VIỆT DỊCH (9): LẠC THƯ CHI CHI CHÀNH CHÀNH, (Phần 4 và hết).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH

(9)

LẠC THƯ CHI CHI CHÀNH CHÀNH.

(Phần 4 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

CHI CHI CHÀNH CHÀNH và LẠC THƯ.

Theo các nhà Dịch học Hoa Hạ thì Văn Vương dựa vào Lạc Thư do vua Đại Vũ nghĩ ra từ những ‘chữ’ (thư) thấy trên lưng con rùa thần ở sông Lạc mà làm ra Hậu Thiên bát quái.

Như đã biết, Hà Đồ Chi Chi Chành Chành là Hà Đồ Vũ Trụ Tạo Sinh gồm Hà Đồ Tiên Thiên bát quái và Hà Đồ Hậu Thiên bát quái. Hà Đồ Hậu Thiên liên hệ mật thiết với Lạc Thư. Hà Đồ có 10 số từ số 1 tới số 10 trong khi Lạc Thư chỉ có 9 số (từ 1 tới 9). Rõ như ban ngày Hà Đồ bao trùm lên Lạc Thư. Hiển nhiên Hà Đồ Chi Chi Chành Chành cho biết có sự hiện hữu của Lạc Thư Chi Chi Chành Chành.

Tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh ở trên cũng dựa vào Lạc Thư chứng minh Chi Chi Chành Chành diễn tả Hậu Thiên bát quái Lạc Việt, theo ông ‘Ba vương ngũ Đế = 3 x 5= 15 là tổng độ số của ma trận Lạc thư khi cộng theo chiều ngang, dọc, chéo’.

Lạc Thư là ma phương (magic square) 5/15 có số trục là số 5 và tất cả các đường, các nhánh cộng lại bằng 15. Như thế Lạc Thư mang tính Li (số 5 là số Li)-Càn (số 15 là số Càn tầng 2, thế gian, Càn tầng 1 là số 7), mang dương tính, của ngành nọc mặt trời thái dương ứng với Viêm Đế (Viêm là lửa thái dương tức Càn, Đế là lửa Đất Li). Ta cũng thấy Lạc Thư mang dương tính qua các con số. Các số lẻ, dương 1, 3, 5, 7, 9 cộng lại là 25 trong khi các số chẵn 2, 4, 6, 8 cộng lại là 20 (trong khi Hà Đồ mang âm tính vì có thêm số 10).

clip_image002

Ma phương 5/15, Lạc Thư.

Ma phương có hình vuông nằm trên mặt bằng mang tính tĩnh tại, vững chắc có một khuôn mặt cõi đất bằng. Đất bằng tĩnh tại thường được cho là đất có hình vuông. Đất vuông trời tròn như bánh chưng bánh dầy. Trong chữ nòng nọc vòng tròn-que hình vuông là dạng thái dương của nòng O (bốn góc nhọn là biến dạng của nọc mũi tên, mũi mác mang tính dương). Hình vuông mang tính nòng O thái dương có một khuôn mặt là đất âm thái dương (bánh chưng biểu tượng cho khuôn mặt đất âm Cấn của Hoàng Hậu Tổ Hùng hay của thái dương của Âu Cơ trong khi bánh dầy tròn là khuôn mặt bầu trời của Hùng Lang hay mặt trời âm của Lạc Long Quân). Hình vuông biểu tượng cho đất vuông âm thái dương vì thế trên ma phương Lạc Thư 5/15 có các con số chẵn, âm 8, 6, 4, 2 được để trong các ô ở bốn góc hình vuông. Đối chiếu với truyền thuyết Việt, bốn số âm này ứng với Nàng Nước thái âm Vụ Tiên 8 (số 8 là số Khôn thế gian tầng 2, số 0 là số Khôn tầng 1 tạo hóa), Nàng Gió thiếu âm Long Nữ 2 (số 2 là số Khảm tầng 1 cõi trời), Nàng Lửa thái dương Âu Cơ 6 (số 6 là số Tốn tầng 1) và Nàng Đất thiếu dương Hoàng Hậu Hùng Vương 4 (số 4, Cấn tầng 1).

Còn lại 5 số lẻ, dương 1, 5 7, 9, 3 thì bốn số 1, 7, 9, 3 nằm ở ô giữa mỗi cạnh. Nối bốn số này lại ta có một hình vuông thứ hai đứng trên một đỉnh (ở số 1). Hình vuông đứng trên một đỉnh là dạng hình vuông chuyển động.

clip_image004

Tính động là tính dương vì thế mà bốn số dương để trên hình vuông chuyển động, dương là vậy. Đối chiếu với truyền thuyết Việt, số 1 có một khuôn mặt là phần trên ở cõi tạo hóa của Trục Thế Giới 1-5 (số 5 là phần ở cõi đất của Trục Thế Giới) như đã thấy ở Hà Đồ Tiên Thiên Chi Chi Chành Chành số trục phải là số 1 thay vì số 5 như ở Hà Đồ Hoa Hạ). Ở đây Lạc Thư có khuôn mặt chủ là Đất thế gian nên ta lấy số 1 theo nghĩa là phần đầu Trục Thế Giới, có một khuôn mặt đất vũ trụ (thiên thạch) là Chàng Đất thiếu dương Kì Dương Vương đội lốt Đế Đế (phần đất Đế của Viêm Đế). Số 7 Càn là Chàng Lửa thái dương Đế Minh, số 9 là Chàng Nước thái âm Lạc Long Quân, số 3 là Chàng Gió thiếu âm Tổ Hùng. Ta thấy rõ là Lạc Thư có một khuôn mặt tạo sinh cõi đất vuông ngành nọc dương thái dương. Ta có tứ tượng dương. Lạc Thư khắng khít với Hà Đồ, nằm trong Hà Đồ.

Như thế hình vuông nằm mang tính tĩnh tại với bốn số chẵn, âm diễn tả tứ tượng âm ứng với bốn Tổ Mẫu Việt và hình vuông chuyển động đứng trên một đỉnh diễn tả tứ tượng dương ứng với bốn Tổ Phụ Việt. Như vậy Lạc Thư cũng liên hệ với Dịch sử truyền thuyết Việt nhưng là Dịch sinh tạo cõi thế gian, cõi đất, Hậu Thiên.

Còn lại số trục 5 ở tâm hình vuông là tâm của Trục Vũ Trụ, tâm của vũ trụ ở cõi đất bằng thế gian. Theo chiều ngang ta cũng thấy số 5 là số trung tâm điểm của chuỗi số từ 1 tới 9: 1, 2, 3, 4 5, 6, 7, 8, 9. Số 5 là số Li Lửa Đất, Đất dương. Số 5 là tâm của Trục Vũ Trụ coi như là hình chiếu của đỉnh trục số 1 ở Thượng Thế và hình chiếu của cuối trục số 9 ở Hạ Thế xuống mặt bằng ở tâm tức Lạc Thư. Như thế Lạc Thư có một khuôn mặt ẩn của Thượng Thế và Hạ Thế. Số 5 vì thế mang thêm hình ảnh ẩn của Núi Trụ Thế Gian, Núi Vũ Trụ, Trục Thế Giới. Lạc Thư là đáy vuông của Núi Vũ Trụ hình kim tự tháp.

Kiểm chứng với ngũ hành của Hoa Hạ. Ngũ hành Hoa Hạ diễn tả theo hình vuông có hành Thổ ở tâm hình vuông. Hành thổ là hành trục của ngũ hành. Ta thấy rõ hành Thổ ứng với số trục 5 của ma phương Lạc Thư 5/15. Hành Thổ chính là phần trên mặt đất của Trục Vũ Trụ, của Cây Vũ Trụ. Hành Thổ cũng có một khuôn mặt mang hình bóng của Trục Vũ Trụ, Cây Vũ Trụ trong mặt bằng. Điểm này thấy rõ qua chữ Thổ trong giáp cốt văn được diễn tả bằng một trụ đá, một cột trụ cắm trên mặt bằng mang hình ảnh  Núi Trụ Thế Gian, núi Kì, Trụ Chống Trời, hình ảnh ông Bàn Cổ [Bàn là phiến đá bằng như bàn thạch là đế giữ trụ cho vững và Cổ là cột trụ (cổ là cột trụ cắm đầu vào thân mình)]. Ông Bàn Cổ là ông Trụ Chống Trời biểu tượng cho cõi đất thế gian.

clip_image005

Trong giáp cốt văn Thổ (tũ) được diễn tả bằng một trụ đá, một cột trụ cắm trên mặt bằng.

Tóm lại Lạc Thư có khuôn mặt chủ biểu tượng cho cõi đất thế gian Trung Thế ngành nọc thái dương và khuôn mặt ẩn liên hệ với Thượng và Hạ Thế.

Bây giờ ta đi vào chi tiết của Lạc Thư.

Trước hết hãy nói về con rùa thần ở sông Lạc. Con rùa được cho là nguồn gốc của Lạc Thư. Như đã biết, con thú thần thoại long mã được cho là nguồn gốc của Hà Đồ chỉ có một giá trị nói cho biết Hà Đồ diễn tả trọn vẹn tam thế (con ngựa bốn chân biểu tượng cho cõi Đất, rồng có cốt là rắn nước biểu tượng cho cõi Nước, ngựa phi, rồng bay lên trời biểu tượng cho cõi Gió, Trời). Như thế con rùa thần cũng chỉ nói cho ta biết khuôn mặt chính của Lạc Thư liên vệ với một cõi nào đó của Tam Thế. Con rùa thường được hiểu là một con vật liên hệ tới Dịch, thường đi với Phục Hy và được cho là biểu tượng cho sống lâu. Nhưng con rùa còn có một khuôn mặt căn bản là một con thú 4 chân sống được trên cạn biểu tượng cho cõi Đất bằng, bền vững. Đất vững bền mang âm tính thái dương thường cho là đất vuông (đi với trời tròn). Con rùa biểu tượng cho đất vuông cũng thấy qua phần mai dưới bụng vuông biểu tượng cho đất vuông (còn phần mai hình vòm biểu tượng cho trời tròn). Cũng vì biểu tượng cho đất vuông mang tính cân bằng, bền vững, tĩnh tại nên cũng thấy rùa đội Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới. Ví dụ điển hình của rùa đội Trục Thế Giới thấy rõ trong một truyền thuyết sáng thế của Ấn giáo:

clip_image007

Angkor Wat.

(nguồn: leroidragon.fr)

Trong truyền thuyết này ta thấy con rùa đứng trên mặt đất đội Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới thông thương Tam Thế. Thượng Thế ở trên cùng có thần Brahma lưỡng tính phái ngồi trên đỉnh trục. Hai bên là thần Shiva và Vishnu. Ba vị thần sáng thế này bao quanh bởi các vị thần con. Trung Thế có các vị thần nhân cầm con rắn để giữ Trục Thế Giới. Con rắn cũng có một khuôn mặt biểu tượng cho cõi nước ở Trung Thế (hay cũng có thể cho cõi nước âm Hạ Thế). Con rùa biểu tượng cho cõi đất Trung Thế. Dưới mặt đất là Hạ Thế. Rõ ràng con rùa ở đây mang khuôn mặt biểu tượng cho cõi đất Trung Thế.

Rùa đội Trục Thế Giới mang hình ảnh Lạc Thư ba chiều.

Con rùa đội Trục Thế Giới, Cây Vũ Trụ này có một khuôn mặt của Cây đinh thổi lửa (với biểu tượng Trục Vũ Trụ, Cây Vũ Trụ chữ T).

Rõ nữa là hình diễn tả Tam Thế dưới đây:

clip_image008

Tam Thế trong Ấn giáo

(nguồn mythencyclopedia.com).

Thượng thế gồm phần vòm và chóp biểu tượng cõi trên chống đỡ bằng bốn con voi. Trung thế cõi đất là con rùa. Hạ Thế là con rắn.

Rõ nhất là dạng đồ hình thần kỳ sáng thế sau đây:

clip_image010

Đồ hình thần kỳ sáng thế (Sri yantra or yantra of creation) là một đồ hình thiêng liêng nhất của truyền thống Tantric (nguồn: kotiyark.com).

Đồ hình này là một dạng mandala tròn-vuông cho thấy rõ phần vuông ứng với bụng mai rùa vuông diễn tả cõi Đất Trung Thế. Lạc Thư là một thứ mandala vuông.

clip_image011

Mandala vuông Lạc Thư

(nguồn: deep-high.blogspot.com).

Như vậy rùa thần chỉ là một con vật thần thoại cho biết Lạc Thư là phần ứng với cõi Đất Trung Thế của Hà Đồ Tam Thế, nên Lạc Thư liên hệ với Hậu Thiên bát quái (trong khi long mã diễn tả Tam Thế liên hệ với Tiên Thiên bát quái).

Ta thấy Hoa Hạ thường diễn tả Phục Hy đi với con rùa cho thấy Dịch Hoa Hạ nghiêng nhiều về Dịch thế gian.

Trở về với bài hát này, trước hết nhìn tổng quát, như đã biết, bài hát Chi Chi Chành Chành có một khuôn mặt diễn tả Que Diêm Viêm Đế, thần tổ tối cao của đại tộc Việt. Viêm Đế gồm Viêm và Đế. Như đã biết, Viêm là Càn. Ở đây là Càn thế gian ứng với số Càn tầng 2 thế gian là 15 (Càn tầng 1 tạo hóa là 7). Đế là Li ứng với số 5. Như thế Chi Chi Chành Chành qua khuôn mặt Que Diêm, Cây đinh thổi lửa Viêm Đế có một khuôn mặt ứng với 5 và 15. Rõ như hai năm là mười Chi Chi Chành Chành liên hệ hay diễn tả ma phương 5/15 tức Lạc Thư.

Tiếp đến, ta đi vào chi tiết Cây đinh thổi lửa:

-Cây đinh

Ta thấy Chi Chi Chành Chành như đã nói ở trên có một khuôn mặt là thái dương, mặt trời Viêm Đế. Theo duy dương ngành nọc, mặt trời thái dương có một khuôn mặt là số 1. Số 1 là mặt trời thấy rõ qua Việt ngữ son (còn son là còn ở một mình), Anh ngữ solo, Tây Ban Nha ngữ solamente, Pháp ngữ seul… (một, một mình) ruột thịt với gốc sol, Pháp ngữ soleil, Anh ngữ sun, Đức ngữ sonn, mặt trời.

Chi Chi chành Chành có một khuôn mặt là thái dương, mặt trời Viêm Đế có một khuôn mặt là số 1, chính là số 1 nằm ở ô giữa hàng ngang dưới cùng trên ma phương 5/15 Lạc Thư. Khuôn mặt số 1 Viêm Đế ứng với một khuôn mặt của Cây đinh.

clip_image013

Lạc Thư Chi Chi Chành Chành: các số dương của Lạc Thư ứng với các Tổ Phụ Việt dòng mặt trời thái dương Viêm Đế ăn khớp với thứ tự bài hát Chi Chi Chành Chành.

-Thổi lửa

Thần mặt trời Viêm Đế ứng với số 1 ‘thổi lửa’ thì lửa đây là Lửa mặt trời, lửa thái dương, ánh sáng mặt trời (lửa mang tính chủ còn thổi mang tính phụ, chỉ có nghĩa là tạo ra lửa). Lửa thái dương ứng với số 7 Càn nằm ở ô giữa cạnh đứng bên phải của hình vuông Lạc Thư.

-Con ngựa

Ở đây ma phương có khuôn mặt Đất dương mang tính chủ nên ngựa có khuôn mặt Li mang tính chủ. Con ngựa ứng với số 5 Li ở tâm hình vuông.

-Chết trương

Chết trương hiểu theo nghĩa nước thái âm thế gian ngành nọc dương là số 9 Chấn nằm ở ô giữa hàng ngang trên cùng.

-Ba vương

Câu chót Ba vương ngũ đế, trước hết ba là số 3 và ngũ là số 5. Ở đây Lạc Thư diễn tả cõi đất thế gian nên khuôn mặt ba vương, vua cõi nhân gian mang tính chủ. Ba vương ứng với số 3 nằm ở ô giữa cạnh đứng bên trái của Lạc Thư.

Thứ đến là ba vương ngũ đế, câu cuối cùng cũng mang một ý nghĩa tổng kết là 3 x 5 = 15, tổng số của các số ở các ô, cạnh, nhánh của Lạc Thư. Ba vương ngũ đế 15 cũng cho biết Càn là Càn thế gian 15 tức Hậu Thiên.

Tóm tắt lại ta thấy bài hát theo thứ tự từ Chi Chi Chành Chành đến ba vương ngũ đế ứng với số 1, 7, 5, 9, 3 là những số dương của hình vuông chuyển động mang dương tính đứng trên một đỉnh (ở số 1) hay là ở trên chữ thập của hai đường chéo của hình vuông chuyển động hay của ma phương. Chữ thập là dấu cộng, dấu dương, phản ứng cộng là phản ứng dương.

Đối chiếu với sử truyền thuyết Việt thì số 1 Viêm Đế đẻ ra số 7 Càn Đế Minh, Đế Minh đẻ ra số 5 Li Kì Dương Vương. Kì Dương Vương đẻ ra số 9 Chấn Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đẻ ra số 3 Đoài vũ trụ Tổ Hùng.

Như thế theo duy dương, Lạc Thư diễn tả một khuôn mặt Dịch Tiên Thiên sử truyền thuyết Việt ở cõi sinh tạo thế gian. Như đã biết ở trên, ta cũng đã thấy Chi Chi Chành Chành có một khuôn mặt diễn tả Tiên Thiên bát quái. Như thế rõ ràng Lạc Thư có một khuôn mặt phối hợp, liên kết với Tiên Thiên bát quái tức Hà Đồ.

Bây giờ nói tới các số âm của ma phương.

Những con số chẵn, âm diễn tả bốn quái âm nằm ở bốn ô ở bốn góc ma phương.

-Số 8 Khôn OOO.

Ở góc dưới, trái (dưới là âm, trái là âm, trái dưới là âm O của âm O tức thái âm OO) là số 8 Khôn OOO (âm thái âm) thế gian tầng 2.

-Số 2 Khảm OIO.

Số 2 nằm ở góc trên, phải, đầu còn lại của đường chéo 8-2. Số 2 là số Khảm OIO tầng 1 cõi trời. Khảm OIO là âm O thiếu âm IO. Như thế đường chéo 8-2 diễn tả sự tương giao âm thái âm Khôn OOO với âm thiếu âm Khảm OIO. Đây là diện tương giao theo tương đồng bản thế mẹ con. Đối chiếu với truyền thuyết Việt là số 8 Khôn mẹ Vụ Tiên tương giao với số 2 Khảm con Long Nữ.

-Số 6 Tốn OII

Số 6 nằm ở góc dưới, phải (dưới là âm, phải là dương; dưới, phải là âm thái dương OII)

Tốn OII là âm O thái dương II, là Nàng O Lửa II, Nàng Thái Dương hay không gian (O) thái dương II tức không gian dương khí gió âm.

-Số 4 Cấn OOI.

Cấn là âm O thiếu dương hay Nàng O Đất OI âm. Số 4 Cấn bắt cặp với số 6 Tốn theo đưòng chéo hình vuông 6-4. Đây là sự tương giao theo diện tương đồng bản thể mẹ con. Đối chiếu với truyền thuyết Việt, mẹ Âu Cơ Tốn tương giao với con gái Cấn Hoàng Hậu Tổ Hùng. Ở đây ta cũng thấy rõ như ban ngày là Cấn bắt cặp với Tốn giống như trong Hậu Thiên bát quái Kì Dương Vương. Lạc Thư và Hậu Thiên bát quái có liên hệ với nhau. Hậu Thiên bát quái Văn Vương cho Cấn bắt cặp với Khôn và Càn bắt cặp với Tốn là hoàn toàn sai lệch. Các nhà Dịch học Hoa Hạ rõ ràng đã lấy Lạc Thư của ai đó nếu không muốn nói là của Việt tộc sửa lại làm ra Hậu Thiên bát quái Văn Vương theo duy dương, theo văn hóa võ biền du mục nên sai lệch.

Gộp các số chẵn và số lẻ lại tạo ra ma phương 5/15 Lạc Thư và ta có một thứ Dịch Lạc Thư truyền thuyết Việt ở cõi sinh tạo thế gian.

clip_image015

Dịch Lạc Thư sử truyền thuyết Việt ở cõi sinh tạo thế gian.

Một điểm quan trọng nữa là ma phương 5/15 Lạc Thư có số trục là số 5 Li, còn tất cả bốn số dương ứng với bốn quái dương là 1-7-9-3 đối nhau ở đầu chữ thập + số dương và bốn số âm ứng với bốn quái âm ở đầu đường chéo chữ X là 6-2-4-8, từng cặp cộng lại đều bằng 10, số Khảm thế gian: 1 + 9 = 10, 7 + 3 = 10 và 6 + 4 = 10 và 2 + 8 = 10. Nói một cách giản dị hơn là tất cả các nhánh có tổng số của 3 số là 15 trừ cho số trục 5 còn lại là 10.

Đây chính là hai con số 5-10 thấy ở trục Hà Đồ Hoa Hạ. Điểm này một lần nữa ta thấy Hà Đồ Hoa Hạ có khuôn mặt Hậu Thiên mang tính trội.

Điểm này cũng cho thấy Dịch Hoa Hạ là Dịch thế gian, nghiêng nhiều về Hậu Thiên, là duy tục như tôi đã nói nhiều lần (ví dụ Khôn hiểu là ‘vi địa’ đất, Đoài chỉ hiểu là ‘vi chằm’, ao hồ, các hào đều mang tính nọc que theo duy dương…).

Tóm lại ở Lạc Thư, các quái dương ăn khớp với thứ tự bài hát một cách tuyệt vời và các quái âm bắt cặp theo tương đồng ruột thịt mẹ con Tốn-Cấn (và Khôn-Khảm) giống như ở Hậu Thiên bát quái có sự tương đồng bản thể mẹ con Tốn-Cấn (và cha con Chấn-Đoài).

Qua bài đồng dao này ta thấy Hậu Thiên bát quái diễn tả theo Lạc Thư.

Một điểm lý thú cũng cần nói thêm nữa là nếu ta nối những số dương theo thứ tự bài hát 1, 7, 5, 9, 3 lại, như đã thấy ở trên, ta có hình một chữ M ở vị thế có dạng hình số 3 nghiêng.

clip_image013[1]

Trong nhiều nên văn hóa cổ, James Churchward tìm thấy một hình ngữ chữ M cổ có một nghĩa là Người.

Ở tháp Xocicalco, Mexico, ông tìm thấy dạng chữ M cổ này giống chữ M cổ có nghĩa là Người của Uighur.

clip_image017

Hàng đầu: số 1, 2, 3 với ẩn nghĩa theo vũ trụ tạo sinh (một sinh hai, hai sinh ba).

Hàng thứ hai: gồm các ký tự có nghĩa là người mang lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương (trong dương có âm hay chỉ chung loài người gồm cả phái nam, nữ), Ngườiclip_image018 trước khi tách ra thành phái nam.

Hàng thứ ba: gồm người thuần dương.

Khi chỉ chung loài người thì dùng chữ M Uighur clip_image020.

Ở đây, theo Dịch, cũng cho thấy rõ con người sinh ra từ nòng O, theo trung tính có nghĩa là hư vô, hư không, theo duy âm là không gian, theo duy dương là mặt trời sinh tạo đĩa tròn, theo nòng nọc, âm dương nhất thể là vũ trụclip_image021. Điểm này giải thích có dạng chữ diễn tả Người có âm, có dương như đã nói ở trên.

Như thế M chỉ Người có hai dạng, Một dạng mang dương tính đầu nhọn diễn tả người nam và một dạng mang âm tính đầu bằng diễn tả người nữ. Theo James Churchward dạng chữ M Uighur clip_image020[1]này tiến hóa từ dạng chữ M naga Mu (có nghĩa là Mụ, Mẹ) mang âm tính như dưới đây:

clip_image022

(nguồn: James Churchward, The Sacred Symbols of Mu).

Cũng theo James Churchward Hán tự Nhân 人 có nguồn gốc từ chữ naga Mu cổ biến dạng. Chữ M số 4 clip_image023 là tiền thân của Hán tự Nhân 人 (Người) (Hán tự Nhân ngày nay cho là do hình vẽ hai chân của con người mà thành !!!, đây là cách hiểu theo duy tục, phàm phu tục tử).

Tóm lại chữ M ngày nay là hậu thân của những chữ M cổ có nghĩa là Người. Và ta thấy chữ M do nối các con số lẻ, dương trong Lạc Thư biểu tượng thế gian, Hậu Thiên, cõi Người, cũng có một nghĩa là Người. Chữ M trong Lạc Thư là do hai nọc mũi mác Ʌ Ʌ ghép lại. Hai nọc mũi mác là hai dương, thái dương, lửa, mặt trời sinh động. Hai nọc mũi mác này ghép lại thành chữ M có hình cặp sừng diễn tả thái dương, mặt trời thấy rõ qua chữ yang (dê) trong giáp cốt văn:

clip_image025

Yáng trong giáp cốt, kim, cổ, triện văn (nguồn: Wang Hongyuan).

Con dê có một khuôn mặt biểu tượng cho thái dương, mặt trời (Mùi Là Con Bùi, Con Bòi).

Do đó M có một nghĩa là Người thái dương, Người ánh sáng, Người mặt trời dòng mặt trời thái dương.

Ta thấy rất rõ con Người M ở cõi thế gian, nhân gian ứng với Lạc Thư biểu tượng Hậu Thiên là con cháu, di duệ của thần mặt trời (Viêm Đế) số 1 và của các vị tổ phụ cùng là dòng mặt trời ứng với các số còn lại. Con Người theo duy dương là con của Thần Mặt Trời.

Điểm này ăn khớp trăm phần trăm với Người Việt.

Như đã biết qua bài Việt Là Gì?, Người Việt là Người Mặt Trời thái dương di duệ của dòng thần mặt trời Viêm Đế.

Việt ngữ Người biến âm với Ngời có nghĩa là Sáng. Người là Ánh Sáng, Con của Ánh Sáng mà một số thổ dân Mỹ châu liên hệ với Việt chúng ta ngày nay họ vẫn còn nhận mình là Children of Light; Người Rìu hay Cò Aztec liên hệ với Việt tộc Rìu, Cò Lang con cháu Hùng Vương, cũng nhận mình là The People of the Sun.

Chúng ta là Man, Mán, Mường có nghĩa là Người (Anh ngữ Man, người, loài người chính là Việt ngữ Man, Mán Mường).

Hiển nhiên chúng là Người, là Ngời là con của Ánh Sáng, là Người Mặt Trời, di duệ của thần mặt trời Viêm Đế. Các từ Man, Mán, Mường khởi đầu bằng chữ M, có âm M có nghĩa là Người, có nguồn gốc có thể từ chữ M trong Lạc Thư hay ruột thịt với chữ M Lạc Thư này.

Chữ M trên Lạc thư nối các số dương ứng với các vị tổ phụ dòng mặt trời có nghĩa là Người chính là nguồn cội nguyên thủy của Man, Mán, Mường, Người thuộc dòng mặt trời thái dương Viêm Đế, Hùng Vương.

Nhìn rộng ra nữa, ta cũng thấy lời cầu nguyện thiêng liêng nhất của Ấn giáo là AUM gồm có ba chữ A, U và M (có khi viết theo duy âm là OAM hay ngắn gọn lại còn OM) cũng có M có nghĩa là Người ở cõi đất thế gian.

clip_image026

Hình dấu AUM

(nguồn: blingcheese.com).

Biểu tượng AUM gồm có:

.Phần trên cùng là hình chấm nọc và vành cung t ở dưới chấm nọc. Nếu nhìn tách riêng ra thì chấm nọc có một nghĩa là nọc, dương, có một khuôn mặt là lửa, mặt trời nguyên tạo. Vòng cong mang âm tính nòng có một khuôn mặt là nòng, mặt trăng khuyết, nước, không gian âm. Đây là  nòng, nọc, âm dương, vũ trụ, càn khôn nguyên tạo. Nhìn chung đây là một biến dạng của chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chấm-vòng tròn clip_image028 mang trọn vẹn nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, có một nghĩa là mặt trời nguyên tạo lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương.

.Hình vòng tròn ở bên phải là nòng O là bầu không gian (nhiều khi phần này diễn tả như một vòng tròn hở diễn tả không gian chuyển động, không gian dương hay diễn tả bằng một dải dây bay trong gió diễn tả không gian dương khí gió).

.Và hình giống số 3 bên trái chính một dạng hình chữ M ở cùng vị thế có dạng số 3 như chữ M trên Lạc Thư với một nghĩa là Người, cõi đất thế gian.

Viết theo AUM là viết theo duy dương, khởi đầu từ A mang tính dương theo chiều ngược kim đồng hồ A-U-M. Viết theo OAM là viết theo duy âm, khởi đầu từ O mang tính âm theo chiều kim đồng hồ O-A-M. Còn chỉ viết gọn OM diễn tả đại vũ trụ O và tiểu vũ trụ M, con người cõi Đất thế gian.

Như thế dấu hình biểu tượng AUM diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh,Tam Thế (Mặt trời, mặt trăng, nòng nọc, âm dương, thái cực, Trứng Vũ Trụ, lưỡng nghi hay mặt trời, không gian khí gió) cả đại vũ trụ tiểu vũ trụ con người, cõi Đất thế gian. Vì vậy mà lời cầu nguyện này là một lời cầu nguyện thiêng liêng nhất, bao trùm muôn ngàn ý nghĩa.

Mặt khác, trong chữ nòng nọc vòng tròn-que chữ A là chữ nọc kết hợp ba nọc que (III) nghĩa là ba dương, Càn có một nghĩa là mặt trời ứng phần chấm nọc của biểu tượng Aum. Chữ U là nòng O thái dương có một nghĩa là Không Gian ngành thái dương (vì thế theo duy âm viết là OAM) ứng với phần vòng tròn và M là do hai mọc mũi mác, như đã nói ở trên, là Người, cõi Đất thế gian ứng với phần chữ M hình số 3 của hình dấu AUM (Mẫu Tự ABC và Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Rõ như ban ngày M có nghĩa là Người, Man, Mán Mường.

Theo duy âm nếu ta nối các số âm ở bốn góc ma phương Lạc Thư ứng với bốn Tổ Mẫu Việt theo chiều âm, chiều kim đồng hồ và khởi đầu từ Tổ Mẫu tối cao Vụ Tiên số 8 cho tới Âu Cơ, mẹ tổ thế gian số 6 tức 8, 4, 2, 6 ta có một chữ M bằng đầu mang âm tính.

clip_image030

Chữ /em/ bằng đầu naga Mu clip_image031 do nối các số âm của Lạc Thư.

Đây chính là chữ Naga Mu clip_image031[1] mà James Churchward đã nói ở trên. Như thế chữ /em/ chỉ cả hai phái của con người, đúng như ở dạng nòng nọc, âm dương nhất thể clip_image018[1] như đã nói ở trên. Chữ M có góc cạnh M chỉ người nam thái dương và chữ clip_image031[2] bằng đầu chỉ người nữ thái dương. Chữ M bằng đầu clip_image031[3] mang âm tính này còn thấy trong các chữ cái linh tự Ai Cập cổ:

clip_image033

Hai chữ M trong linh tự Ai Cập cổ.

Chữ M thứ hai hình con cú có hai sừng. Chim mang dương tính và hai sừng diễn tả thái dương. Đây là dạng chữ M dương thái dương chỉ Người thái dương phái nam.

Kết Luận

Bài đồng giao Chi Chi Chành Chành là trò chơi dùng bàn tay và ngón tay diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Việt Dịch.

Bài đồng dao này có ít nhất hai khuôn mặt Dịch. Nếu tất cả các cặp theo hôn phối vợ chồng ta có Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành Phục Hy Tổ Hùng nguyên thủy với quái Đoài mang tính chủ để cao nhất (khác với Tiên Thiên Bát Quái Hoa Ha có Càn để trên cao nhất). Nếu xắp xếp các quái vừa hôn phối vợ chồng vừa tương đồng ruột thịt mẹ con, cha con cùng ngành ta có một Hậu Thiên bát Quái Chi Chi Chành Chành Kì Dương Vương hay Kì Việt với quái Li để trên cao nhất.

Bài hát cũng diễn tả Lạc Thư và cho thấy Hậu Thiên bát quái nói chung liên hệ mật thiết với Lạc Thư.

Bài hát này là một minh chứng cho thấy chúng ta có Hậu Thiên bát quái Việt hoàn chỉnh ăn khớp với Lạc Thư.

Bài hát diễn tả Hậu Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành Kì Dương Vương hay Kì Việt có Tốn hôn phối mẹ con với Cấn (và Càn hôn phối vợ chồng với Khôn) giống hệt như ở Lạc Thư Tốn hôn phối với Cấn (theo đường chéo 6-4) thay vì Càn bắt cặp với Tốn như ở Hậu Thiên bát quái Văn Vương. Điểm này một lần nữa cho thấy rõ như ban ngày Hậu Thiên bát quái Văn Vương có điểm lủng củng, cọc cạch, vô lý, sai lệch. Như thế Hậu Thiên bát quái Văn Vương sai lệch có thể đã ‘mượn’ Hậu Thiên bát quái Kì Dương Vương rồi sửa đi nên mới ra nông nỗi như vậy.

Như đã biết, bài đồng dao Thằng Bờm cho thấy ta có Tiên Thiên bát quái Phục Hy Thằng Bờm nguyên thủy thế nhân, chúng ta có Hà Đồ Việt nguyên thủy (điều này cũng hiển nhiên thôi vì Phục Hy có đuôi rắn thuộc dòng nòng âm nước Thần Nông Việt). Bài hát này cho thấy ta có Hậu Thiên bát quái Việt hoàn chỉnh hơn Hậu Tiên bát quái Văn Vương của Hoa Hạ và cũng có thể chúng ta có Hậu Thiên bát quái Kì Dương Vương nguyên thủy.

Tổng Kết về Việt Dịch Qua Sử Miệng và Trò Chơi.

Như thế qua các Việt Dịch đồng dao Bồ Nông Bổ Cắt, Đám Ma Cò, Thằng Bờm, Dịch Sử Truyền Thuyết Việt, Dịch Chi Chi Chành Chành của bộ Sử Miệng Việt và Việt Dịch trò chơi dân gian Bầu Cua, ta thấy rõ như dưới ánh sáng mặt trời Việt rạng ngời, chúng ta có Việt Dịch riêng khác với Dịch Hoa Hạ. Việt Dịch hoàn chỉnh hơn còn giữ nòng nọc, âm dương đề huề, dựa trên nguyên lý Chim Rắn, Tiên Rồng trong khi Dịch Hoa Hạ nghiêng nhiều về dương trội. Tiên Thiên bát quái Việt là Tiên Thiên Tổ Hùng có khuôn mặt chủ Đoài vũ trụ đội lốt Thần Nông-Viêm Đế nhất thể, là Tiên Thiên bát quái Phục Hy nguyên thủy trong khi Tiên Thiên bát quái Hoa Hạ theo duy dương ngự trị với khuôn mặt Càn mang tính chủ. Hậu Thiên bát quái Kì Dương Vương có Li Khảm và Càn Khôn hôn phối vợ chồng, Chấn Đoài hôn phối cha con và Tốn-Cấn hôn phối mẹ con trong khi Hậu Thiên bát quái Văn Vương theo duy dương có Càn đi cặp với Tốn theo hôn phối tương đồng bản thể thái dương vì thế cặp Khôn-Cấn cọc cạch, khập khễnh, sai lạc. Hà Đồ Chi Chi Chành Chành là Hà Đồ Vũ Trụ Tạo Sinh còn Hà Đồ Hoa Hạ mang tính trội Hậu Thiên còn khuôn mặt Tiên Thiên mang tính ẩn. Lạc Thư ăn khớp hoàn toàn với sử truyền thuyết Việt và một lần nữa xác thực Man, Mán Mường có nghĩa là Người, là Người Việt Mặt Trời thái dương dòng mặt trời nọc thái dương Viêm Đế.

Dịch Hoa Hạ mang dương tính trội là Dịch muộn ở thời phụ quyền ngự trị. Dịch Hoa Hạ muộn mang tính thế gian, duy tục nghiêng về tính cách dùng vào việc cai trị, vào lý số, bói toán, phong thủy… Chắn chắn Việt Dịch không lấy từ Dịch Hoa Hạ mà chỉ có thể ngược lại.

Vì chúng ta có Việt Dịch riêng mà trong Dịch đồng Đông Sơn còn viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que nên tôi viết Việt Dịch bằng hào dương là nọc que I và hào âm là nòng O (như Dịch Đông Sơn, viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que). Tôi không viết Dịch theo các hào dương là nọc que và hào âm là que đứt đoạn của Dịch Hoa Hạ viết theo dương tính nọc. Chúng ta có Việt Dịch riêng không thể dùng cách viết theo Dịch Hoa Hạ.

Tuy nhiên Việt Dịch qua Sử Miệng, trò chơi dĩ nhiên còn chưa thuyết phục được hoàn toàn vì tính chất thời điểm khai sinh ra các bài hát, sử truyền thuyết, trò chơi, không biết đích xác là vào lúc nào. Có thể chỉ mới cách đây năm bẩy thế kỷ? Ngoài ra còn có nhiều dị bản của các Việt Dịch sử miệng này.

May mắn thay Việt Dịch Sử Miệng này được kiểm chứng, xác thực, hỗ trợ bằng Việt Dịch Đông Sơn đã được khắc trên trống đồng cách đây gần 3.000 năm. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ Việt Dịch đồng bằng hình duy nhất của nhân loại viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que mà tôi đã giải đọc qua hàng ngàn trang sách (tập I và II đã xuất bản, hai quyển sau III và IV, một phần đã đăng trên blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com). Trong các bài tới viết về Việt Dịch Đồng tôi sẽ gom lại thành một số bài Dịch Đồng Đông Sơn tiêu biểu (Đón đọc Việt Dịch Đồng Đông Sơn).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: