VIỆT DỊCH (4): VIỆT DỊCH BẦU CUA.

 

VIỆT DỊCH

(4)

VIỆT DỊCH BẦU CUA.

Nguyễn Xuân Quang

.Qua sử miệng đồng dao Chim Nông-Chim Cắt, ta có Việt Dịch Chim Nông-Cim Cắt, một thứ Dịch Chim Tạo Hóa Đại Vũ Trụ Tổ Hùng Thần Nông-Viêm Đế.

.Qua sử miệng đồng dao Đám Ma Cò, ta có khuôn mặt chính là Dịch Sinh Tạo Tiểu Vũ Trụ Tổ Hùng ứng với Đế Minh và Dịch Hùng Vương Lịch Sử ứng với Thái Tổ Hùng Vương lịch sử gồm hai nhánh:

-Qua dị bản có Bổ Cu là trưởng ngành nọc dương thái dương ta có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc Thế Gian.

-Qua dị bản có Diều Hâu là trưởng ngành nọc âm thái dương ta có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng Thế Gian. Đây là Dịch Hùng Vương đội lốt Diều Hâu Đế Minh ngành nòng âm.

.Qua sử miệng đồng dao Thằng Bờm, một con dân Việt bằng xương bằng thịt, ta có ít nhất là hai thứ Việt Dịch Hùng Vương Đích Thực Nhân Gian, ở cõi Người Việt Mặt Trời, con cháu Tổ Hùng, Hùng Vương.

Một là Dịch theo hôn phối vợ chồng là Dịch Thằng Bờm Hùng Vương Đoài-Hoàng Hậu Cấn Hồng Lạc Nhân Gian. Dịch nàyTiên Thiên Bát Quái Thằng Bờm Hùng Vương Đoài-Vợ Cấn Phục Hy Hồng Lạc Nhân Gian là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nguyên thủy.

Hai là Dịch theo hôn phối đồng bản thể ruột thịt mẹ con là Dịch Thằng Bờm Hùng Vương Đoài-Mẹ Âu Cơ Tốn Hồng Lạc nhân Gian. Dịch này giống hệt Dịch Cửu Thần Enead Ai Cập, Thần Shu Đoài hôn phối với chị/em ruột Tefnut Tốn.

.Qua trò chơi giải trí dân gian Bầu Cua này ta có một thứ Việt Dịch khác. Trò chơi Bầu Cua của dân gian Việt thường chơi vào dịp lễ tết gồm có 6 thứ: Gà, Tôm, Bầu, Cua, Cá, Cọc (Hươu Sừng, xem dưới) toàn là những thứ quen thuộc ở ruộng đồng, vườn, ao hồ quanh quẩn bên dân quê Việt Nam (hươu nai cũng sống ở đồng cỏ, ta có Đồng Nai). Những thứ này hoàn toàn ở trên mặt đất đồng quê. Ta có một loại Việt Dịch Bầu Cua Đồng Quê.

VIỆT DỊCH BẦU CUA ĐỒNG QUÊ.

Hiện nay vì không biết trò chơi này diễn tả Dịch nên các nhà thương mại làm trò chơi này sai lệch rất nhiều. Ví dụ như thấy ở bàn Bầu Cua dưới đây: con Gà mang dương tính lại quay mặt về phía trái, chiều âm, Gà là  trưởng ngành nọc dương thái dương gồm có Bầu, Cọc lại để sai chỗ ở hàng dưới là ngành nọc âm thái dương Cua Cá (phải để ở hàng trên là hàng dương), tương tự con Tôm âm lại quay về phía tay phải, chiều dương, con Hươu ngành dương lại quay mặt về phía trái, chiều âm, con Cá là con cá vàng, đúng ra phải là con Cá chép, phải quay mặt về phía trái chiều âm, Con cua lại là con ghẹ biển, đúng ra phải là cua đồng.

clip_image002

Bộ Bầu Cua làm gần như hoàn toàn sai..

Vì thế tôi đã xuất bản tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, một bộ trò chơi mới gồm có sách và trò chơi thiết kế lại đúng theo Việt Dịch và viết bằng song ngữ Anh Việt giúp cho trẻ em Việt và người ngoại quốc chỉ cần chơi trò chơi này là hiểu được truyển thuyết, cổ sử và văn hóa Việt. Một phần sách đã đăng trên blog (xem Việt Dịch Bầu Cua).

clip_image004

clip_image006

Tác phẩm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc song ngữ Việt Anh gồm có sách và trò chơi.

Ở đây tôi dùng tên gọn lại gọi là Việt Dịch Bầu Cua thay vì Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc để có được tính cách bao quát hơn (vì đọc theo Bầu Cua Cá Cọc theo đa số hiện nay chỉ là đọc theo chiều âm, một trong hai chiều nòng nọc, âm dương của Việt Dịch Bầu Cua).

Trong bài này cũng chỉ xin vắn tắt nhắc lại những yếu tố liên hệ tới Dịch (các chi tiết khác xem Việt Dịch Bầu Cua).

Bầu Cua Cá Cọc Chứ Không Phải là Bầu Cua Cá Cọp.

Trên bàn Bầu Cua chỉ có con Hươu sừng, không có con Cọp vậy mà hiện nay thường được gọi là Bầu Cua Cá Cọp? Tại sao?

Thật sự ra, nguyên thủy, tổ tiên ta gọi là Bầu Cua Cá Cọc, ngày nay nói sai thành Bầu Cua Cá Cọp.

Xin tóm lược thật vắn tắt, sau đây là những lý do tại sao gọi Cọc thành Cọp:

1. Tiếng cổ Việt Cọc có nghĩa chung là nọc, đực, dương, bộ phận sinh dục nam, vật nhọn. Những con thú biểu tượng cho nọc, đực, dương, mặt trời, Việt gọi chung là con Cọc hay có tên biến âm của Cọc hay có nghĩa là nọc, cọc, que, vọt, vật nhọn, đực (như chim Cắt, Chim Rìu). Cọc mang trọn nghĩa của chữ Nọc (I, /\) trong chữ nòng nọc vòng tròn-que . Ở đây, ở cõi đất thế gian, con Cọc là một con thú bốn chân có cọc nhọn sừng tức con Hươu đực, Hươu Nọc, Hươu (có) Sừng, Hươu Việt. Sừng là vật nhọn là một thứ Cọc nhọn, một thứ Nọc nhọn mang dương tính.. Con Hươu sừng, hươu nọc là con Hươu Cọc, Con Cọc. Theo biến n = l như nòng súng = lòng súng, ta có nọc = Hán Việt lộc (hươu). Con lộc là con nọc, con cọc. Ta cũng thấy theo h = g (hóa chồng = góa chồng, ta có Anh ngữ hart (hươu đực, hươu sừng) = gạc (sừng). Hươu đực hart là hươu sừng có sừng, có gạc.

Nhìn vào bàn Bầu Cua ta thấy con Cọc chính là con Hươu ở góc trên bên trái.

2. Đọc sai Cọc (Hươu) thành Cọp theo kiểu biến âm chữ cuối c = p như chốc (đầu) = chóp (đầu).

3. Việt ngữ có từ cá cược (betting) có nghĩa là đánh cá, đánh cược, đánh cuộc. Từ cược là biến âm của cọc như tiền đặt cọc = tiền đặt cược. Cọc có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Cọc, cược biến âm với c…c vì thế để tránh thô tục nên mới nói là đánh cuộc cho thanh nhã.

Ta thấy rất rõ (biểu tượng cho nước thế gian) đi đôi với cọc (là con hươu biểu tượng cho lửa thế gian). Đánh cá cọc, cá cược là đánh “nước-lửa”, đen đỏ, xấp ngửa, âm dương để ăn thua. Ở bàn Bầu Cua, đánh cược, đánh cuộc là đánh con Cọc, con Hươu và đánh cá là đánh con Cá (Chép). Người Bắc hay nói đánh cuộc trong khi Trung Nam hay nói đánh cá. Người Bắc theo dòng Nọc Lửa phía con Hươu mặt trời, Hươu Cọc Kì Dương Vương, phía mẹ Âu Cơ. Theo truyền thuyết Mường Việt cổ mẹ Âu Cơ dòng nọc Lửa có hiểu tượng là co nai sao. Người Bắc phần lớn theo dòng Hươu Nai, có linh thú là con Nghê, con Li, con Kì (trong cặp kì lân). Trung Nam theo dòng Nòng Nước con Cá Chép An Dương Vương phía cha Lạc Long Quân. Trung Nam phần lớn theo dòng Cá Chép hóa Long, có linh thú là con Rồng Nước Lạc Long. Điểm sau này cũng dễ hiểu, vì đa số người Trung Nam có tổ tiên vốn là di dân từ vùng châu Hoan (châu Nước) thuộc địa bàn Cổ Loa cũ, Thanh Nghệ Tĩnh vào Trung Nam (dòng An Dương Vương, Lạc Long Quân). Một lần nữa ở đây qua hai từ cá cược cho thấy ngôn ngữ Việt Nam có hai dòng: ngôn ngữ miền Bắc nghiêng về dòng Nọc Lửa Hươu phía mẹ Âu Cơ và ngôn ngữ Trung nam nghinêg về dòng Nòng Nước cá Chép Lạc Long Quân (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Rõ như đen với đỏ qua trò chơi có một khuôn mặt cờ bạc đỏ đen này, ta thấy Cá đi với Cược, Cọc (Hươu) chứ không đi với Cọp. Con Cọp không phải là con vật chủ yếu được dùng trong trò chơi có tính cách cá cược này. Ta cũng thấy từ cá cược có thể phát gốc từ trò chơi có con cá chép và con hươu cọc này.

Tóm lại ta phải nói Bầu Cua Cá Cọc mới đúng nghĩa còn nói là Bầu Cua Cá Cọp là nói sai (xem thêm chi tiết trong Việt Dịch Bầu Cua).

Trò Chơi Bầu Cua và Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch.

Trò chơi có 6 thứ nhưng chỉ được gọi theo bốn thứ Bầu Cua Cá Cọc mà không nhắc tới Gà Tôm. Như thế Gà Tôm và Bầu Cua Cá Cọc là hai nhóm riêng rẽ, thuộc đẳng cấp, tầng lớp khác nhau, mang ý nghĩa thuộc hai diện khác nhau. Nhóm Tôm Gà không được nhắc tới là nhóm thứ yếu. Tôm Gà thuộc vào một diện và Cua Cá Cọc thuộc vào một diện. Ta thấy số 6 là số lão âm mang tính sinh thành, 6 = 2 + 4. Số 2 ứng với lưỡng cực, lưỡng nghi diễn tả bằng Gà Tôm và số 4 ứng với tứ tượng diễn tả bằng Bầu Cua Cá Cọc.

1. Tôm Gà: Lưỡng Nghi.

TÔM

Con tôm sống dưới nước có một khuôn mặt biểu tượng cho nước cõi thế gian nhân sinh. Tại sao gọi là con tôm? Về ngôn ngữ học, theo biến âm t=n như túm = núm, ta có tôm = nôm, nam. Nôm, nam có một nghĩa là nước. Cái nơm, người Nam có khi phát âm là cái nôm là vật bắt cá, liện hệ với nước. Cổ ngữ Việt nậm là sông, bầu nậm là bầu đựng nước, đựng rượu. Thái Lan ngữ nam cũng có nghĩa là nước như nam pla là ‘nước cá’ tức nước mắm, sông Mae Namsông Mẹ Nước (sông Cái). Tôm là con Nước đối nghịch với con Gà là con Lửa.

Con tôm là “con nước” nên Tôm biểu tượng cho Nòng, âm, thái âm, cho cực âm, dòng âm, Khôn, nước, phái nữ, bộ phận sinh dục nữ. Do đó dân gian Việt Nam mới ví con tôm he (tôm đỏ) với bộ phận sinh dục nữ (he là đỏ. He biến âm với hoe là đỏ như mắt đỏ hoe, biến âm với là mùa đỏ lửa).

Con Tôm biểu tượng cực âm, nước thái âm ở cõi nòng, âm thế gian. Tổng quát Tôm có một khuôn mặt đội lốt Thần Nông Tạo Hóa.

Con Tôm có nghĩa là Nước, sống dưới nước ứng với Thần (như đã biết Thần có một nghĩa là Nước) và đầu tôm bờm xờm như thấy qua câu Vè Cá Tôm: ‘Cái đầu bờm xơm là con tôm tít’, bờm biểu tượng cho gió (xem Việt Dịch Thằng Bờm) ứng với Nông. Như thế Tôm có một khuôn mặt biểu tượng sinh tạo thế gian của Thần Nông Tạo Hóa, Vũ Trụ.

Con Tôm trên bàn Bầu Cua thường diễn tả có hai càng to mầu đỏ nên con tôm càng  mang dương tính, thái dương biểu tượng cho nọc âm thái dương, theo ngành lửa, dương là mặt trời nọc âm thái dương của dòng âm, nước Thần Nông thuộc ngành mặt trời thái dương.

Lưu Ý

Xin nhắc lại Thần Nông-Viêm Đế ở dạng nhất thể thái cực, trứng vũ trụ và theo duy âm (âm có trước) là Thần NôngViêm Đế (viết dính nhau), còn theo duy dương là Viêm ĐếThần Nông. Nhìn dưới diện lưỡng nghi ta có Thần Nông là Thần Không Gian thái âm và Viêm Đế là Thần Mặt Trời thái dương.

Theo truyền thuyết, ở phía ngành nọc dương mặt trời thì Viêm Đế có hiệu là Thần Nông (ngược lại ở phía ngành nọc âm mặt trời thì Thần Nông có hiệu là Viêm Đế).

Trong cùng ngành nọc dương mặt trời thái dương Viêm Đế thì Viêm Đế là mặt trời nọc dương thái dương phía Kì Dương Vương và Thần Nông là mặt trời nọc âm thái dương phía Lạc Long Quân.

Theo một truyền thuyết thì Thần Nông thị là tộc Người Đầu Tôm. Rõ ràng Thần Nông Thị là Người ngành Nước thái âm (Khôn âm) đầu bờm xơm Gió thiếu âm (Khôn dương) tức Khôn. Thần Nông Đầu Tôm là của Đại Tộc Việt, hoàn toàn khác biệt với ông thần nông nghiệp, làm ruộng Thần Nông Đầu Bò của Hoa Hạ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

clip_image008

Thần Nông Đầu Bò có sừng nhỏ của Hoa Hạ.

 Xin đừng lầm lẫn Thần Nông tạo hóa, sáng thế của Đại Tộc Việt có đầu tôm với Thần Nông, ông thần nông nghiệp đầu bò của Trung Hoa.

Trên bàn Bầu Cua Cá Cọc, con Tôm biểu tượng cho ngành Nòng, Nước, âm, cực âm, ngành âm cõi thế gian, là hình bóng của ngành người Tôm Thần Nông ngành Thần Nông-Lạc Long Quân thì phải diễn tả đúng theo ý nghĩa của Tôm như vừa nói.

Vì thế trên Bàn Bầu Cua do tôi thiết kế, tôi đã diễn tả con Tôm với ba khuôn mặt:

-Con Tôm ở giữa mang tính sinh tạo, tạo hóa Thần Nông trên đầu có đĩa thái cực, Trứng Vũ Trụ có đuôi có chữ nòng nọc vòng tròn-que hình móc xoắn Nước Thầnđầu bờm xơm Nông Gió.

clip_image010

Tôm trên bàn Bầu Cua do tác giả thiết kế, hoạ sĩ Khánh Trường phác họa.

 Tôm có hai càng đỏ diễn tả hai nọc dương, thái dương.

-Con tôm ở trên cao nhất có mầu xanh lơ (bleu), mầu bầu trời diễn tả bầu trời sinh tạo và râu bờm xơm cường điệu biểu tượng cho gió. Tôm này diễn tả nhánh Nông Khí Gió thiếu âm, Khôn dương của ngành Thần Nông.

Đây là con tôm Nông.

-Con Tôm ở dưới bên trái toàn thân mầu xanh dương đậm, mầu nước thái dương (trong khi mầu đen là mầu thái âm của nước thái âm) và có đuôi xoắn hình móc nước. Tôm này diễn tả nhánh Thần Nước thái âm, Khôn âm của ngành Thần Nông. Đây là con tôm Thần.

Tóm lại con Tôm trên bàn Bầu Cua diễn tả cực âm ở tầng lưỡng nghi đồng quê thế gian, đội lốt cực âm tạo hóa ở tầng Tạo Hóa. Đối chiếu với truyền thuyết cổ sử Việt, Tôm biểu tượng cho ngành Thần Nông Thi Người Đầu Tôm, ở tầng lưỡng nghi thế gian đội lốt Thần Nông cõi sinh tạo tạo hóa.

Tôm Thần Nông lưỡng nghi này sinh ra đại tộc Thần Nước Chấn và Nông Không Khí Gió Đoài vũ trụ.

Tổng quát Gà có nghĩa biểu tượng trái ngược với Tôm.

Gà là loài chim. Cúm gà Anh Mỹ gọi là Cúm chim Bird flu.

Gà là loài chim mang dương tính. Ta có từ đôi gà qué nghĩa là gà = qué. Con gà là con qué, con que, con ke (bộ phận sinh dục nam). Anh ngữ cock, (Pháp ngữ coq) gà trống cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam. Cock, Coq chính là Việt ngữ cọc. Cọc biến âm với cược, c…c (Tiếng Việt Huyền Diệu). Nọc, cọc là đực, dương. Dương cũng có một nghĩa là mặt trời. Như thế gà là một loài chim mang dương tính biểu tượng cho Nọc (cọc, đực, mặt trời, dương, cực dương, dòng dương, phái nam…).

Gà cùng loài với chim trĩ. Chim trĩ thần thoại hóa thành chim phượng của Trung Hoa. Gà, trĩ, phượng là chim dương, chim lửa, chim mặt trời. Nước Pháp có quốc biểu chim là con gà sống coq vì France là tộc có nguồn gốc thờ mặt trời. France có gốc từ cổ ngữ Germanic *fronkon ‘javelin, lance’ (cây lao) giống như cổ ngữ Anh franca ‘lance, javelin’. Cây lao là vật nhọn như rìu, búa, việt biểu tượng cho nọc, vật nhọn, dương, mặt trời.

Gà trống Coq là Cọc. Lao nguyên thủy là cây Cọc nhọn. Hiển nhiên gà sống Coq, Cọc là chim biểu của người Franca, Lao cọc nhọn. Coq, Cọc và Lao cọc nhọn biểu tượng mặt trời. Vì vậy họ có quốc biểu chim là con gà sống, chim biểu của mặt trời thế gian

Người Pháp Franca, cây Lao giống Người Việt, cây Rìu Việt. Pháp cổ thờ mặt trời có chim biểu là con gà cọc Coq giống Người Rìu Việt Mặt Trời có chim biểu là chim Rìu bổ cắt. Con gà đất thế gian đội lốt chim Rìu bổ cắt tạo hóa (xem bài nói chuyện Việt Là Gì?).

Nhưng gà sống nhiều trên mặt đất nên là chim biểu của Mặt Trời Thế Gian, ở vùng đồng quê đội lốt chim cắt sừng, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa.

Như thế Gà đội lốt Viêm Đế có hai khuôn mặt Viêm lửa trời Càn, mặt trời vũ trụ và Đế Lửa đất Li, mặt trời đất thế gian. Vì sống trên mặt đất nên khuôn mặt Li-Đế mang tính chủ.

Vì mang khuôn mặt thế gian nên trên bàn Bầu Cua, con Gà được diễn tả đứng trên mặt đất chứ không đứng trên cây, trên nóc nhà hay đang bay.

Trên bàn Bầu Cua do tác giả thiết kế, con gà có ba khuôn mặt.

clip_image012

Con Gà trên bàn Bầu Cua do tác giả thiết kế, hoạ sĩ Khánh Trường phác họa.

Con gà ở giữa mang hình bóng tạo hóa Viêm Đế (nên người có hình thái cực, Trứng Vũ Trụ) quay mặt về phía phải, phía dương. Phía đầu mầu đỏ mang tính dương thái dương Càn ứng với Viêm và phần đuôi mầu vàng đất mang tính thiếu dương Li ứng với Đế. Vì vậy con Gà đội lốt Viêm Đế này khi phân cực sinh ra con gà đỏ bay ở trên (có phụ đề hình mây), quay mặt về phía dương tay phải (dương của dương là thái dương) ứng với Càn Viêm (có nửa đĩa thái cực trắng mang dương tính trên người) và con gà mầu vàng đất ở dưới đứng trên đất, quay mặt về phía âm tay trái (âm của dương là thiếu dương) ứng với Li Đế (có nửa đĩa thái cực đen mang âm tính trên người).

Tóm lại con Gà có một khuôn mặt là chim lửa thế gian biểu tượng cho dương, cực dương, ngành dương cõi thế gian, là hình bóng của chim Việt cắt sừng Viêm Đế vũ trụ, Thần Tổ Mặt Trời của Viêm Việt ở Cõi Tạo Hóa.

Tổng quát Tôm đội lốt Thần Nông và Gà đội lốt Viêm Đế biểu tượng cho Nòng Nọc, âm dương, Lưỡng Nghi ở cõi đồng quê thế gian.

2. Bầu Cua Cá Cọc: Tứ Tượng.

Như đã thấy Bầu Cua Cá Cọc thuộc về một diện khác, một nhóm khác. Ta thấy tổng quát Tôm Gà biểu tượng cho Nòng Nọc âm dương, Lưỡng Nghi. Như thế Nòng Tôm hôn phối với Nọc Gà sinh ra Tứ Tượng. Tứ Tượng chính là Bầu Cua Cá Cọc.

-BẦU

Bầu là một loại thực vật dây leo cùng họ nhà bí.

Bầu biến âm với bao, bọc. Qua từ đôi bầu bì ta có bầu = bì. Bì có nghĩa là bao bọc như cân trừ bì là cân trừ bao. Bì thư là bao thư. Bì là da như bì heo. Da là bao, túi bao bọc thân thể. Thái ngữ nang là da. Việt ngữ nang là bao bọc. Bướu nang (cyst) là bướu bọc. Vũ trụ là một cái bao, bọc nên gọi bầu vũ trụ; trời cũng là một cái bao, cái bọc nên gọi là bầu trời. Bọc trời vì thế cũng gọi là da nên ta có từ da trời. Ta có cùng họ nhà bầu. Bí biến âm với bì. Bầu biến âm với Anh ngữ pouch, bao, bọc, túi.

Như thế Bầu biểu tượng cho bầu vũ trụ, bầu trời, không gian.

Ngoài ra bầu là bao, bọc, túi cũng mang nghĩa sinh tạo vì thế bầu còn có nghĩa mang bầu, mang thai. Mang bầu là mang bọc, túi trong có thai nhi. Bọc túi đựng con gọi là dạ con. Dạ biến âm với da cũng có cùng nghĩa là bao bọc.

Tóm lại bầu là bao, túi sinh tạo, là bầu vũ trụ tạo hóa, bầu trời thế gian sinh tạo.

Như thế quả Bầu trên bàn bầu Cua mang nghĩa biểu tượng bầu vũ trụ tạo hóa, bầu trời sinh tạo. Ở đây có chủ thể ở cõi dân gian, đồng quê nên bầu là bầu thế gian sinh tạo đội lốt bầu vũ trụ tạo hóa.

Đối chiếu với truyền thuyết Việt thì chúng ta là Man, Mán, Mường có nghĩa là Người. Người là Tiểu Vũ Trụ con của Đại Vũ Trụ, của Bầu Vũ Trụ Tạo Hóa. Vì thế mà theo truyền thuyết Mường Việt, Người Tiểu Vũ Trụ Man Mán Mường Việt sinh ra từ quả bầu tạo hóa Đại Vũ Trụ. Người Việt từ quả Bầu chui ra trước nên có da trắng và người Mường và các sắc dân vùng cao chui ra sau nên có da đen hơn.

Trên trống đồng Ngọc Lũ I, những người-chim ngành nọc dương Người Việt Mặt Trời Thái Dương thuộc chủng Người-Man-Mán-Mường Tiểu Vũ Trụ. Chủng Người Tiểu Vũ Trụ sinh ra từ Bầu Đại Vũ Trụ diễn tả bằng người cuối cùng của nhóm bẩy người nhẩy múa có trang phục đầu hình quả bầu nậm.

clip_image014

Người Tiểu Vũ Trụ Man Mán Mường có trang phục đầu hình quả bầu nậm trên trống đồng Ngọc Lũ I (Giải Đọc Trống Đồng Đông Nam Á).

Tổ Hùng Vương sinh ra từ một bọc trứng thế gian, một bầu trứng mang hình bóng Bầu sinh tạo thế gian đội lốt Bầu Tạo Hóa. Hùng Vương thế gian đội lốt Tổ Hùng Đại và Tiểu Vũ Trụ.

Tổ Hùng có một khuôn mặt bầu trời, bầu tạo hóa, vũ trụ. Hùng Vương lịch sử có một khuôn mặt bầu trời sinh tạo thế gian đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa.

Bầu biểu tượng cho bầu tạo hóa, bầu sinh tạo nguyên tạo có thể diễn tả bằng hình cầu tròn, có thể dùng mầu xanh lá cây thiên nhiên.

Nhìn dưới dạng sinh tạo hữu tính phái thì quả bầu phải có nòng nọc, âm dương. Đây là loại bầu nậm mang tính nòng nọc, âm dương đề huề. Bầu nậm có cổ thẳng mang tính nọc (I) và phần phình bầu dưới mang tính nòng (O).

clip_image016

Bầu nậm cổ thẳng có nòng nọc, âm dương đề huề (nguồn : internet).

Vì thế theo đúng lẽ càn khôn thì trên bàn Bầu Cua phải vẽ loại bầu nòng nọc, âm dương này.

Quả bầu nòng nọc, âm dương này là nguyên lý lưỡng hợp nòng nọc, âm dương căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo Dịch lý. Vì thế nó và biến thể của nó (như hình hình chuông có cán úp, củ hành Tây…) thấy trên nóc của các kiến trúc tín ngưõng, thờ phượng của các tôn giáo chính, di duệ của Vũ Trụ giáo như Ấn giáo, Phật Giáo, Lão giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi Giáo… (xem Vũ Trụ giáo,)

Ta đã biết trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nòng nọc, âm dương liên tác sinh ra vũ trụ, muôn sinh muôn vật. Vũ trụ chia ra là tam thế, diễn tả bằng Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống mà ví dụ điển hình là Đẻn Đá Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống (Cơ Thể Học Trồng Đồng).

clip_image018

Đèn Đá Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống diển tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, khởi đầu từ chỏm quả bầu nậm mang tính nòng nọc, âm dương.

Như thế qua sự hiện diện của quả bầu trên bàn bầu Cua ta đã có ngay một ý niệm là bàn Bầu Cua diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ thuyết, Vũ Trụ giáo, Dịch ở cõi đồng quê thế gian.

Nhìn theo duy dương thì Bầu có thể là bầu cầu tròn mầu đỏ. Bầu tròn đỏ diễn tả lửa bầu trời, bầu vũ trụ tức lửa vũ trụ, lửa trời Càn. Đối chiếu với truyền thuyết, cổ sử Việt thì ứng với Viêm Đế Tạo Hóa.

Bầu cầu tròn biểu tượng co bầu vũ trụ tạo hóa vì thế trên bàn Bầu Cua ta không thấy quả bầu hình cầu tròn đỏ này mà chỉ thấy loại bầu có eo có mầu đỏ hay mầu vàng của cõi sinh tạo thế gian đồng quê. Vì cõi thế gian ứng với quẻ ba vạch nên loại bầu sinh tạo thế gian cũng có ba phần.

clip_image019

Quả bầu nậm có eo mầu vàng có ba phần phình tròn trên bàn Bầu Cua.

Lưu ý chóp cổ bầu cũng có hình tròn không phải hình nọc que.

Bầu có cổ tròn o, thân có eo chia ra làm hai phần bầu phình OO này diễn tả theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, đọc theo chiều âm từ trên xuống (vì bầu mang âm tính) ta có oOO, tức Khôn ứng với Vụ Tiên Nàng (O) Nước thái âm (OO) Khôn OOO. Quả bầu ở đây có mầu vàng là màu thái dương âm, mầu của Lạc Long Quân (Lạc Long Quân là Mặt trời Nước thái dương nên có thú, cá biểu mầu vàng như Trâu Vàng, Rùa Vàng, Cá Chép vàng). Bầu nậm này biểu tượng Khôn Vụ Tiên có Lạc Long Quân đại diện mang tính sinh tạo thế gian, đội lốt Thần Nông thái dương tạo hóa. Như thế các bàn Bầu Cua có vẽ hình bầu có một eo mầu vàng ba chỗ phình tròn thuộc nhánh nọc âm thái dương Vụ Tiên-Chấn Lạc Long Quân.

Trên bàn Bầu Cua của tác giả, bầu được diễn tả dưới hai khuôn mặt nọc dương thái dương Đế Minh và nọc âm thái dương Vụ Tiên-Lạc Long Quân.

clip_image021

Bầu trên bàn bầu Cua của tác giả.

(ở đây có một lỗi kỹ thuật là cổ bầu làm thẳng, phải làm hình tròn như đã sửa lại mới đúng).

 -Bầu Đỏ Lửa trời Càn ở trên (hàng dương) trong có hình mây diễn tả cõi trời ứng với Đế Minh sinh tạo cõi thế gian nên có hình đĩa thái cực, Trứng Vũ Trụ.

Như thế Bầu trên bàn Bầu Cua mang tính tạo hóa, sinh tạo, theo duy dương phía ngành nọc dương thái dương Viêm Đế-Đế Minh thì bầu phải là bầu nậm có cổ tròn có eo tạo ra ba chỗ phình tròn mầu đỏ ứng với Càn Khôn Đế Minh-Vụ Tiên.

-Bầu Vàng Nước dương Chấn ứng với Đế Lạc/Lạc Long Quân/Vụ Tiên ở dưới trong có phụ đề những chữ nòng nọc vòng tròn-que hình móc nước.

Chấn ở đây mang tính sinh tạo đại diện cho Nàng Nước Vụ Tiên Khôn, vợ Đế Minh Càn, đội lốt Thần Nông thái dương tạo hóa, tương với một thứ Đế Lạc ngang hàng với Đế Minh.

Lưu ý ở quả bầu vàng này có thêm hai dải mầu hồng biểu tượng cho Âu Cơ ‘phất phơ hai dải yếm đào gió bay’.

Tóm lại Bầu diễn tả Bầu Trời sinh tạo thế gian theo duy dương là Bầu Đỏ Càn Đế Minh và theo duy âm là Bầu Vàng Vụ Tiên/Đế Lạc/ Lạc Long Quân.

CUA

Cua giống rùa có mai giống mu rùa. Như đã biết Rùa thường đi với Phục Hy diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch. Rùa có đuôi và đầu diễn tả nòng nọc, âm dương hay có mu hình vòm biểu tượng cho vòm Trời và bụng phẳng vuông biểu tượng cho Đất. Trời Đất cũng là dạng lưỡng hợp của hai cực lưỡng nghi. Bốn chân biểu tượng tứ tượng. Việt Thường tặng Chu Thành Vương con rùa trẻn lưng có chữ khoa đẩu diễn tả sự việc từ lúc ‘mở ra trời đất’ chính là một thứ Dịch Rùa Việt Thường mà thường gọi là Lịch Rùa. Cua vì thế cũng diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch lý và còn trọn vẹn hơn rùa. Mai cua, bụng cua tương đương với mu rùa, bụng rùa và hai càng tương đương với đuôi và đầu rùa diễn tả lưỡng nghi. Nhưng Cua có 8 chân ứng với 8 quẻ ba vạch tức bát quái.

Nhìn dưới diện tứ tượng, mai cua hình vòm là vòm vũ trụ, vòm trời biểu tượng cho Đoài vũ trụ khí gió. Ở đây là thế gian đồng quê, mai cua biểu tượng cho Bầu Trời thế gian tức Gió. Trong thực tế có một loài cua gọi là Còng Gió.

Xin nhắc lại Phục Hy có mạng Đoài Gió đi với rùa giống hệt như Hùng Vương mạng Đoài Gió đi với Cua. Cua và Rùa hiển nhiên đểu diễn tả Dịch.

Con Cua sống được dưới nước mang âm tính (O) trên bàn Bầu Cua để ở phía tay phải tức phía dương (I) nghĩa là dương (I) của âm (O) tức IO thiếu âm, nguyên thể của khí gió Đoài vũ trụ.

Con Cua phải nằm cùng hàng với Tôm, Cá vì cả ba con đều có thể sống dưới nước thuộc nhánh mang âm tính. Nhánh nòng âm này phải để ở hàng dưới tức hàng mang âm tính (vì phía dưới gần cõi âm nên mang âm tính) thuộc nhánh Nòng âm.

Trên bàn Bầu Cua của tác giả Cua được diễn tả bằng ba khuôn mặt:

clip_image023

Cua trên bàn bầu Cua của tác giả.

Khôn mặt chính là Cua Hùng Vương đồng quê thế gian ở giữa có mai tròn bầu trời mầu xanh da trời trên mai có ma phương 3/18 của Hùng Vương Đoài. Số 3 là số Đoài.

Cua Hùng Vương này có hai nhánh:

-Nhánh cua thuộc ngành Lửa mẹ mang tính lửa dương mầu đỏ gạch, mầu đất để ở hàng trên, trên mai có ma phương 6/18 của Mẹ Âu Cơ có khuôn mặt Nàng (O) Lửa (II) tức Tốn OII, số 6 là số Tốn.

-Nhánh cua thuộc ngành nước thái dương có mầu nước dương của biển (ở đây có lỗi kỹ thuật là có mầu xanh lơ) ở hàng dưới trên mai có ma phương 9/18 của Cha Lạc Long Quân Chấn thế gian tầng 2 tức số 9. Số 9 là số Chấn.

Tóm lại con Cua diễn tả tượng Gió ứng với Đoài Gió.

Ở đây thuộc cõi đồng quê thế gian nên ứng với Hùng Vương Đoài Gió thế gian lịch sử.

Trên bàn Bầu Cua cá thường vẽ là cá Chép.

Như đã biết, cá chép hóa long là thú biểu của Vua Rồng Nước Lạc Long Quân.

Trên bàn Bầu Cua của tác giả cá được diễn tả bằng hai hình cá theo hai khuôn mặt dương, Tổ Phụ Lạc Long Quân và âm, nhánh Hùng Lạc.

clip_image025

Cá chép trên bàn Bầu Cua của tác giả.

Theo duy dương cá chép ở hàng trên quay mặt về phía tay phải, chiều dương có mầu vàng (ở đây bỏ mầu dương nước biến là lấy mầu lộn của con cá ở dưới) ứng với khuôn mặt thái dương âm của Tổ Phụ Lạc Long Quân ngành nọc thái dương.

Cá chép ở dưới mang âm tính quay mặt về phía trái, chiều âm có mầu dương nước biển (ở đây bỏ mầu lộn của con cá ở trên) ứng với nhánh Hùng Lạc theo Cha Lạc Long Quân xuống biển.

Tóm lại Cá Chép diễn tả quẻ ba vạch Chấn ứng với Lạc Long Quân.

Ở đây là cõi dân gian thế gian ứng với nhánh Hùng Lạc Lạc Long Quân.

CỌC

Con Cọc, con Hươu là thú bốn chân sống trên mặt đất có hai sừng diễn tả lửa, thái dương. Con Cọc hươu sừng là thú biểu của Đất lửa, đất dương ứng với Li.

Đối chiếu với truyền thuyết, cổ sử Việt thì Hươu Cọc ứng với Kì Dương Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Trên bàn Bầu Cua Hươu Cọc có sừng mang dương tính (I) phải nằm ở hàng trên dương nhưng ở phía tay trái, tức phía âm (O). Như thế Hươu Cọc mang khuôn mặt âm (O) của dương (I) tức thiếu dương OI ứng với quẻ ba vạch Li (IOI).

Trên bàn Bầu Cua của tác giả Hươu Cọc được diễn tả theo hai khuôn mặt dương Tổ Phụ Kì Dương Vương và âm nhánh Hùng Kì bằng hai con hươu:

clip_image027

Hươu Cọc trên bàn Bầu Cua của tác giả.

Con hươu ở hàng trên, dương quay mặt về phía tay phải chiều dương có mầu đất đỏ, trên người có những đốm sao đỏ 5 cánh diễn tả Đất dương Li (số 5 là số Li). Hươu Cọc dương này ứng với Tổ Phụ Kì Dương Vương Đất dương Li.

Con hươu ở hàng dưới mang âm quay mặt về phía trái, phía âm tính có mầu vàng hồng âm nữ thái dương trên người có những đốm trắng đen mang âm tính ứng với nhánh Hùng Lang theo Mẹ Âu Cơ lên núi. Người Mường thờ con hươu sao đốm biểu tượng cho Âu Cơ.

Tóm lại Hươu Cọc diễn tả quẻ ba vạch Li, Đất dương ứng với Kì Dương Vương.

Ở đây là cõi đồng quê, thế gian nên ứng với nhánh Hùng Kì Kì Dương Vương.

Tóm Lược

Như thế bàn Bầu Cua có:

-Tôm Gà diễn tả lưỡng nghi đồng ruộng thế gian đội lốt lưỡng nghi Thần Nông Viêm Đế Tạo Hóa Vũ trụ.

-Bầu Cua Cá Cọc diễn tả tứ tượng dương đồng quê thế gian. Tượng Bầu lửa trời Càn mang tính sinh tạo Tiểu Vũ Trụ là khuôn mặt truyền thuyết ứng với Đế Minh. Cua Gió Đoài vũ trụ ứng với khuôn mặt Hùng Vương thế gian lịch sử. Cá Chép Nước dương Chấn ứng với nhánh Hùng Lạc Lạc Long Quân thế gian và Coc Hươu Sừng Li Đất dương ứng với nhánh Hùng Kì Kì Dương Vương thế gian.

Việt Dịch Bầu Cua.

Bốn quái ba vạch Bầu Càn, Cua Đoài, Cá Chép Chấn và Hươu Cọc Li là tứ tượng dương hợp với tứ tượng âm Khôn, Cấn, Tốn, Khảm ta có Dịch Bầu Cua. Ta có ít nhất hai loại Dịch Bầu Cua dương âm theo cách đọc theo chiều dương, duy dương hay đọc theo chiểu âm, duy âm.

1. Việt Dịch Bầu Cọc Cá Cua Đồng Quê.

Nếu ta đọc theo chiều dương tức theo chiều ngược kim đồng hồ của ngành nọc mặt trời thì Bầu phải mang dương tính thái dương tức bầu sinh tạo của ngành nọc dương thái dương Viêm Đế-Đế Minh. Như vậy bầu ở đây phải là bầu cổ tròn thân có eo mầu đỏ lửa thái dương Càn. Ta có bầu nậm bầu Càn-Khôn, Đế Minh-Vụ Tiên.

Theo chiều dương này ta có bốn quái theo thứ tự Bầu Cọc Cá Cua tức Càn Li Chấn Đoài ở hàng trên (riêng Cua ở hàng giữa) của bàn Bầu Cua của tác giả.

Như thế theo chiều dương Bầu Cọc Cá Cua ta có một loại Dịch đồng quê thế gian viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que như sau:

clip_image029

Dịch Bầu Cọc Cá Cua Đồng Quê.

Ta thấy Bầu Càn ứng với Đế Minh, Cọc (Hươu Cọc) ứng với Kì Dương Vương, Cá ứng với Lạc Long Quân và Cua ứng với Tổ Hùng/Hùng Vương. Ta thấy Dịch theo duy dương này nếu nhìn dưới diện tạo hóa, sinh tạo thì là Việt Dịch Sử Truyền Thuyết trong đó các vị Tổ Phụ đều là những vị sáng thế. Cua ứng với Tổ Hùng (xem Việt Dịch Sử Truyền Thuyết).

Nhưng ở đây với các yếu tố Dịch đều mang tính đồng ruộng nên Tổ Hùng phải có khuôn mặt đồng quê, thế gian, lịch sử và Dịch Hùng Vương đồng ruộng phải mang tính chủ.

Nếu nhìn theo diện đồng quê này ta thấy Bầu Đế Minh sinh ra Hươu Cọc Kì Dương Vương. Kì Dương Vương đội lốt Đế Minh nên có khuôn mặt Tổ thế gian. Kì Dương Vương Lửa Đất lúc này là thái tổ sinh ra nhánh Cá Hùng Lạc Nước và nhánh Cua Hùng Lang Gió.

Theo như cổ sử viết thì Họ Hồng Bàng thế gian kể từ Kì Dương Vương trở xuống. Như vậy ở đây ta có một loại Dịch thế gian/lịch sử là Dịch Hồng Bàng thế gian (xem Dịch Hồng Bàng Kì Dương Vương).

Tóm lại

-Nhìn theo duy dương, diện tạo hóa, sinh tạo, sáng thế ta có Dịch Bầu Cọc Cá Cua Sử Truyền Thuyết Việt. Dịch này chỉ là thứ yếu vì đây là cõi đồng quê thế gian.

-Nhìn theo duy dương, diện đồng quê, thế gian, ta có Việt Dịch Bầu Cọc Kì Dương Vương hay Dịch Bầu Cua Hồng Bàng Thế Gian. Dịch sau này mang tính chủ.

.So Sánh với Dịch Chim Nông-Chim Cắt.

Ta thấy ngay có sự khác biệt là Dịch Chim Nông-Chim Cắt là Dịch ở cõi trên, cõi trời tạo hóa còn Dịch Bầu Cua là Dịch Đồng Quê Thế Gian. Vì thế nếu có điểm nào giống nhau thì chỉ có thể là Dịch Bầu Cua Thế Gian đội lốt Dịch Chim Nông chim Cắt mà thôi.

Ta thấy theo thứ tự Bầu nếu nhìn dưới diện là bầu đỏ, bầu lửa trời Càn ứng với thứ tự Chim Di Càn; Cọc Hươu Li Đất dương ứng với Sáo Sậu Li Đất dương ; Cá Chép Chấn ứng với Sáo Đen Chấn Nước dương và Cua Đoài vũ trụ ứng với Tu Hú Đoài vũ trụ. Bầu Cọc Cá Cua theo đúng thứ tự Di, Sáo Sậu, Sáo Đen, Tu Hú. Dịch Bầu Cọc nhìn dưới diện tạo hóa, sinh tạo giống Dịch Chim Nông Chim Cắt. Ta có Dịch Bầu Cọc có khuôn mặt Việt Dịch Sử Truyền Thuyết nhìn theo diện tạo hóa đội lốt Dịch Chim Nông Chim Cắt nhưng chỉ mang tính thứ yếu.

Nếu nhìn dưới diện đồng quê, thế gian đúng với những khuôn mặt Bầu Cua Cá Cọc đều ở cõi thế gian, như đã biết, ta có một loại Dịch Bầu Cọc Kì Dương Vương hay Hồng Bàng thế gian, hiển nhiên khác với Dịch Chim Nông-Chim Cắt tạo hóa, vũ trụ.

.So Sánh Với Dịch Đám Ma Cò.

Như đã biết, Dịch Đám Ma Cò là Dịch hai ngành Hùng Vương vì cò là chim biểu Gió của Hùng Vương Đoài.

Như thế ở bàn Bầu Cua này ở ngành nọc dương thế gian ta thấy rõ Dịch Bầu Cọc ngành Hùng Kì, Hồng Bàng Thế Gian khác hẳn với Dịch Đám Ma Cò ngành Hùng Vương.

So Sánh với Dịch Thằng Bờm.

Như đã biết, Dịch Thằng Bơm là Dịch Hùng Vương trực tiếp, khởi đầu ngay bằng Quạt Mo, vật biểu Gió của Hùng Vương Đoài khí Gió.

Như thế ta thấy ngay, theo duy duơng Dịch Bầu Cọc Kì Dương Vương, Hồng Bàng Thế Gian khác với Dịch Thằng Bờm.

.So sánh với Dịch Hoa Hạ.

-Chu Dịch

Như đã biết qua bài Dịch Thằng Bờm Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ là một dạng biến đổi của Tiên Thiên Phục Hy nguyên thủy, chính là Tiên Thiên bát Quái Thằng Bờm. Như thế khuôn mặt dương của Dịch Bầu Cọc là Dịch Bầu Cọc Kì Dương Vương, Hồng Bàng Thế Gian khác với DịchThằng Bờm thì hiển diên khác với Chu Dịch có Thiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

-Dịch Văn Vương

Không cần nói dài dòng, hiển nhiên Dịch Bầu Cọc Kì Dương Vương, Hồng Bàng Thế Gian khác với Dịch Văn Vương.

Tóm lại

Đọc theo chiều dương ta có Dịch Bầu Cọc Cá Cua gồm có hai loại Dịch. Ở cõi đồng quê, lịch sử ta có Dịch Bầu Cọc Cá Cua Kì Dương Vương hay Dịch Hồng Bàng Thế Gian. Dịch này mang tính chủ.

Ở Cõi Tạo Hóa ta có Dịch Bầu Cọc Cá Hùng Sử Truyền Thuyết Việt đội lốt Dịch Chim Nông Chim Cắt nhưng khuôn mặt này mang tính phụ, thứ yếu.

2. Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc Đồng Quê.

Bây giờ chúng ta đọc theo chiều âm, cùng chiều kim đồng hồ. Theo chiều âm này, ta có theo thứ tự là Bầu Cua Cá Cọc ở hàng dưới trên bàn Bầu Cua của tác giả (ngoại trừ Cua ở hàng giữa). Ta nhận thấy dân gian Việt Nam thường gọi theo chiều âm Bầu Cua Cá Cọc này ít khi (hay không bao giờ) gọi là Bầu Cọc Cá Cua. Tại sao? Xem dưới sẽ rõ.

Ở chiều âm này ta cũng xét dưới hai diện tạo hóa phụ và diện sinh tạo đồng quê, thế gian chính yếu.

a. Nhìn dưới diện Tạo Hóa Vũ Trụ.

Ở thứ tự âm này, theo diện Tạo Hóa có nghĩa là các khuôn mặt Bầu Cua Cá Cọc đều ứng với các khuôn mặt tạo hóa, sáng thế của các thần tổ truyền thuyết Đế Minh, Tổ Hùng, Lạc Long Quân, Kì Dương Vương. Ta thấy có Bầu Đế Minh đẻ ra Cua Hùng. Ông đẻ ra chắt. Tổ Hùng đẻ ra Cá Lạc Long Quân. Con đẻ ra cha. Lạc Long Quân đẻ ra Hươu Kì Dương Vương. Con đẻ ra cha. Dĩ nhiên hiểu theo thứ tự và nghĩa của các tổ phụ như thế không thuận lý.

Ở đây đọc theo chiều âm, các khuôn mặt Bầu, Cua, Cá, Cọc phải hiểu theo các khuôn mặt âm ngành Tổ Mẫu mới đúng. Các khuôn mặt Tổ Mẩu này hôn phối hay tương đồng bản thể với bốn khuôn mặt Tổ Phụ. Nói một cách khác bốn Tổ Mẫu nấp bóng bốn Tổ Phụ hay có bốn Tổ Phụ là đại diện trong ngành nọc âm thái dương, trong xã hội phụ quyền.

Vậy ta hãy đi tìm những khuôn mặt nữ do Bầu Cua Cá Cọc đại diện.

Trước tiên Bầu Đế Minh Càn, Chàng Lửa đại diện cho vợ Nàng Nước Vụ Tiên Khôn. Kế đến Cua Tổ Hùng Chàng Gió có khuôn mặt khí gió thiếu âm đại diện cho khuôn mặt nữ Nước thiếu âm Nàng Gió Khảm Long Nữ, vợ Kì Dương Vương. Tiếp nữa Cá Lạc Long Quân Chấn, Chàng Nước đại diện cho vợ Nàng Lửa Âu Cơ Tốn và cuối cùng Hươu Cọc Chàng Đất dương đại diện cho Hoàng Hậu của Tổ Hùng Nàng Đất âm Cấn.

Ta có đúng theo thứ tự vòng sinh tạo âm của ngành nòng âm Tổ Mẫu Việt Nam là Khôn Vụ Tiên đẻ ra Khảm Thần Long. Khảm Thần Long đẻ ra Tốn Âu Cơ. Tốn Âu Cơ đẻ ra Cấn Hoàng Hậu Tổ Hùng.

Rõ như ‘Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con Cua’ là theo chiều âm, Bầu Cua Cá Cọc diễn tả bốn Tổ Mẫu, Bốn Nàng của Việt Nam ứng với tứ quái âm nấp bóng sau bốn khuôn mặt Tổ Phụ, Bốn Chàng của với tứ quái dương.

Theo duy âm, ta có Bầu Cua Cá Cọc ứng với Đế Minh, Tổ Hùng, Lạc Long Quân , Kì Dương Vương đại diện cho Vụ Tiên, Thần Long, Âu Cơ, Hoàng hậu Tổ Hùng. Đây là Dịch ngành nọc âm thái dương phía Thần Nông thái dương Lạc Việt.

Như vậy dân gian gọi theo chiều âm là nghiêng về Dịch âm thái dương phía Thần Nông Lạc Việt. Dịch này cũng cho thấy Lạc Việt nguyên khởi theo mẫu hệ.

Tóm lại theo duy âm, ở cõi sinh tạo truyền thuyết, tất cả các tổ mẫu đều nhìn dưới diện truyền thuyết ta có Việt Dịch Hùng Sử Truyền Thuyết nọc âm thái dương qua sự hiện diện của các khuôn mặt Tổ Mẫu.

Hiển nhiên ỡ cõi đồng quê, thế gian Dịch này mang tính phụ và khuôn mặt nữ cũng mang tính phụ.

b. Nhìn dưới diện đồng quê, thế gian.

Nhìn dưới diện này thì Cua ứng với Hùng Vương lịch sử. Đây là Dịch Hùng Vương lịch sử theo duy dương đội lốt Bầu Đế Minh-Vụ Tiên mang âm tính, theo duy âm đội lốt Bầu Lạc Long Quân/Vụ Tiên (khuôn mặt Lạc Long Quân ở đây là khuôn mặt sinh tạo cõi trời tiểu vũ trụ ứng với Đế Lạc ngang hàng với Đế Minh).

Cá Chép ứng với nhánh Hùng Lạc Lạc Long Quân và Hươu Cọc ứng với nhánh Hùng Kì Kì Dương Vương. Ta có Dịch đồ sau đây viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que:

bau cua ca coc

Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Hồng Đồng Quê.

Ta có Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Hồng đồng quê.

Ta thấy rất rõ có các điểm đặc biệt sau đây:

-Đọc theo chiều âm nên quả bầu có thể là quả bầu âm, nước có cổ tròn, thân có eo mầu vàng biểu tượng cho nước dương Chấn IOO đại diện cho Nàng (O) Nước thái âm (OO) Vụ Tiên Khôn OOO mang tính chủ.

-Dịch mang tính âm ăn khớp với Dịch Lạc Hồng (có Lạc âm đứng trước Hồng Li).

-Dân gian gọi là Bầu Cua Các Cọc là gọi theo chiều âm ứng với nhánh Hùng Lạc mang tính chủ, nói một cách khác là gọi theo đại tộc Lạc Việt phía nọc âm thái dương Lạc Long Quân. Dịch này là Dịch Lạc Việt.

Ngoài ra đọc theo chiểu âm ta có các thứ tự Bầu Đế Minh, Cua Hùng Vương, Cá Lạc Long Quân, Hươu Cọc Kì Dương Vương, thứ tự này ăn khớp với câu ca dao:

Sinh con rồi mới sinh cha,

Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.

Đế Minh sinh con Hùng Vương rồi mới sinh cha Lạc Long Quân và sinh cháu Hùng Vương rồi mới sinh ông Kì Dương Vương.

.So Sánh với Dịch Chim Nông-Chim Cắt.

Vắn tắt, Dịch Bầu Cua Sử Truyền Thuyết tạo Hóa nọc âm thái dương nữ khác với Dịch Chim Nông-Chim Cắt.

Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Việt thế gian dĩ nhiên khác với Dịch Chim Nông Chim Cắt cõi tạo hóa.

.So Sánh với Dịch Đám Ma Cò.

Ta thấy Đám Ma Cò ngành Diều Hâu có Dịch Hùng Vương Lạc Hồng giống với Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Hồng ở đây nhưng chi tiết khác nhau. Khuôn mặt sinh tạo thế gian ở Dịch Đám Ma Cò là Diều Hâu ở đây là Bầu. Hùng vương ở Đám Ma Cò là con Tu Hú và Hùng Vương ở đây là con Cua. Như thế rõ ràng khác nhau là ở Dịch Đám Ma Cò có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng với khuôn mặt cõi trời Chim Diều Hâu, Tu Hú trong khi Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Hồng với khuôn mặt ruộng đất đồng quê cây Bầu và con Cua đồng.

.So Sánh với Dịch Thằng Bờm.

Dịch thằng Bờm là Dịch Hùng Vương trực tiếp hiển nhiên khác với Dịch Hùng Vương theo ngành Bầu của bàn Bầu Cua.

So sánh với Dịch Hoa Hạ.

-Chu Dịch

Bây giờ ta hãy so sánh với Chu Dịch qua Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy.

clip_image033

Theo Tiên Thiên Bái Quái Phục Hy theo chiều dương xếp theo thứ tự Càn Đoài Li Chấn hiển nhiên khác với Dịch Bầu Cua, theo duy âm là Dịch Hùng Vương Lạc Hồng có thứ tự Càn Đoài Chấn Li.

-Dịch Văn Vương

Không cần nói, Dịch văn Vương khác với Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Hồng Thế Gian.

Tóm lại bàn Bầu Cua cho ra các loại Dịch sau:

-Đọc theo chiều dương ta có Dịch Bầu Cọc Cá Cua.

Nhìn dưới diện đồng quê ta có Dịch Bầu Cọc Hùng Kì hay Hồng Bàng Thế gian mang tính chủ.

Nhìn dưới diện tạo hóa, vũ trụ ta có Việt Dịch Bầu Cọc Sử Truyền Thuyết. Dịch này mang tính phụ, thứ yếu.

-Đọc theo chiểu âm ta có Dịch Bầu Cua Cá Cọc.

Nhìn dưới diện đồng quê, thế gian, ta có Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Hồng của Lạc Việt mang tính chủ. Dân gian Việt Nam gọi theo chiều âm thế gian này là nghiêng về phía Lạc Việt Lạc Long Quân.

Nhìn dưới diện tạo hóa thì ta có Dịch Bầu Cua Nọc Âm Thái Dương trong đó các Tổ Mẫu nấp bóng sau lưng các Tổ Phụ. Dịch này mang tin1h phụ.

Bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của Nguyễn Xuân Quang.

Xin nói một chút về bàn Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc của Nguyễn Xuân Quang.

Ta thấy hiện nay mỗi bàn Bầu Cua chỉ diễn tả được một phần của một loại Dịch không trọn vẹn, chỉ đúng một phần vì người chế tạo không biết đây là Việt Dịch Bầu Cua. Tôi thiết kế ra một bàn Bầu Cua có những chi tiết diễn dịch đúng theo Dịch lý.

.Con Tôm đội lốt Thần Nông phải để cùng nhánh nòng âm Cua Cá ở hàng dưới (phía âm). Tôm quay mặt về phía tay trái, phía âm, có phần đuôi mầu xanh nước biển xoắn móc nước ứng với Nước Thần và đầu mầu xanh da trời có râu ria bờm xơm ứng với Gió Nông.

.Con Gà đội lốt Viêm Đế phải để cùng nhánh nọc dương Bầu, Hươu Cọc ở hàng trên, dương. Gà quay mặt về phía tay phải, phía dương, có phần đầu mầu đỏ ứng với Viêm lửa trời Càn và phần thân dưới mầu đất hoàng thổ ứng với Đế Đất dương Li. Gà diễn tả tách ra làm hai khuôn mặt Gà Viêm và Gà Đế.

.Bầu có ba khuôn mặt như đã nói ở trên.

.Cua là con cua đồng quay mặt về phía tay trái, phía âm có mai hình vòm trời cường điệu có mầu xanh da trời, có hình thái cực, Trứng Vũ Trụ là cua biểu của Hùng Vương.

.Cá là cá Chép vàng quay mặt về phía tay phải, phía dương là cá biểu của Tổ Phụ Lạc Long Quân đồng ruộng nước. Cá chép mầu xanh dương nước biển quay mặt về phía trái, âm diễn tả nhánh Hùng Lạc.

.Hươu Cọc màu đất đỏ, người có sao đỏ 5 cánh, quay mặt về phía tay phải, chiều dương, nằm ở góc trái hàng trên là thú biểu của Kì Dương Vương. Hươu mầu vàng có đốm quay mặt về phía trái, âm diễn tả nhánh Hùng Ki-Âu Cơ.

(Rất tiếc trong lần xuất bản đầu tiên này còn nhiều sai sót, lần tái bản sau sẽ sửa lại và bổ túc thêm).

Cách Chơi

1. Cách Chơi Thông Thường

Ai cũng biết cách chơi thông thường này ra sao rồi, tôi không cần nhắc lại.

2. Cách Chơi Theo Truyền Thuyết Cổ Sử Việt.

Nhà con có thể chọn cách chơi dựa vào truyền thuyết, huyền sử và cổ sử Việt, nghĩa là có thể chọn:

-Hai cửa mang tính sinh tạo ứng với hai vị Đế Minh-Vụ Tiên cõi trời thế gian đội lốt Thần Tổ tối cao, tối thượng Viêm Đế Thần Nông tạo hóa tức hai cửa Gà và Tôm. Nếu hai thứ này hiện ra cùng một lúc ở mặt trên của hai trong ba con súc sắc thì người đánh sẽ thắng. Giá trị thắng bằng gấp năm hay gấp mười số tiền hay vật đã đặt (tùy theo sự qui định lúc trước khi chơi của nhà cái và nhà con). Nếu không có hình giống nhau hiện ra đủ cả hai cửa thì nhà con bị thua (nếu chỉ hiện ra một trong hai con là Gà hoặc Tôm thì nhà con cũng thua).

-Ba cửa ứng với ba khuôn mặt của nhánh nọc dương thế gian là Bầu Lửa- Đế Minh, Hươu Cọc Đỏ Kì Dương Vương và Cua mầu gạch Hùng Vương (ở trên).

Thể thức ăn và thua giống như trên.

-Ba cửa ứng với ba khuôn của nhánh nòng âm là Cua đồng xanh lơ Hùng Vương ở giữa, Cá xanh dương nhánh Hùng Lạc và hươu vàng có đốm nhánh Hùng Kì-Âu Cơ.

Thể thức ăn và thua giống như trên.

-Ba cửa ứng với Tam Thế cõi nhân sinh là Cõi Trên Vòm Trời Con Cua xanh lơ ở giữa, Cõi Giữa, dương gian Con Hươu đỏ và Cõi Dưới Con Cá xanh nước biển.

Thể thức ăn và thua giống như trên.

-Bất kì ba cửa nào thuộc ngành Lửa tức phía Tổ Mẫu Âu-Cơ ví dụ như chọn chơi ba cửa Con Gà, Bầu Lửa Đế Minh, Hươu Lửa Kì Dương Vương.

Thể thức ăn và thua giống như trên.

-Bất kì ba cửa nào thuộc ngành Nước tức phía Tổ Phụ Lạc Long Quân ví dụ như chọn chơi ba cửa Con Tôm, Cua Hùng Vương và Cá Chép Lạc Long Quân.

Thể thức ăn và thua giống như trên.

-Đánh Âu Cơ với khuôn mặt non thế gian của nhánh Hùng Kì thì đặt ở cửa con Hươu Vàng có đốm.

-Đánh Âu-Cơ với khuôn mặt sinh tạo đẻ ra bọc trứng thì chọn đánh cửa Quả Bầu Vàng Nước Lạc Long Quân có hai dải yếm đào Âu Cơ.

-Đánh Lạc Long Quân với khuôn mặt Nước-lửa thế gian của nhánh Hùng Lạc thì đặt ở cửa con Cá chép ở dưới.

-Đánh Lạc Long Quân với khuôn mặt sinh tạo đội lốt Thần Nông đại diện cho Vụ Tiên thì chọn cửa Quả Bầu Nước mầu vàng Lạc Long Quân/Vụ Tiên.

-Đánh Hùng Vương chọn con Cua ở giữa.

. . . . . .

Giáo sư hay người dậy truyền thuyết, huyền sử và cổ sử Việt có thể chọn những cách chơi kết hợp các cửa khác nhau thích ứng với bài sử muốn dậy và có thể dùng bàn Bầu Cua để làm trắc nghiệm về sự hiểu biết của học viên về truyền thuyết, huyền sử, cổ sử Việt và Việt Dịch.

Kết Luận

Tóm tắt lại:

.Trò chơi dân gian Bầu Cua diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, là một thứ Việt Dịch Bầu Cua.

.Các yếu tố Dịch ở đây đều là những thứ mọc, hay sống trên mặt đất thế gian ở vùng đồng quê nên ta có Việt Dịch Bầu Cua Thế Gian Đồng Quê.

.Đọc theo chiều dương ta có Dịch Bầu Cọc Cá Cua.

Nhìn dưới diện thế gian đồng quê ta có Dịch Bầu Cọc Hùng Kì Kì Dương Vương hay Dịch Hồng Bàng Thế Gian Đồng Quê mang tính chủ.

Nhìn dưới diện tạo hóa, vũ trụ ta có Việt Dịch Bầu Cọc Sử Truyền Thuyết. Dịch này mang tính phụ, thứ yếu.

.Đọc theo chiểu âm ta có Dịch Bầu Cua Cá Cọc.

Nhìn dưới diện đồng quê, thế gian, ta có Dịch Bầu Cua Hùng Vương Lạc Hồng Thế Gian của Lạc Việt mang tính chủ.

.Ở đây Cua Hùng Vương đội lốt Bầu nên Dịch Bầu Cua Hùng Vương là Dịch nhánh Hùng Vương phía Bầu mang tính nọc âm thái dương làm trưởng ngành, khác với Dịch Hùng Vương Thằng Bờm là Dịch Hùng Vương trực tiếp.

.Dân gian Việt Nam gọi theo chiều âm thế gian Bầu Cua Cá Cọc này là nghiêng về phía Lạc Việt Lạc Long Quân. Dịch Hùng Vương Lạc Việt mang tính chủ.

.Nhìn dưới diện tạo hóa thì ta có Dịch Bầu Cua Cá Cọc Nọc Âm Thái Dương trong đó các Tổ Mẫu nấp bóng sau lưng các Tổ Phụ. Dịch này mang tính thứ yếu.

Các loại Việt Dịch này hoàn toàn khác với Chu Dịch và Dịch Văn Vương.

.Trò chơi Bầu Cua có mục đích diễn tả cái Cốt lõi của văn hóa cổ Việt là Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo, Dịch bằng hình ảnh, bằng trò giải trí một cách dân dã đầy lý thú, lôi cuốn. Bàn Bầu Cua có khuôn mặt chính là Việt Dịch Bầu Cua Lạc Việt Thế Gian Đồng Quê.

Muốn hiểu thông suốt văn hóa Việt phải dựa vào Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo, vào Việt Dịch để tìm hiểu. Không nhìn dưới lăng kính Dịch học thì không bao giờ hiểu thấu triệt đuợc văn hóa Việt.

Hãy học, dậy văn hóa Việt bằng Việt Dịch Bầu Cua.

Trò chơi Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc đầy hào hứng này là MỘT CÁCH THẬT LÀ DỄ DÀNG, DỄ HIỂU, DỄ NHỚ VÀ VUI THÍCH ĐỂ HIỂU, ĐỂ HỌC VÀ ĐỂ DẬY TRUYỀN THUYẾT VIỆT, HUYỀN SỬ VIỆT, CỔ SỬ VIỆT VÀ VIỆT DỊCH. Trò chơi Bầu Cua do tôi thiết kế theo đúng Việt Dịch, đúng truyền thuyết và cổ sử Việt là một trợ huấn cụ giúp cho các thầy cô, giáo sư, các nhà giáo dục dùng để giảng dậy truyền thuyết, cổ sử, văn hóa và Việt Dịch từ trình độ tiểu học cho tới đại học.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: