹt.

 Trên trống đồng thường biểu tượng bằng con chim cắt bay, như đã thấy ở trụ thờ trống Điền Việt ở trên, cần phân biệt với chim biểu của Viêm Đế bằng các chi tiết đặc thù.

Ở cõi trời thế gian ứng với tượng lửa có chim biểu là chim trĩ lửa, trĩ Việt và chim Di sừng, Di Việt.

Chim trĩ thuộc họ nhà gà, còn có tên Hán Việt là dã kê, gà hoang dã (Thiều Chửu, Hán Việt Từ Điển). Gà trống là loài chim mang dương tính biểu tượng cho nọc, que, Việt  (qua từ đôi gà qué ta có gà = qué = que, nọc, một thứ Việt),cho  bộ phận sinh dục nam (Pháp ngữ coq, Anh ngữ cock có nghĩa là gà trống và bộ phận sinh dục nam. Con coq, con cock là con cọc, con cược), cho mặt trời (gà trống đội lốt chim cắt Viêm Đế biểu tượng cho mặt trời thế gian vì con gà và con trĩ sống nhiều trên mặt đất như thấy rõ trong bàn Bầu Cua Cá Cọc có con gà biểu tượng cho cực dương, lửa, mặt trời Viêm Đế trong khi con tôm biểu tượng cho cực âm, nước Thần Nông). Con gà trống là chim biểu của Pháp vì France có gốc nghĩa là lance, cây lao (Pháp dịch là Phật Lăng có Lăng = lance). Lao là một thứ vật nhọn, một thứ rìu, một thứ việt biểu tượng cho mặt trời. France là nước mặt trời nên có biểu tượng là con gà trống, chim mặt trời.

Tóm lại trĩ, gà có một khuôn mặt biểu tượng cho Đế Minh Ánh Sáng Mặt Trời ở cõi trời thế gian đội lốt chim cắt mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa.

Trĩ này là trĩ lửa thái dương, Trĩ Việt, gà là gà gtrống lửa thái dương, Gà Việt.

Trên nóc nhà nọc dương mặt trời của nhánh Nọc Việt dương thái dương Đế Minh-Kì Dương Vương trên trống Ngọc Lũ I có các hình chim trĩ biểu tượng cho cõi trời lửa sinh tạo thế gian ứng với Đế Minh.

clip_image051

Chim trĩ trên nóc một căn nhà nọc mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Con trĩ cho biết trống Ngọc Lũ I có một khuôn mặt Nọc Việt dương thái dương.

Trên trống Hoàng Hạ của nhánh Nọc Việt âm thái dương có hình hai con gà (số 2 là số chẵn, số âm), con gà trống cũng quay mặt về phía trái, âm. Gà này biểu tượng cho nọc âm thái dương.

clip_image053

Gà trên nóc ngôi nhà nòng ở trống Hoàng Hạ.

 Gà manh tính âm này cho biết trống Hoàng Hạ có một khuôn mặt Nọc Việt âm thái dương.

Còn chim Di như thấy trong bài đồng dao chim tổ Việt Mỏ Nông, Mỏ Cắt:

Bồ nông là ông bổ cắt,

Bổ cắt là bác chim di.

Đây là con chim Di sừng mầu đỏ. Trong 18 con chim đứng trên trống Ngọc Lũ I có hình bóng một con chim Di nọc lửa, Di sừng, Di Việt.

clip_image055

 Chim mang hình bóng chim Di trong 18 con chim đứng trên trống Ngọc Lũ I.

Chim có mỏ nhọn nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa ở dạng sinh động, trên người có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que có một nghĩa là lửa ở dạng biểu tượng. Hàng dấu chấm nọc cũng có nghĩa nọc, lửa ở dạng nguyên tạo bổ nghĩa thêm cho chữ nọc que. Con chim này là chim lửa trời tức chim Di sừng, Di Việt.

.Tổ Phụ Mặt Trời Đất Kì Dương Vương.

biến âm với (cột, cây kè là cây có thân hình cột, trụ, nọc, không có cành nhánh), kẻ (cây thẳng dùng để gạch, thước kẻ), kèo (cọc nhỏ) và với que. Như thế Kì Dương Vương có nhiều nghĩa:

.Kì Dương Vương: với nghĩa Kì là trụ nọc và Dương là mặt trời thì Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời trên trục thế giới, mặt trời thiên đỉnh (zenith), chính ngọ, là vua tổ mặt trời đất thế gian Việt Xích Quỉ.

Chim biểu của Kì Dương Vương phải có nghĩa là Sừng, là Việt. Ta thấy Kì là cây, cọc, liên hệ với sừng và kè (cột, trụ) liên hệ với gốc Hy lạp ker-, sừng (keratoderma, lớp sừng da), Pháp ngữ cerf, con sừng, hươu. Chim biểu của Kì Dương Vương phải là con chim có nghĩa cọc, sừng, Việt.

Ở dòng Viêm Đế, chim biểu của Kì Dương Vương là con chim cắt, chim rìu Việt mũ sừng Đất (ground hornbill).

clip_image057

Chim cắt đất.

 Trên trống đồng những con chim cắt đứng trên mặt đất có thể có khuôn mặt là chim cắt đất.

clip_image059

Chim cắt có mũ sừng trong có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình hai nọc que có một nghĩa là lửa đất (hai nọc que làm ra lửa) và trong mỏ có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình nọc que có một nghĩa là lửa.

Trong 18 con chim đứng trên mặt đất trên trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I có một con chim có mỏ lớn, rất cường điệu mang hình bóng chim rìu, chim cắt.

mo cat

Trong 18 con chim đứng trên đất trên trống Ngọc Lũ I có một con chim mỏ rìu mặt trời mang hình bóng chim cắt đất, biểu tượng cho Đất lửa Kì Dương Vương.

 Vì đứng trên đất đây là chim cắt đất hay chim cắt biểu tượng cho Đất lửa, dương ứng với Kì Dương Vương. Trên người chim có chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm-vòng tròn có một nghĩa là lửa, mặt trời xác thực chim rìu là chim lửa vũ trụ, chim mặt trời cõi Đất dương.

Ở cõi trời đất thế gian có chim biểu là con sáo sậu như thấy trong bài đồng dao nói trên:

Chim Di là dì Sáo Sậu.

Sậu là cứng (ngô sậu là ngô, bắp cứng). Cứng như sừng (theo c=s như cắt = sắt, ta có cứng = sừng). Anh ngữ ceramic, sành có gốc cer-, ker-, sừng, đồ đất nung cứng như sừng. Qua từ đôi sành sỏi, ta có sành = sỏi. Sỏi có một nghĩa là đá cuội, Sành cứng như hòn sỏi, hòn cuội, hòn đá. Sành đi với đá có nghĩa là cứng, sậu thấy qua câu ví ‘L… sành, da đá, đít mảnh cong’ chỉ ngươời nữ đanh đá. Sáo sậu là sáo cứng, sáo sừng. Cứng cũng ruột thịt với đá (cứng như đá) vì thế sáo sậu còn gọi là sáo đá. Sáo sậu, sáo sừng, sáo đá là chim biểu của mặt trời đất đá thế gian Kì Dương Vương. Như thế sáo sậu, sáo sừng là sáo Việt.

Trong 18 con chim đứng trên trống Ngọc Lũ I có một con mang hình bóng sáo sậu.

clip_image060

Một con chim trong 18 con chim đứng trên trống Ngọc Lũ I.

Chim có mỏ hình núi tháp, chân cũng hình núi tháp hay hình trụ nọc cắm trên gò đất, hình ảnh miếu Thổ thần cây đa trồng trên gò đất thấy ở miền  Bắc Việt Nam

biểu tượng cõi đất thế gian. Chim mang hình bóng sáo sậu, sáo sừng, sáo đá, sáo Việt.

.Kì Dương Vương lấy theo nghĩa Kì là Cọc tức con thú có sừng như cọc nhọn là con Cọc, con Hươu Sừng (Bầu Cua Cá Cọc) và Dương lấy theo nghĩa Dương là đực, cọc, nọc thì là Vua Hươu Cọc, Hươu Sừng, Hươu Đực ( với nghĩa này Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục, Hươu Đực, Hươu Sừng). Kì Dương Vương với Dương lấy theo nghĩa Dương là mặt trời thì Kì Dương Vương là Vua Hươu Mặt Trời.

Khuôn mặt Hươu này sẽ nói ở đại tộc Hùng Kì ở cõi thế gian, lịch sử ở dưới.

-Nhánh Nọc Việt Âm Thái Dương: Lạc Long Quân và Tổ Hùng.

Tổ Phụ Mặt Trời Nước Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân ngoài khuôn mặt thần mặt trời thái dương nhánh Nọc Việt âm thái dương còn có một khuôn mặt đại diện cho ngành nòng âm Thần Nông thái âm nên có nhiều khuôn mặt.

Lạc là dạng dương của Nác, Nước (trong Tiếng Việt Huyền Diệu ta đã thấy L là dạng dương của N, thấy nhiều nhất ở dạng Hán Việt chuyển từ Việt ngữ, ví dụ Việt ngữ cọc, nọc là con hươu sừng chuyển qua Hán Việt là lộc, Việt ngữ nang là cau chuyển qua Hán Việt là lang (binh lang), Việt ngữ nỏ, nỗ chuyển qua Hán Việt là lỗ (Cao Lỗ là ông tổ làm ra nỏ họ Cao)… Lạc là Nác, Nước dương, nước lửa, mặt trời Nước ngành nọc thái dương.

Trong ba vị thần tổ phụ thế gian, Lạc Long Quân có tước hiệu là Quân, có nghĩa là mầu tím đen như trái mồng quân vì Lạc Long Quân là mặt trời tím hoàng hôn, mặt trời lặn, mặt trời nước (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Theo qui luật tổng quát như đã nói ở trên, chim biểu của Lạc Long Quân ở ngành Nọc Việt âm thái dương phải có nghĩa là nọc, sừng, Việt và Nác, Nước.

. Ngành nọc Việt thái dương ngành Viêm Đế.

Chim biểu dòng Viêm Đế sinh tạo của Lạc Long Quân là con chim cắt nước hay cắt có mầu đen, mầu nước thái âm, chim Việt nước.

clip_image062

Chim cắt đen.

vùng nước tang trống Làng Vạc II có hình chim mỏ lớn, nhọn như rìu trong mỏ có chữ nọc que có một nghĩa là lửa, mang hình ảnh một thứ chim lửa, chim rìu nước Việt.

clip_image064

Tang trống Làng Vạc II.

 Sự hiện diện của hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ở viền trên tang trống có nghĩa là nọc, dương, lửa, thái dương sinh động cũng xác thực chim mang tính lửa thái dương ngành Viêm Đế.

.Ở ngành Thần Nông là con chim nông nước bay (vì ở cõi trời sinh tạo).

clip_image066

Chim có túi nang dưới mỏ là chim nông bay trên trống Ngọc Lũ I.

.Ở cõi trời đất thế gian là con Sáo đen.

Sáo sậu là cậu sáo đen.

 Như đã nói ở trên,mầu đen là mầu thái âm, mầu nước thái âm, Sáo đen là sáo nước.

Trên trống Làng Vạc II ở bờ sông nước có một con chim mang hình bóng con sáo đen. Chúng ta thấy dân gian Việt liên hệ con sáo với sông nước: ai đem con sáo sang sông

clip_image068

clip_image070

(nguồn: uniprot.org)

Một con chim trên trống Làng Vạc II mang hình ảnh con sáo đen.

Con cốc cũng được dùng làm chim biểu cho một tộc dòng Lạc Long Quân vì chim cốc là loài chim nước, chân có màng, có mầu đen là mầu nước thái âm. Cốc biến âm với cọc cũng có nghĩa liên hệ với Việt, có loài có mỏ như phi tiêu (dart), cọc nhọn để đâm cá nên Anh ngữ có tên là darter. Anh ngữ cormorant có cor- = cốc = cọc.

clip_image071

Đồ đồng Điền Việt: chim cốc và rắn nước biểu tượng cho nhánh nọc nước Lạc Long Quân.

.Tổ Phụ Lạc Long Quân: Khuôn mặt sinh tạo Cóc/Ếch Sấm Mưa.

Cóc/ếch liên hệ với sấm. Cóc nghiến răng chuyển động bốn phương trời. ‘Con cóc là cậu ông trời, Ai mà đánh nó thì trời đánh cho’.

Bị trời đánh là bị sét đánh. Thằng trời đánh. Cậu là em mẹ. Con cóc là em Long Nữ mẹ Lạc Long Quân, có cốt Khảm, Nước. Long nữ là vợ của Li Kì Dương Vương, lửa đất thế gian. Di thể (gene) Lửa Nước (Li Khảm) này của cha mẹ Kì Dương Vương Long Nữ truyền xuống Lạc Long Quân nên Lạc Long Quân có một khuôn mặt lửa chớp-nước mưa tức sấm mưa. Ai mà đánh cậu cóc thì bị thần sấm mưa Lạc Long Quân đánh cho (Con Cóc Là Cậu Ông Trời).

Lạc Long Quân có một khuôn mặt Chấn sấm, mưa. Sấm là một biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa ví dụ như big bang là một thứ sấm khai thiên lập địa.

Cóc/ếch biểu tượng cho Lạc Long Quân cũng phải là cóc có mõm nhọn hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính tức cóc Việt.

clip_image073

Cóc Việt mõm nhọn nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) >.

Có rất nhiều trống có tượng cóc/ếch biểu tượng cho sấm mưa (xem Nhóm Trống Cóc/Ếch).

Gần như hầu hết các trống cóc/ếch là trống sấm mưa của Lạc Long Quân (ngoại trừ cóc/ếch chồng lên nhau mang tính sinh tạo). Rõ nhất là trên các trống cóc/ếch có thêm búa thiên lôi mà các nhà khảo cổ Việt Nam và thế giới hiện nay gọi lầm là ‘vật hình trâm’. Đây không phải là vật hình trâm mà là búa thiên lôi. Ví dụ trên trống Phương Chính I có bốn tượng cóc/ếch đi cùng với các vật gọi lầm là ‘hình trâm’.

clip_image075

Trống Phương Chính I.

Có những hình gọi là ‘vật hình trâm’ chữ thập:

clip_image077

Thật ra đây là búa thiên lôi kép hình chữ thập.

Trên trống Quế Tân, trống Hích có dạng búa thiên lôi đơn.

clip_image078

Trống Quế Tân.

clip_image079

Trống Hích.

Đây là những búa thiên lôi đơn:

clip_image080

Búa thiên lôi đơn.

 mà trong Phật giáo gọi là chùy kim cương:

clip_image082

 Chùy kim cương tại Đền Khỉ, Swoyambhunath, Kathmandu, Nepal.

 Phù Đổng Thiên Vương Hóa Thân của Thần Sấm Mưa Lạc Long Quân. 

Tên ông Dóng chỉ giản dị là ông Dóng Trống tức ông đánh trống tạo ra tiếng gầm như sấm. Trống là biểu tượng của thần sấm. Thần sấm thường cầm trống trong tay. Đánh trống qua cửa nhà sấm. Ông Dóng trống là ông Sấm liên hệ mật thiết với trống nên mới có câu ca dao ‘Ông Đổng mà đúc trống đồng’.

Tước hiệu Phù Đổng Thiên Vương có Phùnổi liên hệ với nổi dông, nổi gió. Cửa Thần Phù là cửa biển có dông gió nổi rất nguy hiểm làm đắm thuyền tàu. Phù cũng có nghĩa là thổi ra hơi như thổi phù phù liên hệ với khí gió.

Đổng biến âm của Động là tiếng động liên hệ với sấm. Sấm động. Qua từ đôi Chấn động có Chấn vi lôi (Chấn là sấm) = động.

Như thế rõ như hai năm là mười ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương là ông thần Sấm Dông nhà trời. Ta thấy rất rõ ông Dóng là thần Sấm Dông qua truyền thuyết vùng Trung châu, Bắc Việt, ông Dóng là con ông Đổng cha. Ông Đổng cha này mang hình bóng ông Thần Sấm Dông Bão: “Ông Đổng cao lớn lạ thường. Đầu đội trời, chân đạp đất, vai chạm mây. Ông bước dài từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Dấu chân ông lún cả đá, thủng cả đất. Tiếng nói ông vang ầm thành sấm. Mắt ông sáng loé chớp lửa. Hơi thở ông phun ra mây đen, gió bão và mưa dông… Ông đi đàng tây sang đàng đông là bão tây. Ông đi đàng đông sang đàng tây là bão đông…” (Cao Huy Đỉnh, Hùng Vương Dựng Nước). Hiển nhiên ông Dóng  con có di thể sấm dông của ông Đổng cha sấm dông.

Vì là hóa thân của thần sấm mưa Lạc Long Quân nên Phù Đổng Thiên Vương giúp vua Hùng đánh đuổi giặc Ân. Phù Đổng có mạng gió dông nên liên hệ ruột thịt với Hùng Vương có mạng Gió.

Cây gậy sắt của Phù Đổng chính là cây búa thiên lôi. Con ngựa sắt biết bay chính là nhờ bản thể dông gió của ông.

Tổ Hùng

Tổ Hùng có nhiều khuôn mặt:

.Khuôn mặt nòng nọc, âm dương Nhất Thể, Bọc Trứng Sinh Tạo thế gian.

Đây là khuôn mặt sinh tạo ở cõi Tiểu Vũ Trụ đội lốt Thần Nông-Viêm Đế ở cõi tạo hóa.

Bọc trứng Tổ Hùng đội lốt bọc trứng vũ trụ.

Hùng biến âm với cổ ngữ Naacal Đông Á Hun có nghĩa là Một, Đấng Tạo Hóa. James Churchward trong The Sacred Symbols of Mu giải thích như sau:

clip_image084

clip_image086

1. Vòng tròn nòng O là Hun: Đấng Tạo Hóa là một.

clip_image087

2. Vòng tròn có nọc thẳng đứng là Lahun, Hai.

clip_image088

3. Vòng tròn có hai nọc đứng là Mehen, Người do 1 và 2 tạo ra.

clip_image089

Việt ngữ Man, Mán, Mường, Anh ngữ Man, Người ruột thịt với Mehen, Người.

Ta thấy rất rõ Hùng biến âm với Hun, Một, Đấng Tạo Hóa Nhất Thể lưỡng tính phái ứng với trứng vũ trụ, trứng thế gian.

Vòng tròn Hun Đấng Tạo Hoá sinh ra theo duy dương mặt trời đĩa tròn sinh tạo và theo duy âm nòng không gian giống Tổ Hùng sinh ra hai nhánh chim rắn, Tiên Rồng.

clip_image091

Bọc Trứng Trăm Lang Hùng.

.Khuôn mặt duy dương theo ngành nọc Việt dương thái dương mặt trời Viêm Đế tức 100 Lang Hùng Vương sinh ra từ tròng đỏ trứng thế gian. Ngành này gồm hai nhánh: nọc Việt dương thái dương (Hùng Man, Hùng Kì) và nọc Việt âm thái dương (Hùng Lạc, Hùng Lang).

.Khuôn mặt duy âm đại diện cho ngành nòng Bộc thái âm phía Thần Nông thái âm.

Về chim biểu (vì còn ở cõi trời sinh tạo nên chim biểu mang tính chủ), theo đúng qui luật về vật tổ Việt thì chim biểu của Tổ Hùng phải có nghĩa chính là chim Việt. Chim biểu của Tổ Hùng cũng phải có tên là Lang. Trước tiên Lang là dạng dương hóa của Nang (trứng), khuôn mặt trứng sinh tạo của Tổ Hùng, thứ đến Lang có nghĩa là Lang, con trai, mặt trời, Việt, tiếp nữa Lang có nghĩa là Chàng (con trai ) và chàng (chisel) là đục, vật nhọn, một thứ rìu Việt, cuối cùng Lang có nghĩa là Trắng (lang da là chứng da bị loang trắng, vitiligo), mầu của khí gió, bản thể bầu trời khí gió của Tổ Hùng. Chim biểu của Tổ Hùng như thế ít nhất cũng có ba khuôn mặt:

.Chim biểu của khuôn mặt sinh tạo nòng nọc, âm dương nhất thể của Tổ Hùng là con Cò Lang, Cò Việt.

Cò biến âm với Cồ là đực, nọc, Việt. Con cò sống trên cạn và lội nước được mang lưỡng tính nòng nọc, âm dương. Cò Lang với nghĩa là Nang (trứng) đẻ ra trứng sinh tạo thế gian giốngnhư con cò Thoth của Ai Cập cổ đẻ ra trứng thế gian. Cò Lang với Lang có nghĩa là chàng, đục, Việt, mặt trời. Cò Lang với Lang có nghĩa là Trắng, mầu khí gió, không gian dương là Cò Trắng, Cò Gió ăn khớp với Châu Phong và Bạch Hạc, đất tổ của Hùng Vương lịch sử.

Trên trống Miếu Môn I còn ghi khắc lại hình bóng Cò Lang Tổ Hùng.

clip_image093

Cò Lang Tổ Hùng Trên trống Miếu Môn I.

 Cò này có túi nang dưới mỏ mà các học giả ngày nay hiểu lầm là cái mồi, cho là cò tha mồi hay ‘cò đói’ (A, B. Bernet Kempers, The Kettle Drums of Southeast Asia). Túi nang hình tam giác là dạng dương, dạng chuyển động của nang hình tròn. Bao, túi dương chuyển động cũng mang một ý nghĩa khí gió dương có thể tạo ra tiếng kêu, tiếng huýt sáo, tiếng hú. Ta cũng thấy trong túi nang có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn có một nghĩa theo duy dương là mặt trời, dương, đực. Túi nang dương, mặt trời là khuôn mặt của Lang Hùng mặt trời sinh ra từ nang trứng thế gian. Cò Nang (trứng) đẻ ra con trai Lang là Cò Lang (đúng theo qui luật ngôn ngữ Việt L là dạng nam của N). Ngoài ra như vừa nói, túi nang dương cũng diễn tả bầu không gian dương tức khí gió, bổn mạng của Tổ Hùng. Hơn nữa bọc không khí dương chuyển động phát ra tiếng rít, tú hú như gió, đây là túi gió, cũng là bổn mạng Tổ Hùng có cùng mạng gió dương với Phục Hy (Bọc Hí), có hiệu là Bào Hi (Bọc Hí) Gió (Phục Hy Ngài Là Ai?).

Đi với cò ‘nang’ này, có con thú có Nang (bao, túi) dưới cổ (không phải tha mồi) để phát ra tiếng hú giống như bao, túi dưới cổ Cò ‘Nang’ này là con Sói ‘Nang’ (theo phát âm N cổ Việt).

clip_image095

Những con sói ‘nang’ trên trống Miếu Môn I.

Ngày nay ta gọi là Sói Lang (phát âm theo L hiện nay, Việt ngữ nang chuyển qua Hán Việt là lang giống như nang là cau chuyển qua Hán Việt là lang, binh lang là cau). Ta thường nghe câu nói ‘lang bạt kỳ hồ’ ngày nay hiểu là phiêu bạt, đi đây đi đó. Thật ra nghĩa gốc là ‘con lang đạp cái bọc da trước cổ nó lúng túng không đi được’ (Đào Duy Anh, Hán Việt Từ Điển). Hán Việt hồ là bao bọc như hồ bao (túi đựng tiền) cùng nghĩa với nang. Điểm này xác thực hình dưới cổ con sói lang và con cò không phải là mồi mà là cái bao, là con sói nang, cò nang mang nghĩa bầu, túi gió và nang túi dương, chuyển động cũng phát ra âm thanh, tiếng hú cũng mang ý nghĩa biểu tương cho gió không phải là mồi. Con sói có nang dưới cổ nên tru hú được là con sói lang, con cò có nang dưới cổ cho biết là cò gió lang.

Sói Lang  là thú biểu bốn chân sống trên mặt đất của  Hùng Lang lịch sử (sẽ nói rõ thêm ở dưới).

Cò Lang đích thực là chim biểu của Tổ Hùng sinh tạo.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn hầu hết có hình cò bay.

clip_image097

Cò lang trên trống Ngọc Lũ I.

Cò có mỏ nọc nhọn cường điệu mang tính cồ, Việt, có bờm hình phướn bay trong gió, có cánh hình thảm thần bay như trong truyện Nghìn Lẻ Một Đêm, thân và đuôi hình con diều gió.

Các nhà làm văn hóa Việt Nam gọi sai theo Đào Duy Anh (dựa theo Goloubev) là con chim lạc, một loài ngỗng. Con chim ở đây chân không có màng. Con ngỗng là loài chim nước chân phải có màng (Cò Lang hay Chim Lạc?).

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương, của Bách Việt hay của các tộc bị ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam. Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn vì thế có rất nhiều loại cò mang ý nghĩa biểu tượng cho từng giai đoạn của Vũ Trụ Tạo Sinh, mang ý nghĩa biểu tượng cho chủng, ngành, nhánh, đại tộc, tộc, chi tộc của liên bang Văn Lang Hùng Vương (sẽ nói rõ ở dưới).

. Chim biểu của khuôn mặt nọc Việt dòng Viêm Đế là con chim Cắt Lang. Chim Lang là chim Cắt thấy rõ trong ngôn ngữ Ê-Đê. Dân ca Ê-Đê có câu hát:

Anh đến từ nơi xa,

Anh mang theo chim mơ-linh từ nhà,

Chim mơ-lang từ buôn.

Anh nghĩ rằng em là con gái chưa tơ vương…’.

Mơ Ling, Mơ Lang là chim Lang.

Mã Lai ngữ langling: the Southern pied hornbill (chim cắt lông sặc sỡ ở miền Nam).

Chim Lang, chim Linh là chim cắt sặc sỡ.

Giáo sư Trần Quốc Vượng cũng nhận thấy: ‘Mê (Ma, Minh, Mi) Linh là Mling. Mling, mlang (cặp tên có tính chất lấp láy) theo tiếng của các dân tộc Tây nguyên có nghĩa là một loài chim… Đó là bộ lạc gốc thời Hùng Vương dựng nước’.

Như thế chim Lang là một thứ chim cắt, chim rìu, chim đực, chim Việt. Từ Điển Mã Lai-Anh ngữ (Malay-English Dictionary) của R.J. Wilkinson có từ lang: a generic name for hauks, kites and eagles (một tên chủng loại chỉ diều hâu và ó, ưng).

Rõ ràng chim lang là loài mãnh cầm, mang dương tính, chim biểu của mặt trời, một thứ chim Việt mặt trời. Như đã biết, Lang còn có nghĩa là trắng. Như vậy chim biểu của Tổ Hùng dòng mặt trời Viêm Đế là con chim Cắt Lang mầu trắng hay khoang trắng.

clip_image099

Chim Cắt Lang trắng.

Hai bà Trưng là dòng dõi Hùng Vương, quê ở châu Phong, nên lấy thủ đô là Mê Linh tức chim Cắt Mê Linh, Mê Lang, chim biểu của Tổ Hùng Vương, Hùng Vương theo ngành Nọc Việt dương thái dương.

.Khuôn mặt Nọc Việt âm thái dương đại diện ngành Nòng Bộc Thần Nông thái âm, Tổ Hùng có chim biểu ở cõi tạo hóa là con bổ nông (có bổ là tính từ có nghĩa là búa, nọc I và nông là nang, nàng nòng O). Bổ nông = IO, thiếu âm, nguyên thể của khí, gió.

Chim nông là chim nang (trứng) đẻ ra trứng vũ trụ và bổ nông đẻ trứng thế gian.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có rất nhiều hình ảnh chim nông (ở đây cõi tạo hóa, sinh tạo, ta phải chọn con nông bay) ví dụ trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image101

Sáu chim nông bay trên trống Ngọc Lũ I.

Ta cũng thấy rất rõ chim nông là chim biểu tạo hóa qua bài đồng dao Chim Nông Chim Cắt được xếp vào vị trị đầu tiên của các vật tổ chim Việt Nam:

Bồ nông là ông bổ cắt.

. Ở cõi thế gian, một loài chim có tiếng cúc cu như hú, huýt sáo biểu tượng cho gió và cũng mang tính sinh tạo là con tu hú (Common cuckoo) cũng là chim biểu của Tổ Hùng và Hùng Vương như thấy trong bài đồng dao Chim Nông Chim Cắt:

Sáo đen là em tu hú.

Ta thấy rõ tú hú cuối vòng sinh tạo lại trở thành đầu vòng sinh tạo ‘tu hú là chú bồ nông’.

Trên trống đồng Việt Khê có một con chim ngửa cổ lên trời hót, hú mang hình bóng con chim tu hú. Trống Việt Khê là trống biểu của tộc Hùng Vương Gió (sẽ nói rõ ở dưới).

clip_image103

Chim mang hình bóng tu hú trên trống Việt Khê.

 Chứng Sử Tổ Hùng Trong Sử Đồng Đông Sơn.

Tổ Hùng đội lốt Viêm Đế-Thần Nông nhất thể mang tính Tạo Hoá có khuôn mặt thế gian là trứng sinh tạo thế gian đội lốt trứng vũ trụ tạo hóa Thần Nông-Viêm Đế nên về hình thể có trống biểu là Trống Trứng Tạo Hóa, Sinh Tạo Nguyễn Xuân Quang I hình vành cầu hay hình noãn.

clip_image105

Trống trứng Tạo Hóa, Sinh Tạo Nguyễn Xuân Quang I hình vành cầu hay hình noãn là trống biểu của tổ Hùng và Hùng Vương lịch sử sinh ra từ trứng thế gian đội lốt Trứng Vũ.

Về ngôn ngữ học, ở đây trốngtrấng, là trứng (vũ trụ).

Như thế ta thấy rất rõ bộ sử miệng của Việt Nam hoàn toàn được khắc ghi lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Bây giờ chúng ta bước qua phần sử sách: lịch sử Việt trong sử đồng Đông Sơn.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: