TRỐNG ĐỒNG ĐỒNG SƠN, BỘ SỬ ĐỒNG BẰNG HÌNH CỦA ĐẠI TỘC VIỆT (phần 1).

TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN, BỘ SỬ ĐỒNG BẰNG HÌNH CỦA ĐẠI TỘC VIỆT.

Nguyễn Xuân Quang

(phần 1).

(Bài nói chuyện ngày 19-4-2015 tại Hội Phát Triển Nghệ Thuật Truyền Thống Việt Nam và Hội Quán Lạc Hồng, Quận Cam, Little Saigon, Nam Cali.,USA).

clip_image002

Kính thưa quí ví,

(bỏ phần đón chào thính giả).

…….

Hôm nay tôi hân hạnh được chia xẻ với quí vị một đề tài do tôi khai phá ra về trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Quí vị và tôi hôm nay cùng đọc Bộ Sử Đồng Bằng Hình của Đại Tộc Việt còn ghi khắc lại trên trống đồng của đại tộc Đông Sơn từ trên dưới 3.000 năm trước đây mà tôi đã có cơ duyên khám phá ra sau hơn ba mươi năm tìm tòi. Hy vọng quí vị có mặt hôm nay, khi ra về sẽ hân hoan thấy mình là những người đầu tiên được đọc Bộ Sử Đồng Đông Sơn Bằng Hình của Đại Tộc Việt này cùng với diễn giả.

Trước hết xin nói qua vài nét căn bản của trống đồng có liên quan tới cổ sử Việt, sau đó sẽ đối chiếu sử Việt với sử đồng Đông Sơn Việt.

NHẮC QUA VỀ TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

Hôm nay tôi chỉ xin nhắc lại qua loa vài nét chính về trống đồng của đại tộc Đông Sơn liên hệ tới sử Việt mà thôi.

a. Trống đồng là Trống Thiêng Liêng, Trống Thờ không phải làm ra với chủ đích dùng trong âm nhạc.

Câu hỏi đầu tiên của hầu hết chúng ta là trống đồng có phải là làm ra để dùng trong âm nhạc hay không?

-Xin thưa ngay là không.

Trống đồng là trống Thiêng Liêng, Trống Thờ, KHÔNG PHẢI CÓ CHỦ ĐÍCH làm ra để dùng làm bộ gõ trong âm nhạc.

Bằng chứng:

1. Thứ nhất là chúng ta thờ trống đồng như một ảnh tượng Thiêng Liêng nhất của quốc gia, ở những nơi tôn nghiêm nhất như ở Núi Đồng Cổ (Trống Đồng) Thanh Hóa thờ trống đồng, ở Đền Quốc Tổ Hùng ở Vĩnh Phú; Đền Trống Đồng ở Hoa Lư, Thăng Long thờ Thần Trống, thần bảo hộ cho nhà Đinh, Lê, Lý, Trần và nước Đại Việt ; ở các đền, đình, chùa như chùa Cổ Lễ, chùa Keo… Trống đồng được dùng trong các nghi thức tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội quốc gia của Việt Nam.

Như thế trống đồng phải là một thứ thiêng liêng làm ra để thờ phượng, chỉ đánh lên trong các giáo vụ của một bộ tộc, một quốc gia của Bách Việt mà thôi.

2. Thứ hai: trống dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết.

Trống đồng dùng như một thứ chỉ đạo, dẫn đường, một thứ thông hành (hộ chiếu), một thứ bùa giúp người chết về được cõi trên để tái sinh hay sống hằng cửu. Có những trống tí hon chỉ cao bằng ngón tay gọi là trống minh khí chôn theo người chết, hiển nhiên không thể dùng làm bộ gõ trong âm nhạc.

clip_image004

Trống minh khí tí hon.

3. Trống đồng dùng trong mai táng chôn tro than người chết hay dùng như một chiếc tiểu đồng (bronze funeral urn) để cải táng. Người ta đào tìm được những trống trong có chứa sọ người hay các bộ phận xương cốt khác.

Trống chôn theo người chết cũng dùng như một thứ tài vật cho người chết cũng như cho biết địa vị, đẳng cấp xã hội của người chết.

4.Thứ tư: thành phần cấu tạo có nhiều chì nên tiếng trống rất đục không thích hợp để dùng làm bộ gõ trong âm nhạc.

5. Thứ năm có những trống lớn và minh khí làm bằng đất sét mô phỏng theo trống đồng.

clip_image002[3]

  Trống lớn và minh khí bằng đất sét.

Hiển nhiên trống bằng đất sét không thể dùng làm dụng cụ âm nhạc.

5. Tục giết trống đồng.

Trước đây ở miền Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa có tục giết trống đồng.

Có hai trường hợp chính trống bị giết:

-Thứ nhất vì trống là giáo biểu, tộc biểu, biểu tượng cho thế quyền của một tộc, linh hồn của một tộc nên khi một tộc nào đó chiến thắng một tộc khác, họ giết trống của kẻ thù để tiêu diệt tộc đó, tiêu diệt luôn cả linh hồn tộc đó để tránh hậu hoạn, tránh báo thù.

Trường hợp thứ hai, những tộc chiếm giữ trống đồng của tộc khác hay những người thu chiếm hoặc mua những trống đồng cổ (nhất là những trống đánh cắp từ những nơi mộ cổ, đền miếu linh thiêng) nhiều khi nhận thấy và tin rằng một chiếc trống nào đó còn linh thiêng hay một trống nào đó có âm hồn, có hồn ác quỉ, tà ma, đem lại những đại họa cho bản thân, gia đình hay cho cả dòng tộc, bộ tộc của những người giữ trống nên họ phải giết trống đi. Trường hợp này cũng giống như những người lấy cắp các cổ vật, gạch đá của các đền đài, tháp Champa về xây cất nhà cửa tin là đã gặp phải những tai họa khôn lường nên phải đem trả lại.

Làm thế nào để giết chết trống đồng?

Mặt trời là hồn trống, mặt trời là trái tim đang đập, là sự sống của trống. Vậy muốn giết trống đồng chỉ việc chọc thủng hay phá hủy mặt trời ở tâm trống.

clip_image009

Trống Chợ Mới bị chọc thủng mặt trời (nguồn: Phạm Huy Thông, Dongson Drums in Vietnam) vì bị giết chết.

Vì thế nhiều trống ở Việt Nam và Vân Nam khi khai quật lên thấy mặt trời bị chọc thủng.

Tóm lại trống đồng là một bảo vật, một giáo biểu, một vật thờ phượng, tế lễ thiêng liêng, một quốc biểu, tộc biểu, không phải làm ra có mục đích chính là một nhạc cụ bộ gõ dùng trong âm nhạc mà chỉ dùng đánh lên trong các giáo vụ tế lễ thiêng liêng của một tộc, một quốc gia trong Bách Việt. Những cảnh đánh trống đồng nhẩy múa trong các buổi liên hoan hiện nay chỉ có muộn sau này, những trống đó là trống giả cổ mà thôi và các cách đánh trống hiện nay cũng chỉ là cách bịa đặt ra mà thôi (sẽ nói rõ ở dưới).

b. Trống Đồng là Trống Nòng Nọc, Âm Dương Diễn Tả Trọn Vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ Giáo, Dịch.

.Về Hình Thể

.Trống đồng có hình nõ nường.

Nhìn dưới diện sinh thực khí: nhìn theo chiều dương từ trên xuống, trống để đứng có hình cây nấm hình bộ phận sinh dục nam (phallic mushroom), hình nõ, nọc, cọc (cược, c…c) với đầu bằng ngang vì phần chóp qui đầu đập dẹp xuống thành mặt trống.

clip_image002[1]

                                                                              (nguồn: hilobrow.com).

 Trống là nọc chống, là chông (vật nhọn), là đực (gà trống), là đọc (đọc ong), là nọc (heo nọc), là Nõ.

(Hình trên: phần vòm chỏm nấm tái tạo lại bằng đất sét diễn tả vòm vũ trụ Thượng Thế đã bị đập dẹp xuống thành mặt trống).

.

Nhìn theo chiều âm từ dưới lên, từ mặt hở lên có hình lỗ sinh đẻ, âm đạo và hình dạ con (bằng đầu dẹp) tức nường, bộ phận sinh dục nữ.

clip_image015

Trống là rỗng, là bộng, bọng, bụng, là bọc, là Nang, Nàng, Nường.

Trống có một khuôn mặt nường, bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua bài thơ Vịnh Trống của bà Hồ Xuân Hương: ‘Của em bưng bít vẫn bùi ngùi…’ (sẽ nói rõ thêm ở dưới).

Trống đồng là trống nõ nường nọc nòng, dương âm.

.Trống đồng hở đáy là trống âm dương.

Ở vị thế trống, tức có mặt hướng thiên, trống là một thứ trống (đực, dương). Mặt trống đặc (kín) mang dương tính (đặc là đực là dương như tre đặc là tre đực). Nếu lật ngược trống, mặt đáy hở mang âm tính lên trên (đầu hở hay đầu hổng là đầu âm).

clip_image002

                                                   Cồng, Cối, Nồi. Bát Hương Bát Tràng.

Lúc này trống trở thành một loại cồng hay gồng (tức một thứ trống âm, cồng biến âm với còng, vòng đeo tay như ‘còng mọi’, vòng tròng nòng) hay một thứ cối (cối biến âm với cái), nồi, bát nhang (vật đựng mang âm tính). Ở đây ta thấy rất rõ trống là một vật thờ lật ngược lên ta có một bát nhang, cũng là một vật thờ.

Những trống thông thường hai đầu bịt kín, để úp xuống hay lật ngửa vẫn không thay đổi, vẫn giống nhau, nghĩa là trống vẫn hoàn trống, chỉ có một khuôn mặt là trống (đực) mà thôi (Cơ Thể Học Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Như thế điều kiện ắt có và đủ thứ nhất là trống đồng về hình thức phải có mặt đáy hở thì mới là trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống đồng nào không có mặt đáy hở thì không phải là trống đồng của đại tộc Đông Sơn.

Tóm lại trống đồng có đáy hở là trống nọc nòng, dương âm.

.Về Nội Dung.

Bầu không gian và mặt trời ở tâm trống biểu tượng nòng nọc, âm dương.

Ở tâm mặt trống đồng, mặt trời là dương, vòng tròn bao quanh đầu các tia sáng mặt trời là vỏ bầu không gian.

clip_image023

Bầu không gian là âm. Bầu không gian và mặt trời biểu tượng nòng nọc, âm dương, nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực (Bố Cục Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

Như thế điều kiện ắt có và đủ thứ hai là trống đồng về nội dung phải có mặt trời nằm trong vòng không gian ở tâm trống diễn tả nọc nòng, dương âm. Trống đồng nào dù có mặt đáy hở mà không có mặt trời nằm trong không gian ở tâm trống không phải là trống đồng của đại tộc Đông Sơn.

.Tất cả các chi tiết trên trống đồng đều diễn tả theo nòng nọc âm dương.

Ánh sáng nòng nọc, âm dương.

Ánh sáng mặt trời trên trống đồng cũng mang tính nòng nọc, âm dương. Có hai loại ánh sáng dương và âm. Hầu hết các trống có ánh sáng hình nọc mũi mác, răng cưa, răng sói (>) là tia sáng nọc dương.

clip_image025

Mặt trời nọc dương với tia sáng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) trên trống Ngọc Lũ I.

 và rất hiếm thấy là trống có nòng ánh sáng âm có hình vòng tròn như trên trống đồng Đào Xá.

clip_image027

Mặt trời nòng âm với ánh sáng hình nòng vòng tròn trên trống Đào Xá.

 Ánh sáng hình vòng tròn hay vòng sáng là sáng âm (Ý Nghĩa Hình Ngữ Mặt Trời Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Trong tất cả các nền văn hóa mà tôi khảo sát, chỉ duy nhất trên trống đồng của đại tộc Đông Sơn có hai loại ánh sáng nòng nọc, âm dương đi với nhau còn trong các nền văn hóa khác thường chỉ có một loại ánh sáng duy nhất, thường là nọc tia sáng. Điểm này cho thấy trống đồng của đại tộc Đông Sơn có một nét đặc trưng là trống nòng nọc, âm dương.

.Người của hai ngành, hai nhánh nòng nọc, âm dương có trang phục đầu nòng nọc, âm dương.

Ở trống Ngọc Lũ I, trang phục đầu của nhóm 6 người nhẩy múa và của 6 người ở nhóm 7 người nhẩy múa (trừ người cuối cùng có trang phục hình bầu nậm) có hình chim với những nét thẳng có góc cạnh mang dương tính nọc dương thái dương.

clip_image029

Người hóa trang chim trên trống Ngọc Lũ I có trang phục đầu hình chim có góc cạnh mang dương tính.

Đây là những người Việt mặt trời hóa trang thành người chim mang dương tính thuộc nhánh mặt trời nọc Việt dương thái dương. Trong khi ở trống Hoàng Hạ trang phục đầu của cả hai nhóm 6 người nhẩy múa có hình chim với những nét cong mang âm tính.

clip_image031

Người hóa trang chim trên trống Hoàng Hạ có trang phục đầu hình đầu chim với những nét cong, tròn mang âm tính.

Đây là những người Việt mặt trời thuộc nhánh mặt trời nọc Việt âm thái dương.

.Nhà nòng nọc, âm dương.

Nhà cũng kiến trúc theo âm dương.

Nhà có những kiến trúc nhọn đầu như đầu hồi mũi đao (vật nhọn) là nhà nọc, nhà mặt trời (dương), nhà lang, nhà đinh, nhà đình (đình biến âm với đinh có một nghĩa là trai tráng như thành đinh, tráng đinh):

clip_image033

Nhà nọc, nhà lang, nhà đinh, nhà mặt trời trên trống Ngọc Lũ I.

Nhà có kiến trúc hình vòm như mái hình vòm mu rùa là nhà nòng, nhà nàng, nhà không gian (âm) (Ý Nghĩa Những Hình Nhà Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á).

clip_image035

Nhà nòng, nhà nàng, nhà không gian trên trống Ngọc Lũ I.

.Thú có đực, cái như hươu đực và nai cái trên trống Ngọc Lũ I.

clip_image002[5]

Và còn nhiều nữa…

c. Tất Cả Các Chi Tiết Đều Viết Bằng Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que.

Tất cả các chi tiết trên các trống chính thống từ dấu phẩy đến dấu chấm đều viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Chữ nòng nọc phải hiểu là chữ con nòng nọc có thân hình nòng vòng tròn, đuôi hình nọc que.

clip_image041

Chữ nòng nọc vòng tròn-que là chữ cổ nhất của nhân loại gồm hai chữ cái: chữ Nòng vòng tròn (O) có nghĩa là âm bắt nguồn từ hình ảnh bộ phận sinh dục nữ và Nọc là cây que (I) có

nghĩa là dương, bắt nguồn từ hình ảnh bộ phận sinh dục nam.

Hình ảnh hai chữ nòng nọc vòng tròn-que nguyên thủy còn thấy rõ nhất trong gốm Moche của Peru. Người Moche không có chữ viết họ ghi sử miệng lại bằng đồ gốm.

clip_image002[7]

Gốm Moche Bảo Tàng Viện Larco, Lima, Peru.

Phái nữ được diễn tả bằng chữ nòng O của hình bộ phận sinh dục nữ và phái nam bằng chữ nọc que I hình của bộ phận sinh dục cọc, que phái nam.

Hai chữ nòng vòng tròn và nọc mũi mác hình tam giác còn thấy rõ trước mắt chúng ta hiện nay là hai bảng hiệu nữ, nam còn thấy ở phòng vệ sinh ở Hoa Kỳ.

clip_image002[9]

Bảng hiệu nòng vòn tròn chỉ phòng vệ sinh nữ. Bảng hiệu nọc mũi mác tam giác chỉ phòng vệ sinh nam.   Bảng có hình nọc tam giác nằm trong nòng vòng tròn chỉ cho biết phòng vệ sinh dùng chung cho nam nữ.

Xin đưa ra một hai ví dụ về chữ nọc và chữ nòng trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Mặt trời có tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc (dương).

clip_image051

và không gian tròn có nghĩa là nòng (âm).

Con cò trên trống Đông Sơn IV không có bờm có hình bộ phận sinh dục nam (cọc, cược, c…c).

clip_image053

Trong mỏ và cổ có chữ nọc que cho biết con cò là cò nọc, cò lửa. Điểm này được xác thực bằng hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, thái dương sinh động nằm ở ngoài biên trống…

Tất cả các chi tiết trên các trống đồng của đại tộc Đông Sơn chính thống đều diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que.

d. Đánh Trống Theo Nòng Nọc, Âm Dương.

Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương thì dùi trống cũng phải là dùi nòng nọc, âm dương.

Các nhà khảo cổ ở nhiều nơi đào tìm được hàng ngàn trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn nhưng không tìm thấy một chiếc dùi trống Đông Sơn nào cả. Vì sao? Bởi vì dùi được làm theo dùi nòng nọc, âm dương có một đầu đặc và một đầu rỗng từ một khúc cây như khúc tre chẳng hạn.

clip_image055

Dùi bằng khúc tre có đầu hở âm và đầu đặc dương.

Dùi trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn làm bằng khúc tre có đầu đặc còn giữ lại nốt có mắt tre là nọc và đầu rỗng là nòng.

Các dùi bằng cây này bị tiêu hủy bởi thời gian.

Khi đánh trống phải đánh theo nòng nọc, âm dương, đánh đầu dùi hở nòng, âm thẳng đứng xuống mặt trời nọc dương ở mặt trống cho nòng nọc, âm dương giao hòa với nhau, để khơi động dậy qui trình sinh tạo của đại vũ trụ cũng như của tiểu vũ trụ cõi người…

Hình ảnh đánh trống theo nòng nọc, âm dương còn ghi khắc rõ trên trống đồng Ngọc Lũ I.

clip_image057

Một cảnh đánh trống theo nòng nọc, âm dương trên trống Ngọc Lũ I. Lưu ý đầu chầy hở nòng âm ở dưới đánh xuống mặt trời nọc dương ở mặt trống. Đầu dùi phía trên kín, đặc, đực, nọc.

Dùi trống nòng nọc, âm dương ngày nay còn thấy trong các tộc thổ dân Mỹ châu.

clip_image059

Dùi trống tế lễ: hình bên trái có khắc mặt người đàn ông và người bên phải có khắc mặt đàn bà

(Ritual drumsticks: the figure on the left has the carved face of a man and the one on the right shows the face of a woman (Heike, Owusu, p.224-225).

Dùi bên trái cột dây che kín đầu dùi có khắc hình mặt đàn ông cho biết là dùi nọc, dương và dùi bên phải để hở có khắc mặt phụ nữ là dùi nòng âm.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt hừng rạng, trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương.

TRỐNG ĐỒNG DIỄN TẢ TRỌN VẸN THUYẾT VŨ TRỤ TẠO SINH.

Như thế TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN là TRỐNG NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG. Nòng nọc, âm dương là gì? là nguyên lý căn bản, là nền móng của Vũ Trụ Tạo Sinh, của Vũ Trụ Giáo, của Dịch.

Xin tóm gọn nhắc lại thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh.

clip_image061

Sơ đồ Vũ Trụ Tạo Sinh.

Lưu ý theo Dịch đi từ dưới lên (hướng thiên, hướng về phía mặt trời, dương).

Khởi thủy là trống không hay hư vô được diễn tả bằng nòng vòng tròn đứt đoạn. Tiếp tới hư vô định hình được diễn tả bằng nòng vòng tròn liềnkhông gian nguyên khởi. Rồi mầm dương xuất hiện, đây là mặt trời nguyên khởi. Khi hai mầm âm dương này còn quyện vào nhau ta có trứng vũ trụ hay thái cực. Rồi âm dương tách rời ra thành hai cực nòng nọc, âm dương, ta có lưỡng nghi. Nòng nọc, âm dương ở lưỡng nghi giao hòa với nhau sinh ra Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính gọi là tứ tượng. Tứ tượng âm và tứ tượng dương (là bát tượng hay bát quái) liên tác sinh ra vũ trụ, trời đất, muôn vật, muôn sinh gọi chung là thế giới. Thế giới chia ra làm ba cõi Tam Thế là Thượng Thế, cõi tạo hóa, Trung Thế, cõi người và Hạ Thế, cõi âm. Tam thế được biểu tượng bằng hình một cây gọi là Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống. Chỏm cây, tán cây biểu tượng cho cõi trên Thượng Thế, cành cây biểu tượng cho cõi giữa thế gian Trung Thế, gốc và rễ cây biểu tượng cho cõi dưới Hạ Thế. Thân cây là Trục Thế Giới thông thương ba cõi.

Thường chúng ta dùng cây đa, cây si làm Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ.

clip_image063

Cây Tam Thế, Vũ Trụ Yggdrasil của Bắc Âu. Vòm Thượng Thế diễn tả bằng con chim ưng. Phần dưới chỏm cây gồm cành là Trung Thế (phần trắng) diễn tả bằng con thú bốn chân là con hươu sừng. Gốc cây là Hạ Thế diễn tả bằng con rắn độc thè lưỡi đỏ ra. Thân cây là Trục Thế Giới nối Tam Thế.

Trung Thế lại chia ra ba tiểu thế: vòm cầu vồng là bầu trời, núi nhọn đỉnh là đất dương Trung Thế, hồ nước là vùng nước Trung Thế diễn tả bằng con rắn nước cắn đuôi cuộn thành hình nòng vòng tròn.

Trong văn hóa Đông Sơn Cây Vũ Trụ được diễn tả bằng Cây Nấm. Cây nấm diễn tả hoàn chỉnh hơn các loại cây khác vì nấm có chỏm hình vòm diễn tả đúng nhất của hình vòm bầu vũ trụ cõi trên Thượng Thế. Người Thái ở Nghệ cũng có Cây Vũ Trụ là Cây Nấm.

clip_image064 clip_image066

Cây Nấm Vũ Trụ và chia ra Tam Thế trong văn hóa Đông Sơn diễn tả bằng trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I).

clip_image068

Tiêu biểu là trống Đông Sơn Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) diễn tả trọn vẹn thuyết vũ trụ tạo sinh, Việt Dịch Đông Sơn.

Để kiểm chứng lại cho chắc chắn và cho dễ thấy bây giờ ta hãy đưa trống đồng lên bàn mổ.

clip_image070

Tôi mổ trống ra làm 4 phần:.

Từ trái qua phải: phần thứ nhất mặt trời-không gian là hậu thân của trứng vũ trụ tạo hóa, mầm nòng nọc, âm dương nguyên khởi có một khuôn mặt Thượng Thế ở cõi tạo hóa.

clip_image072

Mặt trời không gian là hậu thân của trứng vũ trụ tạo hóa có khuôn mặt Thượng Thế ở cõi tạo hóa.

Phần thứ hai là Trung Thế

clip_image074

Phần hình chậu có mặt trống và bầu tang trống là Trung Thế.

gồm mặt trời không gian trong thái dương hệ (chỗ lõm) là tiểu thế cõi trời Trung Thế thường được diễn tả bằng vành chim bay. Phần mặt bằng còn lại của mặt trống là vùng đất của Trung Thế, ở các trống thế gian (có mặt trời có từ 8 tia ánh sáng trở lên) thường được diễn tả bằng vành sinh hoạt nhân sinh, vành chim ,thú bốn chân sống trên mặt đất.

Phần bầu hình chậu (vật đựng biểu tượng cho nước) là vùng nước của tiểu thế cõi đất thế gian của Trung Thế thường diễn tả bằng cảnh sinh hoạt trên thuyền, có các chim nước và thủy tộc.

Chân trống là Hạ Thế:

clip_image076

Chân trống là Hạ Thế.

Eo trống hay trụ trống là Trục Thế Giới nối liền, thông thương Tam Thế.

clip_image078

Eo hay trụ trống là Trục Thế Giới.

Như thế không còn gì để nói thêm nữa trống trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn loại Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, là trống biểu của Vũ Trụ giáo, diễn tả Việt Dịch Đồng Nòng Nọc Đông Sơn.

Đối chiếu với cốt lõi văn hóa Việt, ta thấy rất rõ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn chuyên chở ba khuôn mặt chính của văn hóa Việt Nam:

-Bộ Sách Đồng Văn Hóa Việt Nam có cốt lõi nòng nọc, âm dương Chim Rắn Tiên Rồng, Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

-Bộ Dịch Đồng Đông Sơn dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương. Đây là bộ Dịch đồng bằng hình duy nhất của nhân loại.

-Bộ Việt Sử Đồng của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời có Tổ Hùng là chim-rắn, là trứng vũ trụ, có Hùng Vương sinh ra từ bọc trứng thế gian gồm hai ngành nòng nọc, âm dương rắn-chim Lạc Long Quân Âu Cơ.

Lưu Ý

Cần nhắc lại ở đây trên trống nên có khuôn mặt chính là sử của ngành trống (đực), mặt trời tức của Đại Tộc Việt ngành nọc dương thái dương Viêm Đế gồm hai nhánh dương thái dương Hùng Kì và nọc âm thái Hùng Lạc. Còn ngành nòng, âm thái dương chỉ thấy nhiều trên cồng đồng (cồng là còng, vòng đeo tay có khuôn mặt chủ là vòng tròn, Nòng, âm) và ngành nòng âm thái âm chỉ thấy trên gương đồng (gương có khuôn mặt chủ là phái nữ thái âm) (xem bài viết về Gương Đồng).

Hôm nay chúng ta chỉ xem Bộ Việt Sử Đồng Đông Sơn Bằng Hình của Đại Tộc Việt.

TRỐNG ĐỒNG LÀ BỘ SỬ ĐỒNG CỦA ĐẠI TỘC VIỆT.

Bộ sử đồng gồm 2 phần: sử miệng và sử sách.

A. SỬ MIỆNG VIỆT TRÊN TRỐNG ĐỐNG ĐÔNG SƠN.

Khi chưa có chữ viết, người cổ xưa dùng những bài hát cúng tế, sử thi, truyền thuyết, truyện tích, ca dao… để truyền lại chính yếu là vũ trụ quan và nhân sinh quan của họ cho đời sau. Đây là một thứ sử miệng của người cổ xưa. Ví dụ Mường Việt có sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước (Mường ngữ Đẻ là Mẹ, thầy đẻ). Sử thi Mường Việt này cũng nói về vũ trụ quan (đại vũ trụ) và nhân sinh quan (tiểu vũ trụ) của người Việt Mường.

1. Vũ Trụ Quan

Người Việt cho mình là con Rồng cháu Tiên (thần thoại hóa từ nguồn cội Rắn Chim) có cốt lõi văn hóa dựa trên nòng nọc, âm dương, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch. Có thần tổ tối cao là Rắn-Chim Thần Nông-Viêm Đế nòng nọc, âm dương. Vũ Trụ Quan dựa trên nòng nọc, âm dương này ăn khớp trăm phần trăm với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Ví dụ đầu các con thuyền trên trống Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ, Sông Đà có con chim mỏ rìu (chim cắt, chim Việt) biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam là Nọc cắm vào miệng con rắn nước biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ là Nòng.

clip_image080

Đầu thuyền trên trống Hoàng Hạ.

Đây là dạng rắn-chim nhất thể, Thần Nông Viêm Đế nhất thể, Lạc Long Quân-Âu Cơ nhất thể (Lạc Hồng, liên hiệp Âu Lạc).

Ở thuyền trên trống Sông Đà rắn-chim đứng riêng rẽ.

clip_image082

Thuyền trên trống Sông Đà có đầu hình Rắn nước và đuôi đầu chim cắt mỏ rìu.

2. Nhân Sinh Quan

Có ba truyền thuyết nói về sự sinh tạo ra con người Bách Việt dọc theo chiều dài của qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

.Truyền thuyết thứ nhất sinh ra từ quả Bầu.

Theo truyền thuyết này người Bách Việt sinh ra từ một quả bầu. Người Việt chui ra trước nên da sáng hơn và các tộc khác chui ra sau da đen hơn. Người Lào hiện nay vẫn còn rất hãnh diện với truyền thuyết nhận mình sinh ra từ quả bầu này. Bầu ở đây phải hiểu là bầu sinh tạo (phụ nữ có bầu là có mang, có thai), bầu tạo hóa, bầu vũ trụ. Nói theo qui trình của Vũ Trụ Tạo Sinh là bầu hư vô (quả bầu hình cầu tròn), bầu trứng vũ trụ (bầu nậm có phần cổ diễn tả nọc và phần bầu diễn tả nòng).

Bầu vũ trụ tạo hóa, hư vô, trứng vũ trụ này ngày nay còn thấy dưới nhiều hình dạng như bầu tròn (hư vô hay Trứng Vũ Trụ, thái cực), bầu nậm (nòng nọc, âm dương đề huề tương đương với trứng vũ trụ), bầu củ hành tây (nòng nọc, âm dương với nòng âm mang tính chủ) trong các tôn giáo lớn, di duệ hay bị ảnh hưởng bởi Vũ Trụ giáo.

clip_image084

Hàng trên: bầu cầu tròn biểu tượng cho hư vô hay trứng chim tròn vũ trụ, thái cực. Bầu nậm nòng nọc, âm dương đề huề. Bầu củ hành tây có nòng âm mang tính trội.

Hàng giữa: đền Ấn giáo có vòm hình bầu tròn. Lăng Hùng Vương thứ 6 (theo Vũ Trụ giáo) trên nóc có hình bầu nậm. Taj Mahal có nóc vòm hình củ hành tây.

Hàng dưới: một nhà thờ ở Czech có vòm hình bầu nậm biến thể. Nhà thờ ở St Peterburg, Nga có những vòm hình củ hành tây. Vòm của đền Hồi giáo Xanh Blue Mosque, Thổ Nhĩ Kỳ có vòm củ hành tây.

Chúng ta sinh ra từ bầu vũ trụ nên khi chết lại trở về bầu vũ trụ để được tái sinh hay sống hằng cửu vì thế người Bách Việt mới có tục chôn người trong các chum vò có hình bầu.

clip_image086

Các mồ có hình bầu tròn.

 Hàng trên:

-Hình quang tuyến X cho thấy một người được chôn trong chum vò ở tư thế thai nhi ngồi bó gối như ngồi trong bầu dạ con vũ trụ để được tái sinh, thấy ở Nam Dương.

-Cánh Đồng Chum, Lào có hàng ngàn các chum đá dùng mai táng tro than người chết hay cải táng, trong đó có các chum vò hình bầu.

Hình các chum vò đất nung thấy ở Sa Huỳnh, Việt Nam và hình các chum đá mai táng cũng thấy ở Thung Lũng Bada, Sulawesi, Nam Dương. Con đường văn hóa chum vò từ Cánh Đồng Chum xuống Sa Huỳnh tới Nam Dương đi theo con đường giao thương gọi là ‘Con Đường Muối’ (đem muối từ Sa Huỳnh lên cao nguyên Xiêng Khoang Cánh Đồng Chum, Lào và đem các sản phẩm miền núi từ Lào xuống Sa Huỳnh và Nam Đảo).

Hàng dưới:

-Tháp Phật stupa Đại Sanchi có hình bầu củ hành tây. Stupa có gốc nghĩa là mồ, mả. Tháp mồ mả Phật thường chôn các xá lợi Phật, kinh Phật, các bảo vật của Phật giáo.

-Gò chôn các vua Đại Hàn hình bầu cầu tròn.

-Mả thường dân Đại Hàn có vòm cầu tròn.

Còn rất nhiều chứng sử cho thấy chúng ta sinh ra từ bầu vũ trụ thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Trống Ngọc Lũ I có hai nhóm người nhẩy múa ở hai bán viên.

clip_image088

Hai nhóm người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I.

Nhóm 6 người ở bán viên âm (số 6 là số chẵn, số âm). Nhóm 7 người ở bán viên dương (số 7 là số lẻ, số dương). Ta thấy 6 người ở bán viên âm và 6 người đầu tiên của nhóm 7 người có trang phục đầu hình chim giống nhau như thế họ cùng một đại tộc người mặt trời hóa trang chim.

clip_image090

Người mặt trời hóa trang chim. Có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời ở đuôi chim.

Trang phục đầu ở đây có hình chim có góc cạnh mang dương tính và đầu chim có phần hình trụ rất cao, to, dựng đứng rất cường điệu mang ý nghĩa nọc dương thái dương. Phần này cũng diễn tả chiếc mũ sừng của chim. Đây chính là con chim cắt mũ sừng lớn (Great Hornbill, Buceros bicornis), chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế có họ Khương (Sừng).

Tay trái cầm gậy thẳng diễn tả nọc lửa vũ trụ (ứng với Càn, Đế Minh), tay phải cầm phách (hay lệnh) hình mũi mác chỉ thiên diễn tả núi nhọn đất dương (ứng với Li. Kì Dương Vương). Người này thuộc hai đại tộc Lửa Trời thái dương và Lửa Đất thiếu dương của nhánh nọc dương thái dương. Tay phải mang tính dương nên khuôn mặt Người Núi đất dương Kì Dương Vương mang tính chủ. Hai nhóm người này diễn tả Người Việt mặt trời thuộc nhánh nọc dương, nọc Việt thái dương ngành mặt trời Viêm Đế.

Riêng người cuối cùng của nhóm 7 người có trang phục đầu khác hẳn 12 người kia. Trang phục đầu của người này có hình bầu nậm.

clip_image092

Người cuối cùng của nhóm 7 người nhẩy múa trên trống Ngọc Lũ I có trang phục đầu hình bầu nậm. Tay phải cầm dùi hình sừng hươu hai mấu nhọn lửa dương đi với phần nọc dương cổ bầu của trang phục đầu và tay trái cầm chuông hình bát diễn tả nước dương đi với phần bầu âm thái dương của trang phục đầu bầu nậm.

Trang phục đầu bầu nậm cho biết đây là người chim mặt trời sinh ra từ bầu nậm vũ trụ.

Rõ như ‘con cua tám cẳng hai càng một mai hai mắt rõ ràng còn cua’ là hai nhóm người này là đại tộc Việt Người Mặt Trời của hai phía nọc Việt dương thái dương và nọc Việt âm thái dương ngành mặt trời Viêm Đế thuộc chủng người Tiểu Vũ Trụ con của bầu nậm nòng nọc, âm dương Đại Vũ Trụ.

.Theo truyền thuyết 2: chúng ta sinh ra từ Trứng Vũ Trụ (tương đương với bầu nậm vũ trụ). Người Việt là con của Trứng vũ trụ.

Ta có truyền thuyết ông Bàn Cổ, thủy tổ của Bách Việt sinh ra từ một quả trứng (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Tổ Hùng tương ứng với bọc Trứng Vũ Trụ Thần Nông-Viêm Đế nhất thể. Hùng Vương sinh ra từ bọc trứng Thế gian của Âu Cơ-Lạc Long Quân đội lốt Trứng Vũ Trụ.

clip_image094

Gạch nung đời Lê Trung Hưng diễn tả mẹ đời, mẹ tổ sinh ra bọc trứng ứng với Âu Cơ sinh ra bọc trứng Lang Hùng Vương.

Bọc trứng này không phải là quái thai mà phải hiểu là bọc trứng sinh tạo cõi trời thế gian đội lốt bọc trứng tạo hóa vũ trụ.

clip_image096

Tròng đỏ của trứng ứng với mặt trời, nọc, dương và tròng trắng ứng với không gian, nòng, âm.

Truyền thuyết chỉ nói về các Hùng Vương mặt trời, chỉ nói về các lang (con trai) nên mới nói là trứng nở ra trăm Lang Hùng mặt trời từ tròng đỏ mặt trời (còn tròng trắng đẻ ra trăm nàng con gái, mẹ nàng, mỵ nương không nói tới).

Chúng ta sinh ra từ trứng vũ trụ khi chết được chôn trong các vật hình trứng để trở về với vũ trụ hầu được tái sinh hay sống hằng cửu.

image

Chum đá hình trứng ở Cánh Đồng Chum;

clip_image002[1]

Trong các chum mai táng tìm thấy ở Đại Hàn có loại hình trứng; các mồ mả dân gian Việt Nam có vòm hình trứng.

Còn rất nhiều chứng sử cho thấy chúng ta sinh ra từ trứng vũ trụ thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Về phía trống thì trống có hình trứng tròn như trứng chim hay hình noãn như trứng gà.

Theo sự phân loại của tôi, trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có trống Trứng Tạo Hóa, Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I hình trứng chim vành cầu tròn hay hình noãn.

Trống đồng hình vành cầu tròn là do trứng chim cầu tròn cắt bỏ hai chỏm đi làm thành và biểu tượng cho trứng tròn vũ trụ, thái cực.

clip_image100

Một Trống Đồng Trứng Vũ Trụ Tạo Hóa Nguyễn Xuân Quang I hình vành cầu tròn.

Các tác giả ở Việt Nam hiện nay gọi lầm đây là chậu đồng. Đây không phải là chậu mà là trống, lật ngược lên mới là chậu, giống như đã nói ở trên, trống Ngọc Lũ I lật ngược lên là cái nồi, cồng hay cối. Gọi chậu là gọi theo mặt âm, theo cồng.

Còn trống đồng trứng hình noãn giống như trống cái bịt da thường gọi là trống thùng (barrel drum). Theo duy âm cũng có một khuôn mặt sinh tạo âm, bộ phận sinh dục nữ, như thấy qua bài thơ Vịnh Trống của bà Hồ Xuân Hương:

Của em bưng bít vẫn bùi ngùi,

Nó thủng vì chưng kẻ nặng dùi

Ngày vắng đập tung dăm bẩy chiếc.

Đêm khuya tỏm cắc một đôi hồi.

……..

(Hồ Xuân Hương).

và qua bức tranh phác họa cảm tác bài thơ này của họa sĩ Bùi Xuân Phái:

clip_image102

Tranh phác họa của họa sĩ Bùi Xuân Phái cảm tác bài thơ Vịnh Trống của Hồ Xuân Hương.

Trong Những Trống Đồng Đông Sơn Đã Phát Hiện Ở Việt Nam (1975), các tác giả Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Vinh có nói tới các loại trống đồng giống “các loại trống da” như trống Cảnh Thịnh (Tây Sơn) (trống mang ký hiệu D.6214-22), trống để ở chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện tỉnh Nam Hà, trống đời Nguyễn trưng bày tại viện bảo tàng đền Hùng tỉnh Vĩnh Phú “về mặt hình dạng được mô phỏng theo loại trống gỗ bịt da, nhưng vẫn giữ được truyền thống của trống đồng là chúng chỉ có một mặt” (tr.14).

clip_image104

Trống Cảnh Thịnh (1800).

clip_image106

Trống Văn Lâm Hà Nội, 1801 (làm lại) tại Viện Bảo Tàng Văn Hóa Saigon (ảnh Michelle Nguyễn).

Trống trứng sinh tạo Nguyễn Xuân Quang I hình trứng chim vành cầu và hình noãn cũng dùng chôn tro than người chết và dùng cải táng hầu mong hồn người chết về với trứng vũ trụ để được tái sinh.

Lưu Ý

Tôi phân chia trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn ra làm 6 loại theo 6 giai đoạn của qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh. Mỗi trống đều mang một ý nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh. Heger chỉ chia trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn ra làm 4 loại dựa theo mô tả hình dạng mà không nói lên được một ý nghĩa đích thực nào của trống đồng cả. Hai loại có thêm của tôi là Trống trứng tạo hóa vũ trụ Nguyễn Xuân Quang I có hình vành cầu phát xuất từ trứng chim cầu tròn cắt bỏ hai chỏm đi để làm trống và hình noãn. Vì trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương luôn luôn có mặt trời nằm trong vòng không gian ở tâm trống nên trống đồng vành cầu hậu thân của trứng cầu tròn luôn luôn diễn tả trứng vũ trụ chứ không diễn tả hư vô, nó có cùng nghĩa với trống đồng hình noãn cho nên cả hai loại trống trứng vành cầu tròn và hình noãn đều được tôi xếp chung vào loại trống Trứng Tạo Hóa Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang I là vậy. Loại Trống Trứng Vũ Trụ Tạo Hóa Nguyễn Xuân Quang I này ứng với thái cực nếu nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương nhất thế và lưỡng nghi nếu nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương riêng rẽ.

Loại trống có thêm thứ hai là Trống Lửa thái dương Nguyễn Xuân Quang II hình nọc trụ ống ứng với tượng Lửa (Càn). Hai loại này không có trong phân loại của Heger. Còn lại là Trống Gió Nguyễn Xuân Quang III (Heger III) hình lọng ứng với tượng Gió; Trống Nước Nguyễn Xuân Quang IV (Heger IV) hình cái âu, cái bát ứng với tượng Nước; Trống Đất Nguyễn Xuân Quang V (Heger II) hình núi tháp trụ tròn xoay cụt đầu ứng với tượng Đất. Bốn trống Lửa NXQ II, Gió NXQ III, Nước NXQ IV và Đất NXQ V này diễn tả tứ tượng sinh ra trống Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) (xem Phân Loại Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương của Đại Tộc Đông Sơn).

.Theo truyền thuyết 3: chúng ta sinh ra từ Cây Vũ Trụ, giai đoạn hoàn tất của qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

Theo một truyền Mường Việt, mẹ tổ của Mường Việt là Dạ Dần (Mường ngữ Dạ là mẹ, Dần là Dân, Nhân, Người) sinh ra từ cây si thuộc họ cây đa, là Cây Vũ Trụ. Cây Vũ Trụ sinh ra Mẹ Đời, Mẹ Nguyên Khởi như Dạ Dần được diễn tả bằng hình một người nữ ngồi ở tư thế sinh con hai tay giơ cao lên đầu hai chân bẹt ra và theo duy dương sinh ra Cha Đời, Cha Nguyên Khởi ở vị thế đứng giơ hai tay lên đầu (theo ngữ pháp chữ nòng nọc vòng tròn-que, theo Dịch ngồi là âm, đứng là dương).

clip_image108

Hình Cha Đời sinh ra chữ nòng nọc vòng tròn-que người clip_image110 trên đồ đồng Đông Sơn, nguyên thể của Hán tự mộc clip_image112 là cây. Rõ ràng con người sinh ra từ Cây Vũ Trụ có hình cây (đầu là vòm cây, là Thượng Thế, hai tay là cành là Trung Thế, chân là gốc, là hạ Thế và thân người là Trục Thế Giới).

Chúng ta có tục thờ cây Vũ Trụ như thờ Cây Đa, Cây Nấm cũng giống các tộc khác như Nhật Bản, Đại Hàn. Chúng ta thờ cây không phải là thờ bái vật, thờ tà ma, ma đạo, không phải là mê tín. Chúng ta thờ cây đa là thờ thờ Cây Vũ Trụ, thờ nguồn cội, gốc tổ, tổ tiên sinh ra chúng ta ở cõi tạo hóa. Cây đa ở cõi nhân gian cũng biểu tượng cho nơi bản quán, sinh quán, quê hương, tổ tiên của một người: ‘Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh’ (Chung Quân).

Chúng ta sinh ra từ Cây Vũ Trụ khi chết được chôn trong thân cây hay các nhà mồ có hình Cây Vũ Trụ để trở về với Cây Vũ Trụ hầu mong được tái sinh hay sống hằng cửu.

Người Mường và một số sắc dân khác, người chết trước đây được chôn trong các cây khoét rỗng. Có tộc hải đảo ở Nam Đảo chôn người chết trong các nhà mồ hình Cây Vũ Trụ.

clip_image114

Ngôi nhà mồ Cây Vũ Trụ của người Kayan (theo Waterson).

Ngôn ngữ Việt có từ nấm mồ cho thấy ngày xưa chúng ta cũng có loại mồ hay nhà mồ hình nấm vũ trụ.

Còn rất nhiều chứng sử cho thấy chúng ta được sinh ra từ Cây Vũ Trụ còn thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

clip_image116

Từ trái qua phải: 1. một mảnh đồng Đông Sơn ở Vân Nam có hình Mẹ Đời sinh ra từ Cây Vũ Trụ ngồi ở tư thế sinh con. 2. Mẹ Đời trên một trng moko Nam Dương. 3.Mẹ Đời trên trống Sangeang Malakamau, Nam Dương. 4.Cha Đời trên trống Sangeang Malakamau.

 Chứng sử tiêu biểu nhất cho thấy chúng ta khi chết được chôn trong Cây Vũ Trụ để trở về với Cây Vũ Trụ hầu mong được tái sinh hay sống hằng cửu là chôn trong trống đồng Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) vì vậy ta mới thấy trống đồng dùng chôn tro than người chết và dùng làm tiểu đồng để cải táng chôn sọ, xương người chết như đã nói ở trên.

image

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: