VIỆT DỊCH (6): VIỆT DỊCH CHI CHI CHÀNH CHÀNH (Phần 1).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH

(6)

VIỆT DỊCH CHI CHI CHÀNH CHÀNH.

(Phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Trẻ em Việt Nam có một trò chơi ‘bắt ngón tay’. Một em làm chủ xòe bàn tay, còn các em khác để một ngón tay vào tay nhà chủ rồi hát hết bài đồng dao Chi Chi Chành Chành thì nhà cái nắm bàn tay lại bắt thật nhanh các ngón tay nhà con. Ai không mau rút tay ra thì bị bắt. Người bị bắt phải thay thế nhà cái.

Bài đồng dao này có nhiều dị bản. Từ trước tới nay, mỗi tác giả dựa theo một dị bản đã giải thích bài hát này theo một cách khác nhau.

Có tác giả cho rằng bài hát này liên hệ tới lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc.

Theo GS Nguyễn Lân Dũng thì bài hát như sau:

Chi chi chành chành,

Cái đanh thổi lửa,

Con ngựa đứt cương (chết trương)

Ba vương lập đế (ngụ đế; Ba vông thượng đế).

Chấp chế thượng hạ (Cấp kế Thượng Hải).

Ba chạ đi tìm

Ú tim bắt ập (ú tim ù ập).

Và giải thích như sau:

Cái đanh thổi lửa là ’việc ta nổ súng vào đồn Mang Cá -1885’.
Con ngựa đứt cương -chết trương: ‘Vua Tự Đức chết-Hàm Nghi xuất ngoại- Lê Hiển Tông mất năm 1786’.
Ba vương lập đế -ngụ đế- Ba vông thượng đế: ‘Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc-Nước ta chia ba, có 3 Vua là Quang Trung, Thái Đức, Gia Long- Chỉ lá cờ ba sắc của Pháp’.
Chấp chế thượng hạ-Cấp kế Thượng Hải: “trên dưới đều do Tây cai trị-Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện”.
Ba chạ đi tìm: ‘ba làng Hàm Nghi ẩn nấp là Thanh Lạng, Thanh Cộc và Tha Mặc’.
Ú tim bắt ập- Ú tim ù ập: ‘Hàm Nghi bị bắt ngày 2/11/1788- Ta không ngờ mà mất nước’.

(http://diendan.lyhocdongphuong.org. Việt Nam/baiviet19377-gs-nguyen-lan-dung-giai-ma-bai-chi-chi-chanh-chanh/).

Còn vài người khác cho rằng bài hát này liên hệ tới Dịch. Theo tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh, trong quyển Minh Triết Việt Trong Văn Minh Đông Phương, thì:

Bài đồng dao “Chi chi, chành chành” của trẻ em Việt qua bao thế hệ của nền văn hóa truyền thống Việt, có nội dung như sau:
Chi chi, chành chành.

Cái đinh (đanh) thổi lửa.
Con ngựa chết trương.
Ba Vương Ngũ Đế.
Bắt dế đi tìm.
Ù à! Ù ập.

Bài đồng dao có 6 câu tương ứng với 6 hào của quẻ Dịch bất kỳ trong hệ thống 64 quẻ. Nếu chúng ta tính thứ tự từ dưới lên theo đúng cách tính thứ tự sáu hào của quẻ Dịch, thì chúng ta sẽ được một thứ tự từ dưới lên như sau:

clip_image001


Số 6/ Hào thượng – Chi chi chành chành.
‘Chi chi chành chành = Chi: cái gì? Chi chi: nhiều việc khó hiểu cần hỏi; Chành: rành, chành chành: rành rành, sự rõ ràng’.
Số 5/ Hào ngũ – Cái Đinh (Đanh) thổi lửa.
‘Cái đanh (Đinh) thổi lửa = Cái: giống cái thuộc Âm; Đanh trong tiếng Việt còn gọi là Đinh: Đinh đóng làm bằng kim loại, đồng âm với Đinh trong thập Thiên can; Cái Đinh: Âm Kim – vị trí của thiên can Đinh, độ số 4 trên Hà đồ. Thổi: Gió – Quái Tốn; Hỏa: Lửa – Ly’,
Số 4/ Hào tứ – Con ngựa chết trương .
‘Con ngựa chết trương = Con ngựa: Ngọ, tương ứng với Ly – Hỏa; chết trương: sự khẳng định chết trong nước; nước: Khảm – Thủy’.
Số 3/ Hào tam – Ba Vương Ngũ Đế .
‘Ba Vương, ngũ Đế = 3 x 5= 15 là tổng độ số của ma trận Lạc thư khi cộng theo chiều ngang, dọc, chéo’.

Số 2/ Hào nhị – Bắt Dế đi tìm .
‘Bắt Dế (hay Dê) đi tìm = Không thể tìm thấy một cái gì đó’.

Số 1/ Hào sơ – Ù à ù ập.
‘Ù à ù ập = giống như câu: Ú a ú ớ thể hiện sự bế tắc khi không trả lời được một vấn đề gì đó’.

…..

Ông cho rằng ‘Hà Đồ phối Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việtcũng đã ghi dấu ấn truyền tải trong một bài đồng dao bí ẩn của văn hóa truyền thống Việt. Đó là bài đồng dao Chi Chi Chành Chành… (xem thêm trong http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/32172-minh-triet-viet-chi-chi-chanh-chanh/).

Một tác giả tên phapvan đã giải mã lại và kết quả cũng cho ra Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc (Phụ lục 2, Trần Quang Bình, Kinh Dịch Sản Phẩm Sáng tạo của Nền Văn Hiến Âu Lạc).

Tôi cũng nhìn bài hát đồng dao này theo Dịch.

Vì sao? Bài hát này có vẻ ngô nghê, vô nghĩa chẳng câu nào có nghĩa ăn khớp với nghĩa câu nào như lời trẻ con. Bài hát có vẻ nói nhăng nói cuội, bá láp bá xàm như lời của một người bị bệnh tâm thần. Bài hát có vẻ cao thâm như một bài sấm truyền, một kỳ ngôn, thánh thư của một thánh sư… Vì thế chỉ có một cách giải nghĩa theo Dịch mới diễn… dịch được! Thật vậy, đây là trò chơi bỏ một ngón tay vào lòng bàn tay rồi bắt lại. Ngón tay mang hình ảnh Nọc (dương). Bàn tay mang hình ảnh cái bao, cái bọc là Nòng (âm) như thấy trong ‘oản tù tì’ (‘one, two, three’) xoè bàn tay ra là cái bao bọc lấy nắm tay là cây búa. Đây là trò chơi Nòng Nọc âm dương, là trò chơi Dịch. Phải dùng Dịch giải nghĩa bài hát này. Mỗi từ trong bài hát này phải được nhìn dưới lăng kính Dịch phải hiểu nghĩa ở mọi tầng lớp của Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch.

Sau đây là dị bản tôi thường hát hồi nhỏ:

Chi chi, chành chành.
Cái đinh (đanh) thổi lửa.
Con ngựa chết trương.
Ba Vương Ngũ Đế.
Cấp kế đi tìm.
Ú tim, ù ập.

Câu đầu:

.Chi chi chành chành.

Theo nghĩa đen của trò chơi, Chi chi là hai từ Hán Việt, diễn nghĩa lại bằng hai từ nôm chành chành.

Hán Việt chi 支 có nghĩa là tay chân như tứ chi. Gốc Hy Lạp chiro-, tay như chiromancer, thầy bói coi tay, chiropractice, chữa bệnh bằng tay, thủ thuật, thủ trị. Ta có chi- = chi. Chi vừa chỉ tay và chân giống Việt ngữ cẳng cũng vừa chỉ tay và chân như cẳng tay, cẳng chân, ‘thượng cẳng tay, hạ cẳng chân’. Cẳng rõ ràng biến âm với cành, chành. Theo c=h như cùi hủi, ta có cẳng = cành = chành = Anh ngữ hand.

Như vậy chi (tay) = gốc Hy Lạp chi- (tay) = cẳng (tay) = cành = chành [chi cũng có nghĩa là cành, chành, nhánh, ngành (cây, trong cây gia phả chi là nhánh của một cây đại tộc như chi tộc)] = hand (tay). Việt ngữ cành biến âm với Hán Việt can, Anh ngữ cane, Pháp ngữ canne là nọc, cọc, gậy = hand, tay.

Tay có các động tác mở ra, đóng lại, chìa ra, thụt lại, cầm, nắm, giữ (chi cũng có nghĩa cầm, giữ, Thiều Chử Từ Điển), bắt, chộp, vồ… dùng trong trò chơi này. Chỉ, ngón tay, biến âm với chi tay (hàm nghĩa phần đâm ra từ bàn tay như những nhánh con).

Vì đây là trò chơi dùng tới bàn tay và ngón tay nên chi, cẳng, cành, chành có nghĩa đen là tay, ngón tay. Chi chi, chành chành là ngón tay các nhà con để vào lòng bàn tay nhà cái.

Tóm lại Chi Chi, Chành Chành hiểu theo nghĩa đen của trò chơi là ngón tay và bàn tay. Như đã nói ở trên nhìn dưới lăng kính Dịch ngón tay là Nọc dương và bàn tay là cái bao, cái bọc là Nòng, âm. Một trò chơi về Dịch.

Nếu hiểu Chi Chi hay Chành Chành là nọc nọc tức hai nọc, hai dương là lửa, thái dương, mặt trời thì bài hát này diễn tả Dịch mang tính thái dương của ngành mặt trời Viêm Đế ứng với Tổ Hùng mặt trời.

Vì thế mà khuôn mặt chủ chốt của bài hát là Cây đinh.

Cái đinh (đanh) thổi lửa.

.Nhìn riêng rẽ thì câu này gồm ba phần Cái đinh, Thổi Lửa.

-Cái Đinh

Trọng điểm, chủ chốt, ‘cái đinh’của bài hát này là Cái đinh. Phải đập đúng vào đầu cây đinh ‘to hit the nail on the head’, phải đập đúng chỗ, tìm đúng những nghĩa của từ đinh.

Đinh là vật nhọn làm bằng kim khí mang hình ảnh cây que nhọn mang dương tính nọc que. Đinh có một nghĩa là con trai, nam như tráng đinh, thành đinh, độc đinh…

Cái đinh chính là Gò, Núi, Trụ Nguyên Khởi mang trọn nghĩa của Nọc, dương. Chữ nọc que (I) trong chữ nòng nọc vòng tròn-que có nghĩa là cọc, bộ phận sinh dục nam, nọc, đực, dương, lửa, núi trụ, đất dương, mặt trời, trục thế giới… tầng sinh tạo lưỡng cực, lưỡng nghi.

Đinh là Nọc Que (I). Tùy trường hợp ta chọn lấy một nghĩa thích ứng của Nọc Đinh.

Về hình dạng thì đinh có hình dáng chữ T, Hán tự đinh 丁cũng có hình chữ T. Chữ T trong chữ nòng nọc vòng tròn-que diễn tả Gò Núi Nguyên Khởi (bao gồm cả nghĩa Trục Vũ Trụ trong Núi Nguyên Khởi và Núi Trụ Nguyên khởi, cũng có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ) nhô lên từ biển vũ trụ thấy trong nhiều nền văn hóa thế giới.

.T với nghĩa Gò Đống Nguyên Khởi (primeval mound), Núi Vũ Trụ Núi Trụ Thế Gian.

-Maya Đông Á cổ Theo James Churchward, sự khai sinh ra con người đầu tiên ở vùng đất tổ Mu ở vùng Đông Nam Á, khởi sự từ Gò Đất Nguyên Khởi hình chữ T nhô lên từ Biển Vũ Trụ tạo ra Núi Trụ Thế Gian. Rồi trên gò đất nguyên khởi nẩy sinh ra cây cỏ, muông thú và con người đầu tiên có cốt là con hươu sừng Keh (Keh là ngôn ngữ Đông Á cổ mà ông gọi là Maya-Naga ngữ, một thứ ngôn ngữ tiền Phạn có nghĩa là con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân gian) (Children of Mu).

clip_image002

Hươu Keh, con Người Đầu Tiên trên quả đất (James Churchward).

Keh chính là Việt ngữ Kẻ có nghĩa là nọc que thẳng (như thước kẻ), kì (cổ ngữ của cây), người như Kẻ Chợ (kẻ là người thuộc ngành nọc dương Kì, núi, ngành nọc dương nhánh Kì Dương Vương).

Hươu Keh là Việt ngữ Hươu Kì, với Kẻ chính là Kì (Dương Vương), vua tổ Xích Quỉ và cũng là người đầu tiên của nhân loại có cốt là con Cọc (nọc, que, ke, kẻ), tức hươu sừng nên Kì Dương Vương mới có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực, hươu nọc, hươu sừng) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

.T với nghĩa trụ, trục thế giới.

Chữ T mang hình ảnh Trục Thế Giới trong Núi Trụ Thế Gian vì thế các bàn thờ dâng cúng lễ vật tới tam thế thường có hình hay có thiết diện hình chữ T ví dụ như chiếc bàn Thiên của người Việt để cúng trời đất Tam Thế mang hình ảnh của một Trục Thế Giới. Chiếc bàn thờ dâng vật hiến tế có hình chữ T cũng thấy trong Hán ngữ Shì (thị) ở dạng giáp cốt văn có nghĩa là bầy tỏ, tỏ rõ (tỏ lòng biết ơn tới Tam Thế).

clip_image003

Hán ngữ shì (thị) (Wang Hongyuan.)

Chữ Shì nguyên thủy có hình bàn thờ hình chữ T diễn tả Trục Thế Giới.

Trong mộ bà Tân Truy (Xin Zhui) thường gọi là ‘Lady Dai’ ở Mã Vương Đồi, Chàng Sa, Hồ Nam, thời Tây Hán (168 Trước Dương Lịch), có một tấm phướn lụa đám ma hình chữ T diễn tả Tam Thế và Trục Thế Giới dùng để hướng dẫn hồn bà về Thượng Thế kèm theo để dâng cúng lời cầu nguyện và lễ vật tới Tam Thế.

clip_image005

Phướn lụa trong mộ bà Tân Truy ở Mã Vương Đồi, Chàng Sa, Hồ Nam (ảnh của tác giả chụp ở Bảo Tàng Viện Chàng Sa).

clip_image007

Hình của David Buck vẽ chi tiết tấm phướn đám ma hình chữ T diễn tả Tam Thế có Trục Thế Giới để hướng dẫn hồn bà Tân Truy về Thượng Thế ở trong ngôi mộ cổ ở Mã Vương Đồi, Changsha (Chàng Sa) ( Fagan, copied from Changsha Mawangdui Yihao Hanmu 1973).

Phần trên cao nhất của nhánh ngang chữ T diễn tả cõi trên Thượng Thế.

Ở đây, ở góc trên bên trái (tức phía âm) có hình mặt trăng lưỡi liềm trên có con cóc thiềm thừ. Bên phải (tức phía dương) có mặt trời mang âm tính có hình đĩa tròn đỏ trong có con quạ đen (mặt trời mang âm tính vì liện hệ với cõi âm). Trăng trời diễn tả nòng nọc, âm dương. Có Nữ Oa (ngồi trong con rắn) và Hậu Nghệ. Ngoài ra còn có chim hạc của Đạo giáo (Daoism) biểu tượng cho bất tử, hằng cửu…

Phần giữa (phần trên của nhánh thẳng đứng) diễn tả cõi giữa Trung Thế.

Ở đây, giữa Thượng Thế và Trung Thế có các thiên sứ gởi xuống cõi trần để đưa Bà Tân Truy về cõi trên.

Ở dưới là gia đình của bà Tân Truy dâng lễ vật để giúp bà về cõi trên.

Phần đáy của nhánh thẳng đứng là cõi âm Hạ Thế.

Cõi âm được diễn tả bằng hai con rắn biển khổng lồ quấn vào nhau.

.T với nghĩa Cây Vũ Trụ.

-Maya Trung Mỹ

Cây Vũ Trụ Maya thường có hình chữ Tau (T) cũng dùng như một trục thế giới để dâng cúng lễ vật.

James Churchward giải thích Cây Vũ Trụ Tau của Maya trong The Lost Continent of Mu dưới đây:

clip_image009

Cây Vũ Trụ Tau trong một thủ ký Maya.

Hình Tau (T) là một biểu tượng phổ quát. Nó thấy trong chữ viết của Ấn Độ, Trung Hoa, Chaldeans, Incas, Quichés, Ai Cập cổ và các chủng tộc người khác. Nó giữ một phần quan trọng trong tôn giáo. Các bàn thờ trong các đền đài, trên đó dâng lễ vật hoa quả, được xây dựng theo hình chữ Tau (James Churchward, The Lost Continent of Mu).

-Cây Vũ Trụ của Ai Cập cổ cũng thấy dưới dạng hình chữ T. Hiển nhiên trong cây này có Trục Thế Giới hình chữ T.

clip_image011

Cây vũ trụ hình chữ T của Ai Cập cổ.

(xem Gương Đồng phần Giải Đọc Gương Đồng LTV).

Tóm tắt lại chữ Đinh hình chữ T mang trọn nghĩa của chữ Nọc que (nọc, cọc, bộ phận sinh dục nam, dương, mặt trời, Gò Núi Nguyên Khởi, Núi Vũ Trụ, Núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời, Trục Thế Giời, Núi tháp, núi lửa, đất dương, đất lửa, Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống… về phía nọc dương). Tùy trường hợp ta chọn một nghĩa thích ứng.

-Thổi

Hiển nhiên thổi liên hệ với khí gió. Theo duy âm là Tốn (số 6) gió âm và theo duy dương là Đoài vũ trụ (số 3) khí gió dương (Đoài được cho là ở hướng Tây, ‘Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông’ và ứng với hành Kim khí gió). Thổi là động từ diễn tả một động tác mang tính động nghĩa là dương nên Đoài gió dương mang tính trội so với Tốn gió âm. Điểm này dễ hiểu vì Cây đinh ở đây mang dương tính có một khuôn mặt chủ.

-Lửa

Lửa có hai khuôn mặt: một là lửa thái dương là lửa vũ trụ, lửa mặt trời Càn lửa thiếu dương là lửa đất Li.

Lửa ở đây nghiêng về Lửa vũ trụ, lửa mặt trời, ánh sáng mặt trời Càn vì Cây đinh có một khuôn mặt là mặt trời thổi ra ánh sáng mặt trời (xem dưới).

.Nhìn tổng thể thì ‘Cái đinh thổi lửa’ là cây que làm ra lửa mang hình ảnh cây diêm, que diêm.

Đây chính là hình ảnh của Nọc dương, Nọc Lửa với tất cả các nghĩa ở trên. Nọc có một khuôn mặt cực dương ứng với Trụ của vũ trụ tức mặt trời.

Nhìn dưới diện sử truyền thuyết Việt thì Thần tổ tối cao của chúng ta phía ngành nọc dương là Viêm Đế. Viêm là nóng, lửa, Đế là trụ, que chống đỡ (như đế hoa). Viêm Đế là Que Diêm, Nọc Lửa (theo v=d như vắng = dắng, người Nam nói v=d như về = dề, ta có Viêm = Diêm).

Đối chiếu với Ấn giáo thì Viêm ĐếThần Nông nhất thể ứng vị thần tổ lưỡng tính phái Brahma. Ở tầng lưỡng nghi Brahma tách ra thành Shiva và Vishnu. Viêm Đế ứng với Shiva và Thần Nông thái dương ứng với Vishnu (Lưu ý Vishnu là một người nam nên cùng ngành thái dương với Shiva nên Thần Nông nói ở đây là Thần Nông cùng ngành thái dương với Viêm Đế). Shiva có một khuôn mặt là Trụ Lửa (Pillar of Fire) giống Viêm Đế có một khuôn mặt cây Que Diêm, Nọc Lửa. Cái đinh thổi lửa chính là ‘pilar of Fire’. Shiva có khuôn mặt Núi Trụ thế gian Meru và cũng có khuôn mặt là thần mặt trời.

Rõ như ban ngày Cái đinh thổi lửa nhìn chung diễn tả thần mặt trời Viêm Đế Que Diêm, Que Lửa Cây đinh thổi lửa là chuyện tất nhiên.

Như thế nhìn tổng quát, Cây đinh thổi lửa là Que Diêm là Viêm Đế mang khuôn mặt thái dương. Dịch ở bài hát này có một khuôn mặt thái dương thuộc ngành mặt trời Viêm Đế Cây đinh này.

.Con ngựa chết trương.

Nhìn riêng rẽ ta có Ngựa và chết trương.

-Ngựa

Ngựa là loài thú bốn chân sống trên mặt đất có một khuôn mặt tổng quát biểu tượng cho đất tức Li. Tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh ở trên cũng giải thích Ngọ ứng với Li.

Tuy nhiên, thú biểu của đất Li thường là một con thú bốn chân sống trên mặt đất có cặp sừng biểu tượng cho lửa đất Li như Hươu Sừng biểu tượng cho Li Kì Dương Vương Lộc Tục (Kì Dương = Cọc Đực = Hươu Đực, Hươu Sừng; Lộc Tục = Hươu Đục = Hươu Nọc), bò sừng Nandi biểu tượng cho khuôn mặt thần đất của Shiva, Dê Sừng biểu tượng của thần mặt trời Ram, một khuôn mặt của Thần Đất Tatenen Ai Cập cổ (Richard H. Wilkinson, Reading Egyptian Art). Con ngựa không có sừng mang âm tính và lại chết cũng mang âm tính nên có thêm khuôn mặt biểu tượng cho đất âm Cấn.

-Chết trương

Chết trương là chết dưới nước trương phình lên.

Chết dưới nước diễn tả tượng Nước. Nước có hai khuôn mặt là nước thái âm và nước thiếu âm. Nước vũ trụ là nước thái âm. Theo duy âm là nước âm (O) thái âm (OO) là Khôn (Vụ Tiên Khôn OOO là Nàng O Nước thái âm OO). Theo duy dương là nước dương (I) thái âm OO tức IOO Chấn (Lạc Long Quân Chấn IOO là Chàng I nước thái âm OO). Nước trời thế gian là nước O thiếu âm IO tức OIO, Khảm (Long Nữ).

Như thế Chết trương là nước có ba khuôn mặt theo duy dương là Chấn, theo duy âm là Khôn, Khảm. Với từ chết mang tính tối âm. Cõi chết là cõi âm nên Chấn chết trương mang tính trội. Điểm này cũng dễ hiểu vì Cây đinh mang dương tính là khuôn mặt chủ chốt ở đây.

Nhìn theo nước thiếu âm cõi trời Khảm thì con ngựa Li ứng với Kì Dương Vương chết trương Khảm Long Nữ lưỡng hợp nòng nọc, âm dương cõi tiểu vũ trụ, cõi sinh tạo thế gian. Ta có lưỡng nghi thế gian.

Tóm lại nhìn riêng rẽ Con ngựa chết trương thì con ngựa diễn tả Li, Cấn, chết trương diễn tả Chấn, Khôn, Khảm.

.Nhìn tổng thể thì Con ngựa chết trương có thể có nghĩa là con ngựa ở dưới nước bị chết trương (xem dưới).

Tóm lại hai câu:

Cây đinh thổi lửa,

Con ngựa chết trương.

Có câu Cái đinh thổi lửa diễn tả Nọc Nguyên Khởi, Gò, Núi Nguyên Khởi, cực dương, Trụ của Vũ Trụ, Mặt Trời, Cây Vũ Trụ thổi khí gió dương Đoài vũ trụ, gió âm Tốn ra lửa là lửa vũ trụ Càn. Câu Con ngựa chết trương diễn tả Li, Cấn, Chấn, Khôn, Khảm.

Ta có Cây đinh, Nọc Nguyên Khởi, Mặt Trời, Cực dương, Trụ của Vũ Trụ sinh ra tứ tượng dương Đoài (thổi) Càn (lửa) Li (ngựa) Chấn (khuôn mặt dương thái âm của Nước chết trương) và tứ tượng âm là Cấn (khuôn mặt âm của ngựa), Khôn (khuôn mặt âm thái âm của Nước chết trương), Khảm (khuôn mặt âm thiếu âm của Nước chết trương), Tốn (khuôn mặt âm của thổi).

Tứ tượng dương và tứ tượng âm này liên tác cho ra cho ra Dịch Chi Chi Chành Chành.

Tứ tượng dương và tứ tượng âm cộng lại là 8 tượng ứng với 8 vị thần tổ ở cõi sinh tạo trong Vũ Trụ Tạo Sinh, trong sử truyền thuyết ứng với Ngũ đế tam vương.

Ba vương ngũ đế.

Thật ra đúng theo thứ tự trong Vũ Trụ Tạo Sinh phải viết là Ngũ đế, ba vương nhưng ở đây viết ngược lại để vương bắt vần với trương ở câu trên.

Trong bài Việt Dịch Sử Truyền Thuyết ta đã biết Ngũ đế là 5 đấng sinh tạo mang tính tạo hóa và Ba vương là ba vị vua ở ba cõi thế gian. Trong sử truyền thuyết Việt thì bốn tổ phụ, con của bốn Đế, là Chàng (I) Lửa thái dương (II) Đế Minh Càn III, Chàng (I) Đất thiếu dương (OI) Kì Dương Vương Li IOI; Chàng (I) Nước thái âm (OO) Lạc Long Quân Chấn IOO và Chàng (I) Gió thiếu âm (IO) Tổ Hùng Đoài bầu trời, khí gió, IIO.

Ta thấy ở tầng nhân gian, ta có bốn vị Tổ phụ, vị đứng đầu còn mang tước vị Đế là Đế Minh. Đế Minh là cái gạch nối của Đế và Vương, của cõi sinh tạo tạo hóa và sinh tạo thế gian. Đế Minh có hai khuôn mặt. Khuôn mặt thứ nhất Đế coi như thuộc cõi tạo hóa đội lốt Viêm Đế, là con của Đế Viêm là một vị thần mang tính biểu trưng (deus otiosus), hoàn toàn mang tính truyền thuyết. Khuôn mặt thứ hai là một vị thần tổ có cốt là tượng lửa thái dương, trưởng ngành nọc lửa thái dương.

Còn lại ba vị tổ phụ là ba vương có hai khuôn mặt là thần thoại và lịch sử.

Như thế ta có ngũ đế, tam vương.

Tóm lại tổng cộng chỉ tính ở cõi thế gian như trong bài hát này thì ta có ngũ đế là Đế Viêm, Đế Đế, Đế Thần, Đế Nông và Đế Minh và tam vương là Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương.

Bốn Đế cõi tứ tượng sinh ra bốn Tổ phụ Việt ứng với bốn quái ba vạch dương Càn, Li, Chấn, Đoài vũ trụ. Bốn Tổ phụ này hôn phối với bốn Tổ mẫu Vụ Tiên (Khôn), Long Nữ (Khảm), Âu Cơ (Tốn) và Hoàng Hậu Tổ Hùng (Cấn). Ta có tám quẻ ba vạch hay bát quái, Việt Dịch Sử Truyền Thuyết.

Hai câu chót:

Cấp kế đi tìm,

Ú tim, ù ập.

Theo trò chơi này thì Cấp kế đi tìm là cấp tốc tìm kế, tìm cách đi tìm (bắt). Ú tim là trốn và bắt như trò chơi ú tim. Ù ập là nắm bàn tay lại thật nhanh ập bắt (ù là nhanh như ù lênnhanh lên, ập là nắm bàn tay lại).

Theo nghĩa đen, hai câu có nghĩa là (ta) cấp tốc tìm bắt (ngón tay), (hãy rút ngón tay) trốn đi, (kẻo không thì bị) ập bắt ngay.

Nhìn theo Dịch, như đã nói ở trên, bài hát này là bài hát ngón tay bỏ vào lòng bàn tay, là bài hát Nòng Nọc, âm dương thì có nghĩa là nòng nọc, âm dương tìm bắt nhau, đuổi nhau để bắt được cho giao hòa, giao hợp nhau. Nếu âm bắt được dương, giao hợp với nhau thì vũ trụ trời đất muôn vật, muôn sinh bắt đầu. Chi Chi Chành Chành chấm dứt mà là khởi đầu lại.

Tóm tắt lại:

Bài hát này có nghĩa như sau (Ngành) Nọc  dương  (Chi Chi= nọc nọc) thái dương (Chành Chành = nọc nọc) có thần mặt trời Viêm Đế (Cái đinh) sinh ra 8 đấng sinh tạo nam/nữ  ứng với tứ tượng dương/âm là Đoài/Tốn (thổi) Càn (lửa), Li/Cấn (ngựa), Chấn, Khôn, Khảm (chết trương).  Tám đấng sinh tạo này sinh ra tám vị thần tổ truyền thuyết (Ba vương ngũ đế).

Tứ tượng dương và âm giao hòa sinh ra Vũ Trụ, vạn vật, muôn sinh chia ra Tam Thế, có tám vị thần tổ Ngũ đế tam vương. Vũ Trụ, Tam Thế được biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế. Đây chính là Cây đinh với khuôn mặt Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế hình chữ T đã nói ở trên.

Rõ như ‘con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua’ là bài hát này diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ Luận, Vũ Trụ Giáo và Dịch.

Xin nhắc lại, như đã nói ở trên, Cây đinh có một khuôn mặt mang hình ảnh Mặt Trời, Núi Vũ Trụ, Cây Vũ Trụ vì thế bài hát Chi Chi Chành Chành có đủ các khuôn mặt Dịch của Tam Thế, ít nhất là hai loại Dịch liên hệ với Tiên Thiên Bát quái và Hậu Thiên bát quái và với Hà Đồ, Lạc Thư.

Việt Dịch Chi Chi Chành Chành và Tiên Thiên Bát Quái.

Theo duy dương, nhìn theo diện sáng thế cõi tạo hóa tức theo Tiên Thiên thì như đã nói ở trên câu Cái đinh thổi lửa với cây đinh là nọc Lửa ứng với cực dương ở cõi lưỡng nghi. Khuôn mặt Li Càn của Cái đinh mang tính sinh tạo thuộc về cõi tạo hóa. Càn này là mặt trời ứng với Viêm Đế chỉ diễn tả bằng một nọc que ( I) như Cây đinh trong chữ nòng nọc vòng tròn-que ở tầng lưỡng nghi  ứng với cực dương.

Ở đây, ở cõi tứ tượng ta phải lấy Càn là ánh sáng mặt trời ứng với Đế Minh . Đế Ánh Sáng diễn tả bằng ba vạch que, quái Càn III.

Như thế ta đặt Cái đinh qua một bên vì cái đinh có một khuôn mặt biểu tượng cho thần mặt trời Viêm Đế với khuôn mặt biểu trưng (deus otiosus).

Chỉ còn lại ‘thổi lửa’ diễn tả thổi Đoài IIO và lửa vũ trụ, ánh sáng Càn III. Con ngựa chết trương diễn tả Li Chấn. Bốn tượng dương này hôn phối với bốn tượng âm theo vợ chồng như trong Tiên Thiên bái quái Phục Hy, viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que và theo chiều dương, ta có một loại Tiên Thiên bát quái kiểu Phục Hy là Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành:

clip_image013

Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chi Chành Chành Tổ Hùng Tạo Hóa-Phục Hy nguyên thủy ngành mặt trời Viêm Đế  Cây đinh..

Nếu ta hoán đổi vị trí Tốn/Cấn ta có một loại Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành thứ 2.

Hai loại Dịch đồ này đọc theo chiều dương ngược kim đồng hồ, đối chiếu với sử truyền thuyết Việt ta có Đoài Tổ Hùng có khuôn mặt sinh tạo ở cõi tạo hóa ứng với Đế Nông (một khôn mặt Khôn dương của Thần Nông). Nói một cách khác Tổ Hùng tạo hóa chính là Đế Nông ở cõi tạo hóa. Tôi gọi là Tổ Hùng tạo hóa.

Lưu Ý

Tôi đã nhiều lần nhắc nhở là cần phải phân biệt Tổ Hùng với Hùng Vương. Tổ Hùng tạo hóa, truyền thuyết, có khuôn mặt từ Thần Nông-Viêm Đế (Ở đây theo ngành nòng âm có khuôn mặt là Đế Nông) và Hùng Vương là các vị vua lịch sử có vị tổ là Thái Tổ Hùng Vương. Đền thờ Tổ Hùng phải thờ Tổ Hùng Tạo Hóa của cả hai ngành nòng nọc, âm dương ứng với Thần Nông-Viêm Đế).

Tổ Hùng tạo hóa tiếp đến là Càn Đế Minh, đến Kì Dương Vương và Lạc Long Quân. Ta có Tổ Hùng ở cõi tạo hóa sinh ra Càn Đế Minh Ánh Sáng. Đế Minh sinh ra Kì Dương Vương và Kì Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân. Thứ tự hoàn toàn ăn khớp với sử truyền thuyết Việt. Ta có Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành Tổ Hùng Tạo Hóa ngành Cây đinh Viêm Đế mặt trời thái dương .

Bây giờ so sánh với Tiên Thiên bát quái Phục Hy Hoa Hạ. Ta chỉ thấy Đoài và Càn đổi chỗ cho nhau còn lại giống nhau. Hoa Hạ võ biền, du mục theo duy dương ngự trị nên để Càn trên hết. Chúng ta là con cháu Thần Nông, Đế Nông, Tổ Hùng, Hùng Vương nên để Đoài trên hết.

Vả lại Tổ Hùng, Hùng Vương và Phục Hy có cùng mạng Đoài. Phục Hy có nghĩa là cái ‘Bụng Hí’, cái ‘Bọng Hí’. Phục Hy cũng có hiệu là Bào Hy. Bào Hy cũng là Bao Hí. Bọng Hí, Bao Hí có nghĩa là bọc khí có khí thoát ra qua một miệng nhỏ tạo ra tiếng hí, tiếng rít, tức là khí gió mang dương tính, tức là Đoài khí gió dương. Phục Hy có mạng khí gió Đoài vũ trụ như Tổ Hùng (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Trong bài Việt Dịch Sử Truyền Thuyết, ta đã biết, truyền thuyết Ngũ Đế bao gồm cả Hoàng Đế của Hoa Hạ là “Đế Thiên (Phục Hy), Đế Thích (Thần Nông), Đế Khôi (Viêm Đế), Đế Tiết (Hoàng Đế), Đế Thức (Thần Đế). Phục Hy có đuôi rắn thuộc dòng Thần Nông, có mạng gió (túi gió dương hí Phục Hy, Bào Hy) thì đương nhiên Đế Thiên tức Đế Trời (Trời hiểu theo nghĩa bầu vũ trụ, bầu trời, bầu không gian, khi gió) tương ứng với Đế Nông, Tổ Hùng tạo hóa. Ở đây ta cũng thấy Đế Nông và Tổ Hùng tạo hóa là một. Ta có Đế Nông = Tổ Hùng tạo hóa = Đế Thiên = Phục Hy = Đoài khí gió.

Phục Hy Đế Thiên, Đế Nông, Tổ Hùng tạo hóa có mạng Gió Đoài thì quái Đoài phải để trên hết. Hoa Hạ đã hoán vị Càn lên trên theo bản tính võ biền du mục theo dương ngự trị.

Như thế Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành Tổ Hùng tạo hóa chính là Tiên Thiên bát quái Phục Hy đích thực chính gốc.

Bài hát này là một cây chìa khóa vàng giúp mở ra được một kho báu Việt Dịch, tìm được Tiên Thiên bát quái Phục Hy nguyên thủy chính gốc và cho biết đó là của Việt Nam đã mất.

Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Tổ Hùng tạo hóa = Tiên Thiên bát quái Phục Hy chính gốc.

Sự khác biệt giữa Tiên Thiên bát quái Phục Hy Tổ Hùng tạo hóa chính gốc với Tiên Thiên bát quái Hoa Hạ là sự hoán vị của hai quái Đoài Càn.

Đây là một Eureka về Việt Dịch.

So Sánh với Dịch Thằng Bờm.

Ta đã biết Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Thằng Bờm Hồng Lạc chính là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nguyên thủy, được xác thực và hỗ trợ bởi Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Cửu Thần Ai Cập cổ. Tuy nhiên Thằng Bờm có khuôn mặt con người nhân gian có mạng gió Đoài (Bờm = Gió, Quạt Mo biểu tượng cho gió) có DNA cùng với Tổ Hùng. Ở đây Tổ Hùng có khuôn mặt tạo hóa. Với khuôn mặt tạo hóa của Tổ Hùng có cùng bản mạng Đoài vũ trụ với Phục Hy, với vai vế ngang hàng với Phục Hy ở cõi tạo hóa thì Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành Tổ Hùng chính là Tiên Thiên bát quái Phục Hy nguyên thủy, đúng nghĩa hơn. Dịch thằng Bờm là Tiên Thiên bát quái Phục Hy nguyên thủy mang tính nhân gian còn Dịch Chi Chi Chành Chành Tổ Hùng có Tiên Thiên bát quái Phục Hy nguyên thủy mang tính tạo hoá.

Cả hai bổ túc cho nhau và xác thực là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nguyên thủy là Tiên Thiên bát quái Tổ Hùng, là của Việt tộc, con cháu Tổ Hùng, Hùng Vương. Hoa Hạ đã lấy Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy này sửa đổi vị trí của quái Đoài, Càn thành Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ cho thích hợp với bản tính dương ngự trị, dương thống trị của xã hội phụ quyền cực đoan du mục, võ biền.

So Sánh với Dịch  Cửu Thần Ennead của Ai Cập cổ.

Trong bài viết về Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Ai Cập cổ và bài Dịch Thằng Bờm ta đã biết Dịch Ennead Ai Cập cổ cũng khởi đầu từ vị thần Gió Shu có mạng Đoài vũ Trụ. Vì thế, như đã biết, cũng có một Tiên Thiên bát quái Phục Hy Cửu Thân giống như Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành Tổ Hùng tạo hóa nguyên thủy ở đây. Như đã nói  Dịch Ai Cập cổ  có thể phát xuất từ cái nôi văn hóa, văn minh của loài ngưởi ở Lục Địa Mu (James Churchward) sau này là Sundaland (Stephen Oppenheimer), lúc đó nối liền với Đông Nam Á, địa bàn của cổ Việt.  Vì thế, sự tương đồng.với Dịch Cửu Thần cũng củng cố thêm là Tiên Thiên bát quái Tổ Hùng không thể nào là lấy của Hoa Hạ.

Tóm lại Tiên Thiên bát quái Chi Chi Chành Chành là Tiên thiên bát quái Tổ Hùng-Phục Hy ngành Viêm Đế.-Thần Nông thái dương . Bài hát này giúp ta tìm lại được Tiên Thiên bát quái Phục Hy nguyên thủy chính gốc của Việt tộc đã mất.

Bây giờ ta thử xem bài hát này có liên hệ gì với Hậu Thiên bát quái Văn Vương không?

(Còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: