VIỆT DỊCH (5): VIỆT DỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VIỆT DỊCH

(5)

VIỆT DỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT.

Nguyễn Xuân Quang

.Qua sử miệng đồng dao Chim Nông-Chim Cắt, ta có Việt Dịch Chim Nông-Chim Cắt, một thứ Dịch Chim Tạo Hóa Đại Vũ Trụ Tổ Hùng Thần Nông-Viêm Đế.

.Qua sử miệng đồng dao Đám Ma Cò, ta có khuôn mặt chính là Dịch Sinh Tạo Tiểu Vũ Trụ ứng với Thái Tổ Hùng Vương lịch sử gồm hai nhánh:

-Qua dị bản có Bổ Cu là trưởng ngành nọc dương thái dương ta có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc Thế Gian.

-Qua dị bản có Diều Hâu là trưởng ngành nọc âm thái dương ta có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng Thế Gian. Đây là Dịch Hùng Vương đội lốt Diều Hâu Đế Minh ngành nòng âm.

.Qua sử miệng đồng dao Thằng Bờm, một con dân Việt bằng xương bằng thịt, ta có ít nhất là hai thứ Việt Dịch Hùng Vương Nhân Gian đích thực, ở cõi Người Việt Mặt Trời, con cháu Tổ Hùng, Hùng Vương.

Một là Dịch theo hôn phối vợ chồng là Dịch Thằng Bờm Hùng Vương Đoài-Hoàng Hậu Cấn Hồng Lạc Nhân Gian. Dịch này có Tiên Thiên Bát Quái Thằng Bờm Hùng Vương Đoài-Vợ Cấn Phục Hy Hồng Lạc Nhân Gian là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nguyên thủy.

Hai là Dịch theo hôn phối đồng bản thể ruột thịt mẹ con là Dịch Thằng Bờm Hùng Vương Đoài-Mẹ Âu Cơ Tốn Hồng Lạc nhân Gian. Dịch này giống hệt Dịch Cửu Thần Ennead Ai Cập, Thần Shu Đoài hôn phối với chị/em ruột Tefnut Tốn (Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập cổ và Cổ Việt).

.Qua trò chơi giải trí dân gian Bầu Cua ta có một loại Việt Dịch Bầu Cua Đồng Quê.

Theo duy âm mà dân gian thường gọi là Bầu Cua Cá Cọc ta có Dịch Hùng Vương Lạc Hồng tức Dịch phía Lạc Việt mang tính chủ.

Theo duy dương theo thứ tự Bầu Cọc Cá Cua ta có Dịch Kì Dương Vương, Hồng Bàng Thế Gian, Dịch này mang tính thứ yếu.

Bài viết này, qua truyền thuyết các Tổ Phụ và Tổ Mẫu Việt Nam ta có một loại Việt Dịch tôi gọi là Việt Dịch Sử Truyền Thuyết.

(xin nhắc lại truyền thuyết có một khuôn mặt là một thứ sử của người xưa, ở đây nói về truyền thuyết của các vị Tổ Việt đúng là một thứ sử truyền thuyết Việt).

VIỆT DỊCH SỬ TRUYỀN THUYẾT.

Qua nhiều bài viết truyền thuyết các Tổ Phụ và Tổ Mẫu dòng mặt trời thái dương của Việt Nam, chúng ta đã thấy các vị tổ ứng tứ quái dương và tứ quái âm, tức ứng với một loại Việt Dịch (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Trước hết xin nhắc lại sơ qua về truyền thuyết Việt. Người Việt là Người Mặt Trời Thái Dương di duệ của thần Mặt Trời Viêm Đế của chủng người vũ trụ. Vị tổ tối cao tối thượng của chúng ta là Thần Nông-Viêm Đế. Ở cõi Tạo Hóa ứng với Trứng Vũ Trụ, thái cực là thần Tạo Hóa Nhất Thể lưỡng tính phái, theo duy âm, ngành nòng là Thần NôngViêm Đế (viết dính vì chỉ là một nhân vật nhất thể, Thần Nông viết trước vì theo duy âm ngành nòng, âm) và theo duy dương, ngành nọc dương là Viêm ĐếThần Nông. Ở tầng lưỡng cực, lưỡng nghi tách ra làm hai vị Thần Nông và Viêm Đế. Ở tầng tứ tượng, Thần Nông, Viêm Đế sinh ra bốn vị Đế. Thần Nông tách ra thành Thần, ta có Đế Thần (có một nghĩa là Nước) và Nông, ta có Đế Nông (Khí Gió) (xem Nhận Diện Danh Tính Thần Nông trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt), Viêm Đế tách ra thành Viêm, ta có Đế Viêm (Nóng, Lửa) và Đế, ta có Đế Đế (Trụ Chống, Núi Trụ Thế gian, Đất thế gian) (xem Nhận Diện Danh Tính Viêm Đế).

Theo truyền thuyết bao gồm cả Hoàng Đế của Hoa Hạ thì ngũ đế là Đế Thích (Thần Nông),“ Đế Thiên (Phục Hy),  Đế Khôi (Viêm Đế), Đế Tiết (Hoàng Đế), Đế Thức (Thần Đế).

Ta thấy rất rõ, Đế tối Cao là Đế Thích (Thần Nông) sinh ra bốn Đế ứng với tứ tượng, theo duy âm là Đế Thức (Thần Đế là con hay đội lốt Đế Thần Nước Chấn), Đế Thích (Phục Hy có mạng Đoài như Hùng Vương Đoài tức con hay đội lốt Đế Nông Khí Gió), Đế Khôi (Viêm Đế) con hay đội lốt Đế Viêm và Đế Tiết (Hoàng Đế) con hay đội lốt Đế Đế Đất dương (mầu Hoàng có một nghĩa là mầu đất hoàng thổ).

Theo truyền thuyết Thần Nông Bắc thì bốn Đế là Đế Nghi, Đế Lai, Đế Li, Đế Du Vong (Trần Đại Sỹ, Từ Triết Học Tới Huyền Thoại Nguồn Gốc Tộc Việt, 20 Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975-1995, Đại Nam 1995). Dĩ nhiên không hẳn là của phương Bắc.

(Lưu Ý: Bốn vị Đế này mang tính ‘Đế’ cao hơn các vị vương nên cho là thuộc Thần Nông Bắc!). Bốn vị đế này có thể là đội lốt hay là con của các Đế Viêm, Đế Đế, Đề Thần, Đế Nông.

Dựa theo sử truyền thuyết Thần Nông-Viêm Đế Việt thì:

Ở ngành nọc thái dương của Người Việt Mặt Trời Thái Dương bốn vị Đế ở cõi tạo hóa này sinh ra bốn Tổ phụ Việt Nam là Đế Minh [Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế, coi như mang tính cách biểu trưng (deus otiosus) đội lốt Viêm Đế (con Đế Viêm)], Kì Dương Vương (con hay đội lốt Đế Đế), Lạc Long Quân (con hay đội lốt Đế Thần) và Tổ Hùng (con hay đội lốt Đế Nông). Ba vị sau là Vương. Như thế tổng cộng ta có Ngũ Đế và Tam Vương. Về phía nòng âm, Thần Nông thái âm là thần tổ của Bốn Tổ Mẫu Vụ Tiên, Long Nữ, Âu Cơ, Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Bốn Tổ Phụ.

Ở cõi tiểu vũ trụ thế gian ta có bốn Tổ Phụ con của bốn vị Đế là Đế Viêm thái dương Càn, Lửa trời, Đế Đế thiếu dương Li, Đất dương, Đế Thần thái âm Nước dương và Đế Nông thiếu âm Gió dương.

Bốn vị Đế này thuộc về cõi Tạo Hóa, Đại Vũ Trụ.

-Đế Minh

Là cháu ba đời của thần mặt trời Viêm Đế, con của Đế Viêm Lửa trời, Đế Minh có nghĩa là Đế Ánh Sáng.

Cũng nên biết, Đế Minh có khi cho là cháu ba đời thần Mặt Trời Viêm Đế (đời thứ nhất là Viêm Đế ở tầng lưỡng nghi, đời thứ hai là Đế Viêm ở tầng tứ tượng nên đến Đế Minh là cháu ba đời), có khi lại cho là cháu bốn đời của Viêm Đế (bốn đời là tính từ tầng tạo hóa thái cực, Trứng Vũ Trụ Viêm ĐếThần Nông nhất thể là tầng thứ nhất, đến tầng thứ hai là Viêm Đế lưỡng nghi, tầng thứ ba là tứ tượng Đế Viêm nên đến Đế Minh là cháu bốn đời).

Đế Minh là vị duy nhất ở cõi tiểu vũ trụ có tước vị Đế. Như đã nói ở trên, Đế là vị tổ thuộc cõi tạo hóa, Vua Cõi Trời. Đế mang tính sinh tạo, tạo hóa thuộc cõi trên mang tính biểu tượng chỉ có khuôn mặt truyền thuyết không có khuôn mặt lịch sử. Các vị Đế mang tính tượng trưng, khi hoàn tất nhiệm vụ xong là ‘nghỉ hưu’ không còn tham dự vào việc về sau (deus otiosus) (xem dưới). Như thế Đế Minh có một khuôn mặt đội lốt Đế Viêm, Viêm Đế mang khuôn mặt chính sinh tạo thế gian đội lốt tạo hóa. Nói một cách khác Đế Minh có một khuôn mặt hoàn toàn truyền thuyết. Vì thế mới gọi là Đế, trong khi ba vị Tổ Phụ còn lại gọi là Vương (Kì Dương Vương, Hùng Vương) hay Quân (Lạc Long Quân). Vương mang tính dương và Quân mang tính âm, Vương và Quân là vua cõi thế gian có thể có khuôn mặt lịch sử ở cõi nhân gian như Hùng Vương lịch sử hay các vua lịch sử đội lốt truyền thuyết (thuộc nhánh Kì Dương Vương hay nhánh Lạc Long Quân).

Như thế tổng cộng ta 9 vị thần tổ của ngành nọc dương mặt trời thái dương: ở tầng Tạo Hóa là thần mặt trời Viêm Đế, ở tầng tứ tượng là 4 vị Đế: Đế Viêm, Đế Đế, Đế Thần, Đế Nông và ở cõi trời thế gian ta có 4 vị Tổ Phụ là Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Tổ Hùng. Không kể Viêm Đế mang tính sinh tạo Tạo Hoá tượng trưng. Như thế chúng ta thật sự có Ngũ Đế là Đế Viêm, Đế Đế, Đế Thần, Đế Nông và Đế Minh và Tam Vương là Kì Dương Vương. Lạc Long Quân, Hùng Vương.

Đế Minh là Đế Ánh Sáng, lửa trời, lửa dương ở Cõi Trời của thế gian. Diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, lửa là hai nọc que II (hai que dùi ra lửa). Lửa (II) ngành dương (I) là lửa trời III, quẻ Càn.

Ta thấy rất rõ linh tự Ai Cập cổ ánh sáng, nắng cũng diễn tả bằng ba nọc que III, tức Càn.

clip_image002

Linh tự Ai Cập cổ ánh sáng, nắng.

Tiếng dân gian Việt Nam nôm na gọi là Chàng thay cho Đế cho Vua vì dựa theo các vị vua dòng mặt trời đều là các Lang (có một nghĩa là Chàng). Đế Minh Ánh Sáng, lửa mặt trời nôm na gọi là Chàng Lửa. Chàng là nọc (I) (chàng có một nghĩa là cái đục, chisel), lửa là hai nọc que II. Chàng (I) Lửa (II) là III, quẻ ba vạch Càn.

Tóm lại Đế Minh hay Chàng Lửa ứng với quẻ ba vạch Càn đội lốt Đế Viêm.

-Kì Dương Vương

Đế Minh sinh ra Kì Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục. Kì có một nghĩa là Ki, Kẻ, Cây. Với nghĩa này Kì là núi Trụ Thế Gian, Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới biểu tượng cho đất thế gian, đất dương, Trục Thế Giới biểu tượng cho Đất dương, Đất lửa thế gian, Trung Thế.

Hiểu theo nghĩa này Kì Dương Vương có nghĩa là Vua Trụ Trời, Núi Trụ Thế Gian. Kì Dương Vương là vị Vua Cột Trụ Thế Gian mang hình bóng Cây Vũ Trụ vì thế là con người đầu tiên ở cõi thế gian, là vua đầu tiên của Nước Xích Quỉ, ‘Người Đỏ’, Người Mặt Trời (rõ ràng Đế Minh không có khuôn mặt thế gian).

Kì là Kẻ có nghĩa cây, cọc, nọc cũng có nghĩa là con Cọc tức con vật có hai sừng như hai cây cọc nhọn, tức con hươu sừng, hươu đực.

Ta cũng thấy Dương với nghĩa là Đực thì Kì Dương là Con Cọc Đực, Hươu Đực (xem Bầu Cua Cá Cọc).

Qua ngôn ngữ học ta thấy rất rõ Kì, Ki, Kẻ chính là gốc Hy Lạp ker-, sừng như Pháp ngữ cerf là con sừng, con hươu. Hán ngữ lộc, hươu ruột thịt với Việt ngữ nọc (cọc) (l=n như lòng súng = nòng súng). Con hươu lộc là con nọc, con cọc. Như thế với nghĩa này, Ki Dương là Con Hươu Sừng, Hươu Đực (chỉ con đực mới có sừng, ngoại trừ loại tuần lộc reindeer con cái mới có sừng). Cũng vì thế mà Con Hươu Đực Kì Dương có nhũ danh là Lộc Tục tức con Hươu Đục, Hươu Đọc, Hươu Nọc, Hươu Đực.

Thêm nữa, Dương cũng có nghĩa là Mặt Trời. Kì Dương Vương là Vua Mặt Trời trên đỉnh Trục Thế Giới, Mặt Trời Thượng Đỉnh (zenith) chói ngời nhất. Kì Dương Vương là Vua Hươu Mặt Trời thái dương.

Hươu sừng là con thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng là hai nọc có một khuôn mặt là lửa nghĩa là hươu sừng biểu tượng cho đất lửa, đất dương, lửa thế gian gọi theo danh pháp Dịch là Li thường hiểu theo Dịch Hoa Hạ là Lửa. Thật ra Li là lửa phát sinh từ đất, từ núi lửa khác với Lửa vũ trụ, lửa trời là Càn. Li phải hiểu theo nghĩa chính là đất lửa, đất dương, đất núi trụ, núi nhọn đỉnh mang dương tính. Li là Đất Lửa, lửa thiếu dương trong khi Càn là lửa thái dương.

Dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Đất (thiếu dương OI) tức IOI, quẻ Li.

Tóm lại Kì Dương Vương hay Chàng Đất ứng với Đất thiếu dương Li (đội lốt hay con của Đế Đế).

.Lạc Long Quân

Kì Dương Vương đẻ ra Lạc Long Quân.

Vua Lạc Long gọi là Quân thay vì Vương vì Quân mang âm tính. Quân có mầu tím đen chỉ vua lúc chiều tím, mặt trời lặn, mặt trời hoàng hôn tím, mặt trời Nước. Lạc là Nác (Nước) dương.

Lạc Long Quân ứng với Chấn có một khuôn mặt là nước dương tức Biển (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Nước (OO) tức IOO, quẻ Chấn.

Tóm lại Lạc Long Quân hay Chàng Nước ứng với Chấn đội lốt hay con của Đế Thần.

.Tổ Hùng (truyền thuyết).

Lạc Long Quân sinh ra Tổ Hùng.

Lưu ý

Tôi dùng từ Tổ Hùng chỉ vị Tổ còn mang tính truyền thuyết khác với Hùng Vương lịch sử đội lốt truyền thuyết. Còn từ Hùng Vương tôi dành chỉ các Vua Hùng lịch sử bằng xương bằng thịt đội lốt (con cháu) Tổ Hùng.

Cần phân biệt Tổ Hùng truyền thuyết với Hùng Vương lịch sử.

Vì sinh ra từ Bọc Trứng Vũ Trụ nên Tổ Hùng có cốt vũ trụ, tạo hóa. Hùng Lang ‘toàn là con trai’ mang dương tính nên có khuôn mặt là mặt trời Trụ và không gian dương Vũ tức Khôn dương bầu vũ trụ, bầu trời, Khí Gió ứng với Đoài vũ trụ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Dân gian Việt Nam gọi là Chàng (I) Gió (thiếu âm IO) tức IIO, Đoài vũ trụ.

Tóm lại Tổ Hùng hay Chàng Gió ứng với Đoài vũ trụ đội lốt Đế Nông.

Lưu Ý

Đoài thường hiểu theo dịch muộn thế gian của Hoa Hạ là ao đầm. Thật ra ở cõi tạo hóa, vũ trụ lúc sáng thế chưa có ao đầm. Đoài biến âm với đài, đẫy có một nghĩa là túi, bao, bọc. Anh ngữ Đoài gọi là Tui. Anh ngữ Tui biến âm với Việt ngữ Túi.

Vũ trụ, trời là một cái bọc nên gọi là bầu vũ trụ, bọc vũ trụ, bầu trời, bọc trời. Da là cái bọc thân người, trời là cái bọc, cái bao nên cũng có da gọi là da trời. Ông thần gió khoác cái bao, túi gió trên vai. Ở cõi trời bọc (O) mang tính lửa, thái dương (II) tức Khôn dương là bọc khí gió IIO tức Đoài vũ trụ. Ở cõi thế gian bọc (O) nước ấm, nóng (II) là Đoài ao đầm thế gian.

Vì thế ở cõi tạo hóa Đoài phải hiểu là bầu vũ trụ, khí gió Đoài vũ trụ phân biệt với Đoài thế gian hiểu theo Dịch muộn, thế gian Hoa Hạ là ao đầm.

Cần phải phân biệt Đoài vũ trụ với Đoài thế gian.

Như thế bốn Tổ Phụ dòng mặt trời thái dương của chúng ta là bốn quái (quẻ ba hào) Càn, Li, Chấn, Đoài có cốt là Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn (Four Great Primary Forces) tương đương với tứ tượng.

Bốn Tổ Mẫu

-Vụ Tiên

Vợ Đế Minh là Vụ Tiên có nghĩa là con Le Le, (oan ương, uyên ương), vịt trời. Le Le là loài chim Nước bay được thuộc họ chim nước, vịt, ngỗng tức Nước thái âm cõi trời. Vịt trời Le Le Vụ Tiên của Việt Nam bay ra tận Hawaii trở thành con ngỗng Ne Ne. Le Le đọc theo âm cổ là Ne Ne (một vài vùng miền Bắc Việt Nam vẫn gọi le le theo âm cổ là ne ne). Hawaii lấy con Ne Ne làm chim biểu cho tiểu bang (State Bird). Việt Nam và Hawaii có cùng vật tổ chim nước Le Le, Ne Me cũng dễ hiểu vì người Hawaii nằm trong tam giác Đa Đảo đến từ Nam Đảo, ven biển Đông Nam Á thuộc địa bàn cổ Việt. Họ có mang dòng máu Lạc Việt hải đảo (có bài viết riêng).

Việt ngữ Le có nghĩa là nước như chua le, chua lè là chua chẩy nước dãi (và cũng có thể chẩy nước đái như thấy qua câu nói chua vãi đái). Lè biến âm với nhè (l=nh như lặt = nhặt), ta có lè = nhè. Qua từ đôi lè nhè, ta cũng có lè = nhè. Hay nhè là hay chẩy nước mắt, hay khóc. Tây Ban Nha ngữ leche, Pháp nghữ lait /le/ là sữa, một thứ nước dinh dưỡng nuôi con người lúc đầu đời. Như thế Vụ Tiên là Nàng ‘Nước Nước’ Le Le tức ‘hai nước’ tức nước thái âm. Le Le biết bay nên là nước ở cõi trời. Diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que nước thái âm là OO và trời, không gian là nòng O. Nàng Vụ Tiên Le Le là Nước OO cõi trời O tức OOO, quẻ Khôn. Khôn âm là Nước thái âm cõi trời.

Dân gian Việt Nam gọi Vụ Tiên Le Le là Nàng Nước. Nàng (O) Nước (OO) Vụ Tiên Khôn OOO, Nước cõi vũ trụ, cõi trời hôn phối với Chàng Lửa trời, lửa vũ trụ Đế Minh Càn.

Tóm lại Vụ Tiên ứng với quái Khôn.

-Long Nữ

Vợ Kì Dương Vương là Long Nữ có khi gọi là Thần Long.

Lưu Ý

Trong Đại Việt Sử Ký có ghi là có sách nói Kì Dương Vương lấy con Thần Long ở Động Đình Hồ, có nghĩa là Thần Long là Long Vương Động Đình Quân. Chúng tôi may mắn đã có dịp viếng thăm Động Đình Hồ, hiện nay vẫn còn đền thờ Long Vương Động Đình Quân, ông ngoại Lạc Long Quân.

clip_image004

Đền Thờ Long Vương Động Đình Quân ở Động Đình Hồ.

Do đó tôi dùng từ Long Nữ chỉ vợ Kì Dương Vương thay cho từ Thần Long để tránh nhầm lẫn.

Như đã biết Long là linh thú có cốt rắn nước nhưng biết bay lên trời. Long Nữ là ‘nước bay lên trời’ tức hơi nước. Hơi nước gặp lạnh tụ lại thành mây, mây thành mưa.

Như thế Long Nữ có nghĩa là ‘Nước Bay’, ‘Hơi Nước’, ‘Gió Nước’, mù, mây, mưa.

Qua chữ nòng nọc vòng tròn-que Khan, có một nghĩa là Khảm, nước.

clip_image005

Ta thấy Khan, Khảm, Nước có KH hình bầu trời, A hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Ʌ có nghĩa là nọc, dương, lửa thái dương hay núi tháp nhọn đất dương… và N là nước. Vì Long Nữ là vợ của Kì Dương Vương Li núi lửa thế gian nên ta chọn nghĩa của Ʌ (A) là núi tháp nhọn biểu tượng cho Đất thế gian. Như thế KHAN, Khảm rõ ràng có KH hình vòm trời phải hiểu là Nước Bầu Trời Bay Trên Đầu Núi, tức nước còn ở dạng mù hay mây biểu tượng của sự thể trung gian hay hòa vào nhau của những yếu tố (hay hành) Khí và Nước (mist is symbolic of things intermediate or the fusing together of the Elements of Air and Water) (J.E. Cirlot, A Dictionary of Symbols). Vì thế Khảm là nước trời khởi nguồn từ là mù, mây có nguyên thể thiếu âm khí gió. Khan, Khảm là nước thiếu âm thế gian khác với Khôn là nước âm thái âm không gian và Chấn là nước dương thái âm vũ trụ. Nước ở bầu trời O mang tính thiếu âm IO nguyên thể khí gió, tức OIO, quẻ Khảm.

Tóm lại Long Nữ nước thiếu âm có nguồn gốc từ mù, mây dạng kết hợp giữa gió và nước ứng với Khảm.

Dân dã Việt Nam gọi Long Nữ là Nàng Gió. Nàng (O) Khí Gió (thiếu âm IO) tức OIO, quẻ Khảm.

Lưu Ý

Cần lưu ý Khảm thường hiểu theo Dịch muộn thế gian Hoa Hạ là nước. Thật ra phải hiểu theo Dịch có nhiều loại nước. Khảm là hơi nước bầu trời thế gian, nước thiếu âm, rơi xuống thế gian thành nước mưa.

Trường hợp này giống Li thường hiểu theo Dịch muộn thế gian Hoa Hạ là lửa. Thật ra Li phải hiểu là Đất Lửa, lửa đất, Lửa thiếu dương.

Nàng Long Nữ Khảm Nước gió trời thiếu âm lấy Chàng Kì Dương Vương Li Lửa Đất thiếu dương.

Tóm lại Long Nữ ứng với Khảm, hơi nước, mù, mây, nước mưa.

-Âu Cơ

Vợ Lạc Long Quân là Âu Cơ. Âu biến âm với Au là đỏ như au đỏ, đỏ au. Đỏ là lửa, mặt trời. Âu Cơ là Cô, Nàng Lửa, Nữ Thần Mặt Trời (tương tự Nữ Thần Mặt Trời Ameraterasu Nhật Bản).

Dân dã Việt Nam gọi Âu Cơ là Nàng (O) Lửa (II) tức OII, quẻ Tốn (xem Nhận Diện Danh Tính Âu Cơ).

Nàng Lửa Âu Cơ Tốn hôn phối với Chàng Nước Lạc Long Quân Chấn.

Tóm lại Âu Cơ ứng với quái Tốn ở cõi trời, cõi sinh tạo, tạo hóa.

-Hoàng Hậu của Tổ Hùng (truyền thuyết).

Truyền thuyết và cổ sử không nhắc tới tên vị này nên tôi gọi là Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Còn lại Hoàng Hậu Tổ Hùng có khuôn mặt là Nàng Đất Cấn. Tổ Hùng Đoài vũ trụ có khuôn mặt bầu vũ trụ, bầu trời, khí gió, nói nôm na tổng quát theo dân dã là Trời hôn phối với một người nữ là Nàng Đất Cấn. Tổ Hùng và Hoàng Hậu là cặp hôn phối Trời với Đất, một khuôn mặt của cặp Bánh Dầy Bánh Chưng (vì thế mà ngày tết, giỗ Tổ Hùng thường cúng bánh dầy bánh chưng).

Tóm lại bốn Tổ Mẫu của chúng ta ứng với Khôn, Khảm, Tốn, Cấn là bốn quái có cốt là tứ tượng âm.

Việt Dịch Sử Truyền Thuyết

Như thế bốn Tổ Phụ và Bốn Tổ Mẫu gộp lại ta có một loại Dịch gọi là Việt Dịch Sử Truyển Thuyết.

Các vị Tổ Phụ của chúng ta thuộc ngành nọc dương mặt trời thái dương nên có khuôn mặt theo chiều dương mang tính chủ.

Như thế, ở đây tất cả các vị Tổ đều là truyền thuyết. Theo duy dương và đọc theo chiều dương ta có Đế Minh Càn, Kì Dương Vương, Li, Lạc Long Quân Chấn và Tổ Hùng Vương Đoài vũ trụ (truyền thuyết). Bốn vị Tổ Phụ hôn phối với bốn vị Tổ Mẫu ta có bát quái viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que sau đây:

clip_image007

Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Sử Truyền Thuyết Việt.

Theo Dịch đồ ở trên, nếu đọc theo ngành nọc dương thái dương tức theo chiều dương ngược chiều kim đồng hồ khởi đi tứ quái Càn ta có theo thứ tự bốn quái dương Càn, Li, Chấn, Đoài ứng với bốn Tổ Phụ Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Tổ Hùng. Về phía bốn Tổ Mẫu ở đây cùng ngành nọc dương thái dương, tức mang tính nọc âm thái dương, ta cũng vẫn phải đọc theo chiều dương, chiều ngược kim đồng hồ nhưng khởi đi từ cực âm đối ứng với cực dương Càn tức khởi đi từ quái Khôn Vụ Tiên (mẹ tối cao thế gian của Việt Nam) ta có theo thứ tự bốn quái âm Khôn, Khảm, Li, Cấn ứng với bốn Tổ Mẫu Vụ Tiên, Long Nữ, Âu Cơ, Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Vì các Tổ Phụ và Tổ Mẫu của chúng ta nhìn dưới diện truyền thuyết là các vị thần tổ mang tính sinh tạo, đội lốt tạo hóa nên Việt Dịch Sử Truyền Thuyết một thứ Tiên Thiên Bát Quái.

So Sánh với Dịch Chim Nông-Chim Cắt Tạo Hóa.

Như đã biết Dịch Chim Nông Chim Cắt là Dịch chim mang tính sinh tạo Tạo Hóa ta suy ra ngay là có sự tương đồng.

Ta thấy rất rõ theo chiều dương Càn Đế Minh, Li Kì Dương Vương, Chấn Lạc Long Quân và Đoài vũ trụ Tổ Hùng theo đúng thứ tự của chim Di Càn, Sáo Sậu Li, Sáo Đen Chấn và Tu Hú Đoài vũ trụ. Như thế theo duy dương ngành nọc dương thái dương, mặt trời nọc thái dương Việt Dịch Sử Truyền Thuyết giống Dịch Nông Cắt cõi trời, cõi Tạo Hóa. Ta thấy rõ các khuôn mặt Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Tổ Hùng ở đây mang khuôn mặt sinh tạo, đội lốt Tạo Hóa.

.So Sánh với Việt Dịch Đám Ma Cò

Việt Dịch Đám Ma Cò là Dịch Hùng Vương Bầu Trời (Cò là chim Biểu Bầu Trời, Gió của Hùng Vương) hiển nhiên khác với Việt Dịch Sử Truyền Thuyết kể từ Viêm Đế-Thần Nông trở xuống.

.So sánh với Dịch Thằng Bờm.

Tương tự như trên Việt Dịch Thằng Bờm là Dịch Hùng Vương trực tiếp nhân gian khác với Dịch này.

.So sánh với Việt Dịch Bầu Cua.

Nếu nhìn theo diện tổng quát truyền thuyết, theo chiều dương, ta có Bầu Cọc Cá Cua ứng với Đế Minh Càn, Kì Dương Vương Cọc Hươu, Lạc Long Quân Cá và Tổ Hùng Cua giống với Viêm ĐếSử Truyền Thuyết ở đây. Tuy nhiên Việt Dịch Bầu Cua có khuôn mặt chủ là Việt Dịch thế gian Đồng Quê nên rõ ràng sự tương đồng mang này mang tính phụ.

Theo chiều âm Bầu Cua Cá Cọc ứng với Đế Minh, Hùng Vương lịch sử Cua, nhánh Hùng Lạc Lạc Long Quân Cá và nhánh Hùng Kì Kì Dương Vương. Hiển nhiên khác với Việt Dịch Sử Truyền Tguyết.

So Sánh Với Chu Dịch

Nếu đem so sánh với Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy của Hoa Hạ, ta thấy các quẻ trên Việt Dịch Sử Truyền Thuyết và trên Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ dùng từ cổ thời cho tới hiện nay có sự giống nhau về từng cặp quái hôn phối với nhau, chỉ khác Li và Đoài vũ trụ đổi vị trí cho nhau.

clip_image009

Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

Như thế Việt Dịch Sử Truyền Thuyết cũng là một thứ Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nhưng khác với Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ về vị trí của Li/Đoài. Tôi gọi là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Sử Truyền Thuyết Việt.

So Sánh Với Dịch Văn Vương

Hiển nhiên Việt Dịch Sử Truyền Thuyết Việt khác với Dịch Văn Vương.

Tóm lại ta thấy rõ một điều là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Sử Truyền Thuyết Việt của Việt Dịch Sử Truyền Thuyết rập theo khuôn truyền thuyết Tổ Việt và khác với Thiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ thì Việt Dịch Sử Truyền Thuyết phải là Dịch của Việt Nam không thể chối cãi được. Việt Nam có Dịch riêng, khác với Dịch Hoa Hạ. Những loại Việt Dịch như Dịch Chim Nông Cắt Tạo Hóa, Việt Dịch Đám Ma Cò, Việt Dịch Thằng Bờm qua ca dao tục ngữ, Việt Dịch Bầu Cua qua trò chơi dân gian và Việt Dịch Sử Truyền Thuyết qua sử truyền thuyết Việt xác thực một cách vững chắc chúng ta có Việt Dịch riêng khác với Dịch Hoa Hạ.

DỊCH MAN VIỆT ĐẾ MINH.

Ta biết, theo duy dương, ngành nọc mặt trời thái dương của Người Việt Mặt Trời nếu thay đổi vị trí của bốn quái dương ứng với bốn Tổ Phụ ta sẽ có bốn loại Dịch khác nhau của bốn đại tộc là Dịch Man Việt Đế Minh, Dịch Kì Việt Kì Dương Vương, Dịch Lạc Việt Lạc Long Quân và Dịch Lang Việt Hùng Vương.

Khởi đầu ta xét Dịch Man Việt ứng với Đế Minh.

Dịch này có quái Càn Đế Minh nằm trên đỉnh của Dịch đồ (cũng vẫn giống như ở Việt Dịch Sử Truyền Thuyết).

Như đã biết, với hiệu là Đế là vua cõi trời, cõi trên, cõi tạo vẫn mang tính truyền thuyết,

Đế Minh là tổ tạo hóa cõi thế gian của Đại Tộc Việt đội lốt Viêm Đế ở cõi Tạo Hóa.

Như thế nếu Đế Minh nhìn dưới diện truyền thuyết theo tước vị Đế thì Dịch Man Việt Đế Minh nằm trong Việt Dịch Sử Truyền Thuyết, nói một cách khác Dịch Man Việt giống Việt Dịch Sử Truyền Thuyết.

Nhưng nếu nhìn theo diện thế gian, đây là Dịch của chủng tộc Đế Minh, Đế Ánh Sáng Mặt Trời. Minh biến âm với Man, theo kiểu miên man, mênh mang. Man là Người (chính là Anh ngữ man). Người là Ngời, là Sáng. Man là Người, Là Ngời là Sáng, con dân của Đế Minh, Đế Ánh sáng, cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

DỊCH KÌ VIỆT THẾ GIAN

Ở dịch này Kì Dương Vương có khuôn mặt nhìn dưới diện cõi thế gian hay đích thực là vua lịch sử tức của nước Xích Quỉ, khác với khuôn mặt truyền thuyết hoàn toàn ở cõi trên tạo hóa ở Việt Dịch Sử Truyền Thuyết. Như thế ở đây hai vị Tổ Lạc Long Quân và Tổ Hùng cũng có khuôn mặt thế gian hay lịch sử.

Trong Dịch này Quái Li ứng với Kì Dương Vương phải để trên hết tiếp theo là hai quái Chấn Lạc Long Quân, Đoài Tổ Hùng/Hùng Vương rồi mới tới quái Càn Đế Minh, tức theo thứ tự Li, Chấn, Đoài Càn hay Li Đoài Chấn, Càn.

1. Theo Thứ Tự Li Chấn Đoài, Càn.

Ta thấy nếu để theo thứ tự Li Chấn Đoài, Càn này thì Kì Dương Vương có khuôn mặt là thế gian/lịch sử sinh ra Lạc Long Quân thế gian/lịch sử và Lạc Long Quân thế gian/lịch sử sinh ra Hùng Vương thế gian/lịch sử. Còn Đế Minh Càn chỉ manh tính sinh tạo tượng trư ng (deus otiosus).

2. Theo Thứ Tự Li Đoài Chấn Càn.

Còn theo thứ tự Li Đoài Chấn Càn thì Kì Dương Vương thế gian sinh ra hai nhánh: nhánh Hùng Lang Đoài và nhánh Hùng Lạc Chấn.

DỊCH LẠC VIỆT THẾ GIAN/LỊCH SỬ.

Kế tiếp, bây giờ ta chuyển quái Chấn lên trên hết. Càn Đế Minh vẫn coi là Đế tức vẫn coi có khuôn mặt truyền thuyết tượng trưng để sau cùng.

Nhìn dưới diện thế gian, Chấn đứng đầu bát quái thế gian với bốn quái dương là Chấn, Li, Đoài, Càn. Ta có Dịch Chấn Thế Gian/Lịch Sử.

Có hai thứ tự Chấn Li Đoài Càn và Chấn Đoài Li Càn.

1-Theo thứ tự Chấn Li Đoài Càn.

Ở đây trường hợp thứ nhất Chấn đội lốt Càn tức Chấn thái dương nghĩa là Càn vẫn đứng đầu ngành trên hết nhưng chỉ mang tính tượng trưng (deus otiosus), ta có (Càn) Chấn Li Đoài. Ta có một loại Dịch giống hệt một thứ Dịch dùng làm bùa trừ tà trong dân gian Việt Nam mà tôi gọi là Dịch Lạc Việt thế gian (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á).

clip_image010

Dịch Lạc Việt Thế Gian ngành thái dương Càn.

Ta thấy rõ trong Dịch này, Chấn hôn phối với Cấn. Ở thế gian Lạc Long Quân có khuôn nước dương như sông, biển. Lạc Long Quân Biển lấy Âu Cơ Núi sinh ra hai nhánh. Nhánh 50 Lang Lửa phía mẹ Núi Cấn ứng với Li (Li Đất dương đại diện cho Cấn, núi âm). Đây là quái Li trên Dịch đồ. Nhánh 50 lang phía cha nước dương Biển ứng với Đoài thế gian là đầm ao nước ấm, nước nóng ứng với quẻ Đoài trên Dịch đồ.

Theo thứ tự này quái Li đứng trước quái Đoài như thế nhánh Lang Âu Mẹ mang tính trội. Dịch Lạc Việt thế gian này của nhánh Âu Lạc.

Tóm lại theo thứ tự (Càn) Chấn Li Đoài ta có Dịch Lạc Việt Thế Gian Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra hai nhánh là Âu Lửa Núi Li và Lạc Nước ấm Đoài Đầm.

Nhánh Mẹ Âu Cơ mang tính trội. Đây là Dịch Lạc Việt thế gian nhánh Âu Lạc.

Bây giờ nhìn dưới diện Chấn trực tiếp nghĩa là Chấn ở vị trí cao nhất và Càn mang tính truyền thuyết biểu tượng để sau cùng. Ta có hai thứ tự là Chấn Li Đoài Càn hay Chấn Đoài Li Càn.

1. Theo thứ tự Chấn Li Đoài Càn.

Ta có quái Li trước quái Đoài như thế nhánh Lang Kì Li mang tính chủ. Ở đây ta có DịchLạc Việt với nhánh Lang Li mang tính chủ.

2-Theo thứ tự Chấn Đoài Li Càn.

Ta có quái Đoài trước quái Li như thế nhánh Lang Đoài mang tính chủ. Ở đây ta có Dịch Lạc Việt Thế Gian với nhánh Lang Đoài mang tính chủ.

DỊCH HÙNG VƯƠNG THẾ GIAN, LỊCH SỬ.

Xin nhắc lại bài hát Bồ Nông là Ông Bổ Cắt xoay tròn, đầu thành đuôi, đuôi thành đầu, vô cùng vô tận mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh tuần hoàn vô cùng vô tận. Sinh tử, tử sinh là một vòng tử sinh. Bài hát xoay tròn cũng cho thấy chim tu hú là chim chót trong chu kỳ lại khởi đầu lại một vòng sinh tạo khác. Chim tu hú nếu tính theo phả hệ là cháu chắt, chút chit của bồ nông lại trở thành “chú bồ nông” ở một vòng sinh tạo thứ nhì….

Điều này cho thấy Đoài vũ trụ gió tu hú đội lốt hư không Nông. Đoài vòm trời thế gian đội lốt hư vô vũ trụ. Với những vai vế “ông”, “bác”, “dì”, “cậu”, “chú” rồi theo vòng xoay đảo lộn cho thấy muôn sự đều chuyển dịch theo lẽ tuần hoàn của vũ trụ tạo sinh, của Dịch.

Ta thấy chu kỳ đầu Bồ Nông là ông Bổ Cắt diễn tả sự sinh tạo, sáng thế ở cõi tạo hoá. Chu kỳ thứ hai Tu Hú là chú Bồ Nông là chu kỳ sinh tạo ở cõi tiểu vũ trụ thế gian khở đầu từ Tu Hú chim biểu của Tổ Hùng. Giờ Tổ Hùng có một khuôn mặt sinh tạo ở cõi thế gian lịch sử sinh ra Hùng Vương lịch sử. Rồi tiếp tục nữa, chu kỳ thứ ba lại lộn về vòng sinh tạo Tạo Hóa v à chu kỳ thứ 4 lại trở về vòng thế gian và tiếp tục mãi mãi như vậy.

Như vậy, bây giờ ta chuyển qua quái Đoài mang tính chủ.

Trường hợp thứ nhất Đoài đội lốt Càn tức Đoài thái dương nghĩa là Càn vẫn đứng đầu ngành ở trên hết nhưng chỉ mang tính biểu trưng (deus otiosus). Có hai thứ tự:

1. (Càn) Đoài Chấn Li.

Ta có một loại Dịch giống Việt Dịch Bầu Cua thế gian đồng quê theo chiều âm tức theo thứ tự là Bầu (Càn) Cua (Đoài) Cá (Chấn) Cọc (Hươu Li) và cũng giống Việt Dịch Đám Ma Cò ngành Càn Diều Hâu:

Con cò mắc dò mà chết,

Con diều xúc nếp làm chay.

Tu hú đánh trống ba ngày.

Bìm bịp nó dậy, nó bày mâm ra.

Con cuốc nó kêu u oa,

Mẹ nó đi chợ đường xa chưa về.

Con diều hâu là loài mãnh cầm có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời tức Càn nhưng diều hâu có tính bay lượn nên là Càn nhánh Gió Đoài. Tú Hú là chim biểu của Đoài vũ trụ Khí Gió. Bìm Bịp biểu tượng cho nước dương Chấn và Cuốc biểu tượng cho Đất âm, có Li Đất dương đại diện (Việt Dịch Đ ám Ma Cò). Nghĩa là ta có theo thứ tự Càn, Đoài, Chấn Li giống như ở trường hợp này.

2. (Càn) Đoài, Li Chấn.

Ta có Dịch Hùng Vương lịch sử Đoài gồm hai nhánh Hùng Kì Li và Hùng lạc Chấn tức Việt Dịch Hùng Vương Hồng Lạc.

Kết Luận

Sử truyền thuyết Việt dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng, nguyên lý căn bản cũa Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch. Vì thế Sử truyền thuyết Việt là một thứ Dịch tạo hóa: Viêm ĐếThần Nông nhất thể ứng với thái cực. Viêm ĐếThần Nông nhất thể phân cực thành Viêm Đế và Thần Nông ở tầng lưỡng nghi. Ở tầng tứ tượng ngành nọc dương thái dương, Viêm Đế sinh ra Đế Viêm và Đế Đế; Thần Nông sinh ra Đế Thần và Đế Nông. Ở tầng bát quái, bốn vị đế này sinh ra bốn tổ phụ Đế Minh Càn, Kì Dương Vương Li, Lạc Long Quân Chấn và Tổ Hùng Đoài vũ trụ. Ở ngành nọc âm thái dương ta có Bốn Tổ Mẫu Vụ Tiên Khôn, Long Nữ Khảm, Âu Cơ Tốn và Hoàng Hậu Tổ Hùng Cấn. Gộp lại ta có tám quẻ ba vạch hay bát quái.

Ngoài ra mỗi ngành, mỗi đại tộc ứng với một loại Dịch khác nhau.

Việt Dịch Sử Truyền Thuyết hiển nhiên khác với Dịch Hoa Hạ. Không thể dùng Dịch Hoa Hạ giải thích văn hóa Việt.

Các loại Dịch sử truyền thuyết này còn ghi khắc lại trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (xem Việt Dịch Đồng Ngọc Lũ I).

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: