VIỆT DỊCH (2): VIỆT DỊCH ĐÁM MA CÒ.

VIỆT DỊCH

(2)

VIỆT DỊCH ĐÁM MA CÒ.

Nguyễn Xuân Quang

Ghi Chú 2.

Vì là Việt Dịch tôi cố gắng dùng các từ Dịch bằng Việt ngữ như Hán Việt hào có nghĩa là vết cạo, vạch, vẽ trên đất, đá, gỗ. Theo biến âm h=c như hủi = cùi, ta có hào = cạo, cào. Tôi dùng từ vạch thay cho cạo, cào, hào. Tôi dùng từ quẻ thay cho quái. Quẻ, quái có gốc là que. Que, thẻ có khắc ba vạch (quái) tôi gọi là quẻ ba vạch (trigram)…

 

*

*           *

Xem phần dẫn nhập ở Việt Dịch Chim Nông Chim Cắt.

Kỳ rồi tôi đã viết về Việt Dịch các loài chim Nông-Chim Cắt, một thứ Dịch Chim, Dịch Tạo Hóa, Sáng Thế ở cõi trên Thượng Thế, Đại Vũ Trụ ứng với Thần Nông-Viêm Đế. Bài này cũng là Dịch các loài chim viết về Dịch Sinh Tạo, Đấng Sinh Tạo Thế Gian, Tiểu Vũ Trụ ứng với Tổ Hùng truyền thuyết, tổ của Hùng Vương lịch sử.

Lưu Ý

Xin nhắc lại là cần phải phân biệt ba khuôn mặt của Tổ Hùng:

-Một là Tổ Hùng Tạo Hóa Đại Vũ Trụ.

Đây là Tổ Hùng Tạo Hóa truyền thuyết thuộc cõi Tạo Hoá Đại Vũ Trụ đội lốt ứng với Viêm Đế Thần Nông thái dương.

-Tổ Hùng Sinh Tạo Thế Gian Tiểu Vũ Trụ ứng với Đế Minh. Đây là khuôn mặt thế gian đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa Đại Vũ Trụ Viêm Đế Thần Nông. Đế Minh đội lốt Viêm Đế nên Đế Minh vẫn còn gọi là Đế, vẫn thuộc về truyền thuyết.

-Tổ Hùng Lịch Sử

Đây là Tổ của các vị Hùng Vương lịch sử (bằng thịt bằng xương) không mang khuôn mặt truyền thuyết. Tổ Hùng Vương lịch sử, tôi gọi là Thái Tổ Hùng Vương đội lốt Tổ Hùng Tiểu Vũ Trụ và Tổ Hùng Đại Vũ Trụ. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời Hùng Vương lịch sử là Vua mặt Trời Thái Dương dòng thần mặt trời Viêm Đế và Đế Minh, cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế. Hùng Vương lịch sử tương đương với dòng vua mặt trời Pharaohs Ai Cập cổ.

Nếu chỉ nhìn trong cùng ngành nọc mặt trời thái dương Việt mặt trời thôi thì Hùng Vương lịch sử gồm có hai nhánh là nhánh Nọc dương thái dương, Lửa dương Kì Dương Vương, tôi gọi là Hùng Kì và nhánh Nọc âm thái dương, Nước dương Lạc Long Quân, tôi gọi là Hùng Lạc.

Về Vũ Trụ Tạo Sinh, tổng quát Tổ Hùng có mạng Đoài. Hùng Vương lịch sử có mạng Đoài bầu trời thế gian, gió, không khí (nên ở châu Phong, Bạch Hạc) đội lốt Tổ Hùng Đại Vũ Trụ Đoài khí vũ trụ (ether). Ở cõi đất thế gian Hùng Vương có thêm mạng Đoài thế gian đầm ao. Khuôn mặt Đoài thế gian ao đầm này của Hùng Vương lịch sử thấy qua địa danh Việt Trì (Ao Việt), thủ đô của Hùng Vương lịch sử và Hạc Trì (Ao Cò) thuộc đất Phong Châu (Châu Gió).

Việt Dịch Đám Ma Cò.

Qua bài Con Cò Lặn Lội Bờ Ao trong tác phẩm Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, qua bài Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Của Đại Tộc Đông Sơn trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, qua bài Chim Lạc hay Cò Lang?… chúng ta đã biết Cò là chim biểu của Hùng Vương. Như đã biết, hầu hết trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn trên mặt trống đều có hình cò Lang bay. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Hùng Vương, của liên bang Văn Lang.

Vì thế trong ca dao tục ngữ Việt Nam, ta thấy cò khi chết được làm đám ma trọng thể gần như là quốc táng. Tất cả các ngành, các tộc của Văn Lang đều đến tham dự. Không một loài chim nào khác khi chết được làm đám ma trọng thể như thế.

Đặc Tính của Cò.

Cò là loài chim lội nước chân không có màng.

Cò dính tới nước nghĩa là mang tính âm nhưng không phải là thái âm (nước). Cò không phải là loài chim nước chân có màng mang tính thái âm như chim nông, ngỗng, vịt, le le. Cò không phải là loài chim nước, bơi lội được, vì thế mà vì đàn con đói ăn, cò mẹ phải đi kiếm ăn ban đêm tìm mồi về nuôi con. Cò mẹ khi lỡ “đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao” thì phải kêu cứu ‘Ông ơi ông vớt tôi vào’ như thấy qua bài ca dao:

Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi ông vớt tôi vào,

Tôi có lòng nào ông hãy sáo măng,

Có sáo thì sáo nước trong,

Đừng sáo nước đục đau lòng cò con.

 Chim nước mang tính thái âm (OO), Khôn âm của nước. Cò lội nước cùng ngành nòng Khôn với chim nước nhưng cò mang dương tính là Khôn dương, khí gió nên mang tính thiếu âm (IO). Cò có mỏ dài nhọn mang dương tính nọc I. Cò biến âm với cồ (đực). Cò là khuôn mặt dương, nọc I của ngành nòng O tức IO, thiếu âm nguyên thể của gió. Khôn dương là khí gió (khôn âm là nước).

Cò có bản thể là gió, biểu tượng cho gió thấy đầy dẫy trong ca dao tục ngữ qua hình ảnh con cò bay, liệng: ‘con cò bay lả bay la…’…

Vì thế cò, đặc biệt là cò bờm [bờm, buồm, bướm liên hệ tới gió, (xem dưới)], cò trắng, cò lang là chim biểu của gió ứng với Đoài vũ trụ, khí, bầu trời, gió. Mầu trắng, trong là mầu của khí, gió. Ta thấy rõ như ban ngày cò trắng, cò Lang là chim biểu của Tổ Hùng, Hùng Vương có mạng Đoài vũ trụ, bầu trời.

clip_image002

Cò Lang trên trống đồng Ngọc Lũ I có bờm hình phướn gió, có cánh hình thảm thần Ả Rập bay lướt gió, có mỏ dài, nhọn cường điệu mang dương tính.

Hùng Vương có mạng gió nên đóng đô ở Châu Phong, có chim biểu cò Lang, cò trắng nên có địa danh Bạch Hạc (Cò Trắng). Do đó những bài đồng dao về đám ma cò đều liên hệ tới Tổ Hùng, Hùng Vương (xem Con Cò Lặn Lội Bờ Ao).

Bài đồng dao về Đám Ma Cò có nhiểu dị bản. Đây có thể do các nhánh, các tộc khác nhau như nhánh Lửa Hùng Kì Âu Cơ hay nhánh nước Lạc Long Quân làm ra. Vì thế mỗi dị bản của bài đồng dao về Đám Ma Cò ứng với một loại Dịch Hùng Vương khác nhau. Ít nhất là có hai loại Dịch, một của nhánh Lửa Hùng Kì Âu Cơ, hai là của nhánh Nước Hùng Lạc Lạc Long Quân.

Tôi chọn viết trước tiên dùng dị bản có khuôn mặt Đoài, tức là khuôn mặt của Cò Hùng Vương đứng trên hết trong ba quẻ ba vạch thế gian lịch sử Li, Chấn, Đoài.

1. Dịch Đám Ma Cò Dị Bản 1.

-Dịch Đám Ma Cò Lạc Hồng Thế Gian/Lịch Sử.

Ta có một dị bản như sau:

Con cò mắc dò mà chết,

Con diều xúc nếp làm chay.

Tu hú đánh trống ba ngày.

Bìm bịp nó dậy, nó bày mâm ra.

Con cuốc nó kêu u oa,

Mẹ nó đi chợ đường xa chưa về.

Từ “dò” biến âm với “rọ”, “giỏ” là cái bẫy chim. “Con cò mắc dò mà chết” là con cò mắc vào bẫy rọ, bẫy giỏ mà chết.

-Diều Hâu

Qua bài này ta thấy con Diều Hâu đứng đầu, là trưởng ngành.

Diều hâu xúc nếp làm chay.

Hai từ xúc nếp cho thấy bài này thuộc nhánh làm ruộng Lúa Nước Lạc Điền, Lạc Việt mang tính chủ.

Làm chay là làm ma chay.

Diều Hâu là loài mãnh cầm biểu tượng cho lửa, thái dương, mặt trời (ta có từ phe diều hâu mang tính võ biền, hiếu chiến). Tuy nhiên Diều Hâu có đặc điểm là bay liệng. Bay liệng biểu tượng cho gió. Con cò bay liệng là chim biểu của gió, của Hùng Vương có mạng Đoài khí gió. Con bướm cũng có đặc tính bay liệng nên có tên là con bay. Qua từ đôi bay bướm, ta có bay = bướm. Anh ngữ butterfly là ‘con bay người có phấn nhờn như bơ’. Bướm biến âm với buồm, vật cản gió giúp thuyền lướt đi. Như thế Diều Hâu là chim thái dương, lửa trời Càn của nhánh gió mang tính chủ và xúc nếp liên hệ với Nước nghĩa là của ngành Khôn Gió-Nước (Khôn dương là Gió và Khôn âm là Nước) Thần Nông.

Diều Hâu ứng với Càn Đế Minh nhưng với đặc tính bay liệng là hậu thân của thần Thần Nông thái dương đứng ra “xúc nếp làm chay”.

Qua con chim Diều Hâu biểu tượng cho ngành nọc âm thái dương này ta biết ngay dị bản này diễn tả một thứ Dịch có tính nọc âm mang tính chủ tức khuôn mặt Thần Nông-Lạc Long Quân mang tính chủ. Diều Hâu khác Bổ Cắt mặc dù cùng mang tính thái dương, lửa. Chim Cắt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế cũng ứng với Càn nhưng của ngành nọc dương thái dương Viêm Đế-Kì Dương Vương (xem dưới).

Điểm này cũng giải thích tại sao Tu Hú biểu tượng cho gió đứng liền sau Diều Hâu bay liệng trong bài hát này.

-Tu Hú

Tu hú đánh trống ba ngày.

Như đã biết qua bài Chim Nông Chim Cắt, Tu Hú là chim biểu của Gió Đoài ứng với Tổ Hùng, Hùng Vương.

“Đánh trống ba ngày”. Trống có một khuôn mặt liên hệ với không gian, gió. Ta có từ đôi trống không nghĩa là trống = không. Không là hư không, không gian, khí gió. Ông Dóng Phù Đổng Thiên Vương là ông Dóng Trống (Đánh Trống), ông Thần Sấm. Phù là Nổi liên hệ với Dông (gió nổi, nổi gió), Đổng là Động là Sấm. Qua từ đôi chấn động ta có chấn (sấm) = động. Phù Đổng Thiên Vương là ông Vua Trời Thần Dóng Trống Sấm Dông cùng bản thể với Hùng Vương Gió dương nên mới giúp Hùng Vương thứ 6 đánh giặc Ân. Số 6 là số Tốn là gió âm có đại diện là Đoài gió dương, gió dông.

Như vậy đánh trống cho thấy Tu Hú liên hệ với gió dông, gió dương Đoài khí gió.

Tại sao đánh trống ba ngày mà không hai, năm ngày (câu thơ cần vần bằng)? Số 3 là số Đoài.

Tóm lại Tu Hú đánh trống ba ngày diễn tả Đoài khí gió hết sức tuyệt vời.

Như đã nói ở trên, Tu Hú Gió chim biểu của Hùng Vương Đoài khí gió đứng ngay sau Diều Hâu Càn phía nòng Khôn có khuôn mặt bay liệng gió mang tính chủ. Điều này cho thấy Tu Hú Hùng Vương Đoài khí gió đội lốt Càn Đế Minh của ngành nọc âm thái dương là khuôn mặt chủ trong bài hát này. Dịch diễn tả qua dị bản này cho thấy là Dịch Đám Ma Cò mang tính đích thực, chính thống, chính qui.

Tu Hú chim biểu của Gió Đoài ứng với Hùng Vương Đoài khí gió.

-Chim Bìm Bịp.

Bìm Bịp nó dậy, nó bầy mâm ra.

Theo bài Vè nói về Chim thì Bìm bịp là loài chim nước có chân như chân vịt:

 Gặp thêm một bác bìm bìm,

Chân thì chân vịt, mình chim mới tài…

(Vè Chim).

Nhưng trong thực tế có loài bìm bịp chân không có màng. Dù gì thì bìm bịp mang hình ảnh chính là gắn liền với nước lụt. Cứ nghe tiếng bìm bịp kêu là biết mùa nước lên hay có lụt. Lũ lụt là nước chuyển động, nước dương. Do đó bìm bịp ứng với Nước dương Chấn, là chim biểu của Chấn Nước dương Lạc Long Quân.

Bìm Bịp ứng với quẻ ba vạch Chấn.

-Cuốc

Con cuốc là loài chim thuộc họ nhà gà-nuớc sống bên bờ nước, Anh ngữ gọi là ‘water-hen’. Cuốc cùng âm với quốc (quốc gia) được cho là chim biểu của đất nước: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc (Bà Huyện Thanh Quan). Cuốc = Hán Việt quốc, đất nước.

Con Cuốc họ nhà gà sống nhiều trên mặt đất nhưng ở bên bờ nước nên biểu tượng cho đất âm.

Tại sao ở đây không dùng loài chim biểu tượng cho đất dương Li như con Sáo Sậu, Sáo Đá thấy trong bài Chim Nông-Chim Cắt mà dùng con Cuốc biểu tượng cho đất âm Cấn?

Vì ở đây thuộc nhánh Diều Hâu. Như đã nói ở trên Diều Hâu là loài mãnh cầm mang tính lửa thái dương nhưng có tính bay liệng trong gió nên là loài chim thái dương của phía nòng âm Khôn Thần Nông.

Câu cuối Mẹ nó đi chợ đường xa chưa về cho thấy rõ con cuốc thuộc về dòng mẹ, âm nên Đất là Đất Mẹ, là đất âm Cấn, Non ứng với Âu Cơ Cấn (đưa năm mươi con lên núi).

Cuốc diễn tả Đất âm Cấn ứng với Âu Cơ Cấn có Li đất dương Kì Dương Vương đại diện (tức Âu Cơ Cấn, núi âm, non thuộc ngành lửa Kì Dương Vương Li, núi dương). Âu Cơ Cuốc Cấn Non hôn phối với Lạc Long Quân Bìm Bịp liên hệ với nước dương lũ lụt Chấn (Lạc Long Quân cũng có một khuôn mặt nước dương, nước động, Biển thường nói tới).

Tóm lược :

Như thế ta có theo thứ tự bài hát là Diều Hâu Càn Đế Minh, Tu Hú Đoài Hùng Vương, Bìm Bịp nhánh Chấn Lạc Long Quân và Cuốc nhánh Li Kì Dương Vương.

Ta có một loại Dịch xếp theo thứ tự các quẻ ba vạch Càn Đoài Chấn Li. Dịch này đích thực là Dịch Hùng Vương lịch sử vì có quẻ ba vạch Đoài Tu Hú đứng trên hết (Diều Hâu Càn Đế Minh mang khuôn mặt truyền thuyết không kể).

clip_image004

Dịch Hùng Vương Lạc Hồng thế gian.

Ở diện Hùng Vương thế gian/lịch sử ta có Hùng Vương Đoài Tu Hú sinh ra hai nhánh Hùng Lạc Lạc Long Quân Bìm Bịp và nhánh Hùng Kì Kì Dương Vương Âu Cơ con Cuốc.

Theo duy dương, Dịch này là Dịch Hùng Vương Lạc Âu, một thứ Dịch Hùng Vương Lạc Hồng thế gian.

Điểm này thấy rõ qua các yếu tố:

.Chấn Bìm Bịp Lạc Long Quân đi trước Cấn/Li Cuốc Âu Cơ nên Lạc đi trước Hồng. Ta có Dịch Hùng Vương Lạc Hồng Thế gian.

.Theo duy dương, Lạc Long Quân Biển hôn phối với Âu Cơ non đích thực là Dịch Lạc Âu, Lạc Hồng thế gian, lịch sử.

.Nhưng rõ nhất là dị bản 1 có Diều Hâu, chim biểu của Càn Đế Minh phía nọc âm thái dương Thần Nông Lạc Long Quân thái dương nên Dịch Đám Ma Cò ở dị bản Diều Hâu này là DịchHùng Vương Lạc Hồng thế gian phía Cha.

Như thế dị bản 1 Diều Hâu Càn Đế Minh có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng phía Lạc Long Quân là điều hiển nhiên và chí lý.

-Dịch Đám Ma Cò Hồng Lạc Thế Gian/Lịch Sử.

Bây giờ đọc theo chiều âm, theo duy âm, ta có Đoài Li Chấn (Càn thuộc về cõi trời truyền thuyết để qua một bên). Ta có Dịch Hùng Vương Âu Lạc, một thứ Dịch Hùng Vương Hồng Lạc thế gian/Lịch Sử.

Tóm lược

Dị bản này chí lý vì để quái Đoài Tu Hú Hùng Vương trên hết ngay sau Càn Diểu Hâu Đế Minh. Đây đích thực là khuôn mặt Dịch Hùng Vương. Dị bản này có hai loại Dịch. Theo duy dương ta có Dịch Đám Ma Cò Lạc Hồng Lịch sử và theo duy âm ta có Dịch Đám Ma Cò Hồng Lạc lịch sử. Ta thấy cũng rất ăn khớp là theo duy dương thí Lạc Lạc Long Quân đứng trước ta có Lạc Hồng và theo duy âm ta có Âu Cơ đứng trước ta có Hồng Lạc.

Lưu Ý

Chúng ta thường nhận mình là con Hồng cháu Lạc hay con Lạc cháu Hồng. Khi thì là Hồng Lạc khị thì là Lạc Hồng. Sở dĩ nói xuôi nói ngược như vậy là dựa vào tính nòng nọc, âm dương, cái đực của hai nhánh Lang Hùng. Theo duy dương, ở ngành nọc dương Viêm Đế-Kì Dương Vương-Âu Cơ, ta nói là Hồng Lạc theo chim Hồng mang dương tính nói trước. Theo duy âm, ở ngành nòng âm Thần Nông-Lạc Long Quân, ta nói Lạc Hồng theo Rắn Lạc (nước) mang âm tính nói trước.

Hồng mang tính dương, nọc và Lạc mang tính âm, nòng vì thế Hồng Lạc, Lạc Hồng phải hiểu, phải nhìn dọc suốt theo qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh nghĩa là phải nhìn dưới diện của cả Tam Thế.

Ở Thượng Thế, theo nòng nọc, âm dương đối cực ta có  Lạc là Rắn Nước thái âm và Chim Lửa Hồng thái dương. Ở cõi trên, Lạc Hồng là hai loài chim, hai vật tổ chim. Lạc là chim Lạc, một loài chim Nác, chim Nước chân có màng. Đây chính là con Nông. Hồng là chim Hồng. Hồng là đỏ. Đỏ là lửa, mặt trời. Hồng là Hùng (đực), dương, mặt trời. Chim Hồng biểu tượng cho nọc, dương, mặt trời. Đây chính là chim cắt, chim rìu Hồng Hoàng.

Ở cõi trời thế gian Trung Thế, theo duy âm là loài chim Lạc nước nhưng có thể sống nhiều trên mặt đất như le le, ngỗng, vịt cùng dòng với chim Nông ở cõi thượng thế, Tạo Hoá. Ta thấy rõ chim nông và ngan ngỗng cùng loài chim nước chân có màng qua từ Hán Việt đường nga gọi là chim nông. Nga cũng có một nghĩa là ngỗng, thiên nga. Theo duy dương, Hồng là một loài chim lửa sống nhiều trên mặt đất như chim trĩ  (thấy trên nóc nhà mái cong đầu đao thờ mặt trời trên trống Ngọc Lũ I), gà (thấy ở trò chơi Bầu Cua).

Trên mặt đất, Hồng Lạc là hai loài thú bốn chân, Hồng là hùng đực, nọc, cọc. Đây là con hươu sừng (ứng với Kì Dương Vương) và Lạc là con thú sống được dưới nước như con trâu nước, cá sấu…

Ở đây theo Hùng Vương lịch sử, Hồng Lạc phải hiểu theo nghĩa thế gian như vừa nói ở trên. Theo ngành nọc, dương lửa Viêm Đế-Kì Dương Vương Âu Cơ thì là Hồng Lạc và theo ngành nòng âm nước Thần Nông Lạc Long Quân là Lạc Hồng.

2. Dịch Đám Ma Cò Dị Bản 2.

-Dịch Đám Ma Cò Hồng Lạc Thế Gian/Lịch Sử 2.

Ta có một dị bản khác của bài đồng dao Đám Ma Cò:

Con cò chết rũ trên cây,

Bổ cu mở lịch xem ngày làm ma,

Cà cuống uống rượu la đà,

Bao nhiêu ếch nhái nhẩy ra chia phần.

Chào mào thì đánh trống quân,

Chim chích cởi trần, vác mõ đi rao.

 

.Bổ Cu

Bổ Cu trong dị bản này là trưởng ngành.

Như đã biết, Bổ Cu là chim bổ cắt, biểu tượng cho Lửa vũ trụ, lửa trời, Càn, cực dương.

Chim bổ cu, bổ cắt, chim rìu, chim Việt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế, có một khuôn mặt trưởng ngành đại diện cho ngành nọc mặt trời thái dương, tức của họ Người Việt mặt trời thái dương đứng ra làm chủ lễ chọn ngày lành, giờ tốt, cử hành đám ma: “bổ cu mở lịch xem ngày làm ma” là vậy.

Cái hay ở đây là ‘Bồ Cu mở lịch’. Người xưa dựa vào mặt trời làm lịch gọi là lịch mặt trời. Người Aztec có lịch mặt trời khắc trên đá. Bồ Cu mặt trời mở lịch mặt trời ra xem ngày thì chắc chắn chọn được ngày lành tháng tốt để cử hành đám ma không sợ bị trùng!

Bổ Cu có một khuôn mặt Càn của ngành nọc dương thái dương Viêm Đế trong khi Diều Hâu cũng có khuôn mặt thái dương nhưng của ngành nọc âm Thần Nông thái dương.

Qua khuôn mặt Bổ Cu làm trưởng ngành ta biết ngay dị bản này diễn tả một loại Dịch có khuôn mặt ngành nọc lửa thái dương Viêm Đế-Kì Dương Vương-Âu Cơ mang tính chủ.

Bổ Cu ứng với quẻ ba vạch Càn.

.Cà Cuống

Cà Cuống sống dưới nước. Anh ngữ gọi là ‘giant water-bug’ (‘bọ nước khổng lồ’) như thế Cà Cuống liên hệ với nước.

Cà cuống có vòi nhọn như kim để đâm con mồi hút thịt ăn nên có một tên động vật học là lethocerus indicus có -cerus là sừng, vật nhọn. Vậy con cà cuống là con bọ nước mang dương tính liên hệ với Chàng (I) Nước (OO) Chấn IOO (xem Cà Cuống Chết Đến Đít Còn Cay).

Cà cuống uống rượu cũng cho thấy rượu là một chất lỏng, ‘nước lửa’ cho biết rõ Cà Cuống liên hệ với nước lửa, nước dương Chấn.

Ta thấy rất rõ vì ở ngành nọc dương thái dương Bổ Cu nên chọn con Cà Cuống bọ nước có vòi nhọn mang tính dương, thái dương và cho uống rượu.

Cà cuống ứng với quẻ ba vạch Chấn.

.Ếch Nhái

Ếch Nhái ở dưới nước mang âm tính. Ếch biến âm với ách có một nghĩa liên hệ nước (tiếng nước chẩy óc ách). Ếch là Nước. Nước là Mẹ Của Sự Sống nên ếch có một khuôn mặt biểu tượng cho Thần Nữ Sinh Tạo, Mẹ Đời, Thần Nữ Mắn Sinh. Ví dụ thời Ai Cập cổ, ếch là biểu tượng thiêng liêng của nữ thần sinh con Heket (goddess of childbirth), người được thờ phượng như một nữ phụ tá của đấng tạo hóa Khnum. Ếch cũng liên kết với thần Hapi sông Nile và về sau ếch được diễn tả là nguồn mắn sinh, phồn thực, biểu tượng bởi nước sông Nile (xem Con Cóc là Cậu Ông Trời, Giải Đọc Nhóm Trống Đồng Cóc/Ếch 1)…

Ếch Nhái là đại diện của tộc âm, nữ, là khuôn mặt của các thần Tổ Mẫu.

.Chào mào

Chim chào mào có mào lông giống như bờm lông biểu tượng cho gió. Bờm, buồm liên hệ với gió. Từ bờm biến âm với buồm, vật giúp cho con thuyền lướt gió. Thuận buồm xuôi gió.

Từ bờm cũng biến âm với từ bướm, hàm nghĩa là bay như đã nói ở trên. “Thằng Bờm có cái quạt mo”. Mo là bao, bọc như mo nang (bao hoa cau). Bao bọc là bầu (bầu trời, bầu vũ trụ) liện tới khí, gió cho nên thằng bé có cái quạt gió có tên là thằng Bờm hàm nghĩa Gió. Thằng Bờm liên hệ với Gió có cái quạt mo biểu tượng cho gió là đứa con chính huyết của Hùng Vương Đoài khí gió (xem Việt Dịch Thằng Bờm).

Con chim chào mào có bờm lông trên đầu nên là chim biểu của Gió ứng với Đoài vũ trụ.

Cái tuyệt vời của câu ‘Chào mào thì đánh trống quân’ này là trống, như đã nói ở trên, có một khuôn mặt cho hư không, không gian, không khí. Chào mào đánh trống giống như Tu Hú đánh trống cho biết nó là biểu tượng của không gian, khí gió.

Chào Mào ứng với quẻ ba vạch Đoài khí gió.

.Chim Chích

Chim chích là loài chim nhỏ và cũng có thể là chim chích chòe.

Chích là dùng vật nhọn đâm như kim chích, chích thuốc. Chim chích là chim có mỏ nhọn, nọc nhọn như kim nhọn biểu tượng cho núi nọc, Đất dương.

Câu ‘Chim chích ở trần vác mõ đi rao’ cũng thật tuyệt vời. Từ ‘trần’ ngoài nghĩa ở trần không mặc áo nhưng trần cũng có nghĩa là bụi. Bụi trần. Bụi là đất khô tung lên tức là Đất dương. Hươu sừng biểu tượng cho đất dương, đất khô vì thế Hán Việt 塵, trần (bụi) viết với chữ lộc là con hươu sừng chậy trên đất thổ. Bụi trần là những hạt đất khô tung lên bởi con hươu chậy trên mặt đất dương, đất khô.

Còn ‘vác mõ đi rao’ thì mõ làm từ khúc cây khoét rỗng. Cây mọc trên mặt đất. Mõ cũng cho biết chim chích liên hệ với đất.

‘Chim chích ở trần’ ứng với quẻ ba vạch Li Đất dương.

Như thế qua dị bản này, đám ma cò có đủ mặt các tộc của cả hai họ ngoại nội , hai ngành nòng nọc. Phía nòng âm, nữ ngoại có Tổ Mẫu  Ếch Nhái. Phía nọc, dương, nam, nội, Tổ Phụ có Bổ Cu Càn, Lửa vũ trụ, Lửa trời, Cà Cuống Chấn, Nước, Chào Mào Đoài vũ trụ, bầu trời, khí Gió và Chim Chích Li, Đất.

Ta thấy rõ bốn quẻ ba vạch dương thuộc ngành nọc dương Bổ Cu Càn, Cà Cuống Chấn, Chào Mào Đoài vũ trụ và Chim Chích Li hợp với bốn quẻ ba vạch âm thuộc phía nòng âm nữ Ếch Nhái thành bát quái. Ta có một loại Dịch Đám Ma Cò 2. Đọc theo hai chiều dương âm khác nhau, ta có hai nhánh Dịch khác nhau.

.Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc Thế Gian 2.

Dựa vào các quái dương trong bài đồng dao này, đọc theo duy dương, xếp theo thứ tự Càn, Chấn, Đoài, Li ta có Dịch đồ sau đây:

clip_image006

Theo Dịch này, nếu nhìn theo diện tạo hóa tức  theo truyền thuyết thì Đế Minh Bổ Cu sinh ra Chấn Cà Cuống Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sinh ra Hùng Vương Đoài vũ trụ Chào Mào. Hùng Vương sinh ra Kì Dương Vương Li chim Chích. Không thuận lý khi đem so với sử truyền thuyết Việt.

Ở đây Cò mang khuôn mặt chủ là biểu tượng của Hùng Vương lịch sử, ta phải nhìn theo diện thế gian/lịch sử mới thuận lý. Dưới diện lịch sử thì Đế Minh Bổ Cu truyền thuyết để qua một bên, còn lại ba khuôn mặt Cà Cuống, Chào Mào, Chim Chích là ba khuôn mặt lịch sử.

Bây giờ ta chọn Dịch có quẻ ba vạch Chào Mào Hùng Vương Đoài đứng đầu.

Đọc theo chiều dương ta có thứ tự Đoài Chào Mào (1), Li Chim Chích (2) và Cà Cuống Chấn (3). Ta có Dịch đồ sau đây:

clip_image008

Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc ứng với các Hùng Vương lịch sử chia ra hai nhánh Âu Lang-Kì Việt (Hùng K ì) Âu Cơ

và Lạc Lang (Hùng Lạc) Lạc Long Quân.

Ta có Hùng Vương Chào mào Đoài sinh ra hai nhánh. Nhánh Lửa Li Âu Cơ Núi Chim Chích Li và nhánh Nước Chấn Lạc Long Quân Cà Cuống.

Ta có Dịch Hùng Vương Âu Lạc. Âu Cơ có mạng lửa, chim thuộc ngành chim Cắt Hồng Hoàng Viêm Đế, nên nếu thay Âu bằng chim biểu Hồng thì ta có Dịch Đám Ma Cò Hồng Lạc thế gian.

Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc mang tính chủ đúng như lời tiên đoán ở trên là qua Bổ Cu đứng là trưởng ngành thì ngành nọc lửa Viêm Đế-Kì Dương Vương-Âu Cơ mang tính chủ.

Ta thấy Dịch Hồng Lạc thế gian ở dị bàn 2 này theo chiều dương giống Dịch Hồng Lạc thế gian ở dị bản 1 theo chiều âm.

-Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng Thế Gian 2.

Theo duy âm, đọc theo chiều kim đồng hồ ta có Đoài Chấn Li. Như đã nói ở trên, ta có Dịch Lạc Âu hay Lạc Hồng thế gian ngược với Dịch Hồng Lạc thế gian.

Tóm lại:

Như thế Dịch Đám Ma Cò dị bản 2 này cũng có hai loại Dịch chính ứng với hai nhánh Lang Hùng. Theo duy dương ngành dương Lửa Kì Lang là Dịch Đám Ma Cò Hồng Lạc thế gian và theo duy âm Nước Lạc Lang là Dịch Đám Ma Cò Lạc Hồng thế gian.

Dị bản 2 có Bổ Cu Càn Đế Minh là Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc phía Mẹ. Bổ Cu là chim Cắt mỏ rìu, chim biểu của Viêm Đế-Đế Minh vì thế dị bản (2) có Bổ Cu Càn Đế Minh là Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian của nhánh nọc, Lửa thái dương Âu Cơ-Kì Dương Vương-Đế Minh-Viêm Đế. Đây là điều hiển nhiên và chí lý.

Cũng cần nói thêm là sự chọn lựa các loài vật nhất là hai con chim diễn tả đấng sinh tạo thế gian Đế Minh trong những dị bản Đám Ma Cò thật là tuyệt chiêu. Không cần nhớ chi tiết, chỉ nhìn vào dị bản có Diều Hâu loài mãnh cầm có đặc tính bay liệng trong gió ta biết ngay dị bản này diễn tả Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng thế gian về phía nòng âm Thần Nông-Lạc Long Quân. Dị bản có Bổ Cu, loài chim có mỏ rìu mang tính nọc thái dương, ta biết ngay dị bản này diễn tả Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian về phía nọc, dương Viêm Đế-Kì Dương Vương-Âu Cơ.

So Sánh Dịch ở Hai Dị Bản.

Ta thấy:

-Ở dị bản 1 Diều Hâu, đứng đầu ngành Thần Nông thái dương, tất cả các loài chim Diều Hâu, Tu Hú, Bìm Bịp, Cuốc đều mang âm tính thái dương nên Dịch Đám Ma Cò qua dị bản này là Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng thế gian mang tính chủ của phía nòng âm Nước Cha Lạc Long Quân-Thần Nông thái dương. Ở dị bản 2, Bổ Cu đứng đầu ngành Viêm Đế thái dương, tất cả các ‘nhân vật’ Bổ Cu, Cà Cuống, Chào Mào, Chim Chích đều mang dương tính thái dương nên Dịch ám Ma Cò qua dị bàn này là Dịch ám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian mang tính chủ của phía nọc dương Lửa Âu Cơ-Kì Dương Vương-Viêm Đế thái dương.

-Ở dị bản 1 có một điểm quan trọng nhất là Tu Hú Đoài Hùng Vương đứng đầu trong ba quẻ ba vạch thế gian/lịch sử Đoài Li Chấn. Đây là dị bản chính thống nhất, thích hợp, ăn khớp với khuôn mặt cò Hùng Vương. Dị bản 2 theo thứ tự ở bài hát Chấn đứng đầu nên kém chính thống.

Dị bản 2 này theo duy dương có Dịch Cò Hùng Vương Lạc Hồng thế gian của nhánh Lạc Việt mang tínhh chủ.

-Dị bản 1 còn có sự hiện diện của phía nòng âm, nữ của các Tổ Mẫu diễn tả bằng Ếch Nhái, nghĩa là khuôn mặt âm còn được trọng vọng, được đi dự đám ma. Khuôn mặt Ếch Nhái âm nữ này cũng mang ý nghĩa ngầm biểu tượng cho bốn quẻ ba vạch âm. Dịch này là một thứ Dịch trọn vẹn có đủ tám quẻ ba vạch (bát quái) dù rằng bốn quẻ ba vạch âm hiểu ngầm dưới khuôn mặt Ếch Nhái.

Theo duy dương cực đoan ta có dị bản 1 phụ trong đó khuôn mặt dương chim Di thay thế cho Ếch Nhái.

Tổng quát dị bản này mang tính nòng nọc, âm dương đề huề. Như thế hai loại Dịch Lạc Hồng và Hùng Vương Hồng Lạc đều hiện diện và Dịch Hùng Vương Lạc Hồng mang tính trội.

-Dị bản 2 có sự hiện diện của Âu Cơ qua câu chót ‘Mẹ nó đi chợ đường xa’ cũng cho thấy khuôn mặt âm cũng còn được đề cập tới, còn được trọng vọng. Dịch Hồng Lạc ở dị bản 2 theo chiều âm giống Dịch Hồng Lạc ở dị bản 1 theo chiều dương. Và Dịch Lạc Hồng ở dị bàn 2 theo chiều dương giống Dịch Lạc Hồng ở dị bản 1 theo chiều âm.

Như thế hai dị bản này có tính nòng nọc, âm dương ngược nhau.

Tổng Lược

Dịch Đám Ma Cò qua hai dị bản này cho thấy có hai loại Dịch là Dịch Cò Hùng Vương Lạc Hồng thế gian của nhánh Hùng Lạc Lạc Long Quân và Dịch Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian của nhánh Hùng Kì Kì Dương Vương-Âu Cơ.

 

.So Sánh với Dịch Chim Nông-Chim Cắt.

-Dịch Đám Ma Cò là Dịch Tiểu Vũ Trụ thế gian/lịch sử ở vòng sinh tạo thứ nhì của Dịch Chim N ông-Chim Cắt (khởi đầu từ câu cuối Tu Hú là Chú Bồ Nông) nên dĩ nhiên khác với Dịch Chim Nông-Chim Cắt ở vòng sinh tạo thứ nhất ở cõi Tạo Hóa (khởi đầu từ câu đầu Bồ Nông là ông bổ cắt).

Trong Dịch Nông-Cắt bài hát vòng thứ nhất (hát lần đầu) ta có Hùng Sử Truyền Thuyết Thần Nông Bồ Nông-Viêm Đế (Bổ Cắt), chim Di Càn (Đế Minh), Sáo Sậu Li (Kì Dương Vương), Sáo Đen Chấn (Lạc Long Quân), Tu Hú Đoài (Tổ Hùng) coi như là ở cõi Tạo Hóa Đại Vũ Trụ mang tính hoàn toàn truyền thuyết. Ở vòng hát thứ hai ‘Tu Hú là chú Bồ Nông’ ở cõi thế gian thứ tự lộn tùng phèo nếu nhìn theo diện Đại Vũ Trụ. Như thế Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Tiểu Vũ Trụ Thế Gian/Lịch Sử khác với Dịch Chim Nông-Chim Cắt Đại Vũ Trụ có một khuôn mặt ứng với Hùng Sử Truyền Thuyết Việt. Ở Dich Đám Ma Cò, điểm chủ chốt là phải nhìn theo diện Hùng Vương Tiểu Vũ Trụ. Ba khuôn mặt thế gian Kì Dương Vương, Lạc Long Quân, Tổ Hùng thế gian có một khuôn mặt lịch sử ứng với tổ ngành, nhánh Hùng Vương lịch sử bằng xương bằng thịt.

-Dịch Chim Nông-Chim Cắt và Dịch Đám Ma Cò là hai loại Dịch chim nghĩa là Dịch Tạo Hóa, Vũ Trụ và Sinh Tạo Cõi Trời Thế Gian. Dịch Chim Nông-Chim Cắt là DịchTạo Hóa Đại Vũ Trụ và Dịch Đám Ma Cò là Dịch Sinh Tạo Cõi Trời Thế Gian Tiểu Vũ Trụ. Dịch Chim Nông-Chim Cắt là Dịch Thần Nông-Viêm Đế. Dịch Đám Ma Cò là Dịch Tổ Hùng Thế gian Tiểu Vũ Trụ và Dịch Hùng Vương Lịch Sử đội lốt Tổ Hùng Thế gian.

-Dịch Chim Nông-Chim Cắt có Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Nông-Cắt với các quẻ ba vạch dương theo thứ tự Càn Chim Di, Li Sáo Sậu, Chấn Sáo Đen và Đoài vũ trụ Tu Hú. Dịch Đám Ma Cò ở dị bản 1 Diều Hâu có Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Cò với các quẻ ba vạch dương theo thứ tự duy dương là Càn Diều Hâu, Đoài bầu trời Tu Hú, Chấn Bìm Bịp và Li Cuốc. Ở đây Đoài Tu Hú Hùng Vương đứng ngay sau Diều Hâu Đế Minh có nghĩa là đội lốt Tổ Hùng Đế Minh cõi Tiểu Vũ Trụ. Ta thấy rõ Dịch Đám Ma Cò có hai khuôn mặt ứng với Tổ Hùng Thế Gian Tiểu Vũ Trụ và Hùng Vương lịch sử.

.So Sánh Với Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

clip_image010

Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

1. Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng so sánh với Tiên Thiên bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

Ta thấy Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng thế gian có thứ tụ Càn Đoài Chấn Li khác với trên Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ có thứ tự là Càn Đoài Li Chấn. Như thế Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Cò Hùng Vương Lạc Hồng khác với Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

2. Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian so sánh với Tiên Thiên Bát Quái Hoa Hạ.

clip_image012

Trong Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc đọc theo chiều âm phía mẹ có thứ tự là Càn Đoài Li Chấn giống hệt như Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

Eureka! Như thế Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc chính là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

Câu hỏi quan trọng là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nguyên thủy của ai? Là của Đại Tộc Việt tức Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hùng Vương Hồng Lạc thế gian hay của Hoa Hạ tức Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ?

Đây là sự trùng hợp? Ta lấy của Hoa Hạ hoặc ngược lại Hoa Hạ lấy của chúng ta?

Trước hết ta biết chắc chắn là Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian và Chu Dịch cả hai cùng phát gốc từ Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy. Vậy thì Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nguyên thủy của ai? Nếu là của Hùng Vương Hồng Lạc, Âu Lạc thì người Hoa Hạ đã mượn, đã bị ảnh hưởng, đã lấy của chúng ta.

Bây giờ ta hãy phân tách Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Cò Hùng Vương Hồng Lạc và Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ và đi tìm cội nguồn của Phục Hy.

.Khuôn Mặt Thế Gian/Lịch Sử.

Rõ ràng Chu Dịch dựa vào Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ giống Tiên THiên Bát Quái Phục Hy Hồng Lạc Thế Gian/Lịch Sử là Dịch thế gian, Dịch muộn, đúng như tôi đã thường viết là Dịch Hoa Hạ là Dịch muộn, Dịch thế gian.

Hãy lấy một hai ví dụ cho thấy Chu Dịch là Dịch muộn, thế gian. Chu Dịch là Dịch que diễn tả hai hào đều có hình que mang dương tính. Không gian thật sự là một cái bầu, cái bao, cái túi mang âm tính. Trong Chu Dịch diễn tả không gian bằng hào que đứt đoạn, nghĩa là không gian có hình que đứt đoạn! Không hợp lý! Trong khi đó Dịch chữ nòng nọc vòng tròn-que không gian là nòng âm diễn tả bằng O, hình bao, bọc. Quái Khôn là quái Khôn O là không gian, bầu vũ trụ, bầu trời trong Chu Dịch Khôn lại cho là Khôn vi địa, Khôn là Đất. Càn Khôn là Trời Đất! Quẻ Đoài trong Chu Dịch chỉ hiểu là chằm, đầm, ao trong khi Đoài ở cõi tạo hóa là Đoài vũ trụ, bầu vũ trụ, bầu trời, khí gió. Đoài là đàiđẫy túi. Anh ngữ Tui là Đoài. Tui biến âm với Túi. Túi đẫy biểu tượng cho bầu vũ trụ bầu trời, khí gió. Ông thần gió thường vác túi gió trên vai. Trong Dịch Hoa Hạ, Đoài chỉ hiểu là ao đầm ở cõi thế gian. Li trong Chu Dịch là Lửa. Thật ra đây là lửa thiếu dương, lửa đất biểu tượng cho đất lửa, đất dương, núi lửa thế gian khác với lửa thái dương Càn là lửa vũ trụ…

Vì Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ giống Tiên Thiên Bát Bái Phục Hy Kì Việt Hồng Lạc của Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Thế Gian/Lịch Sử nên Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ chỉ giải thích được các sự việc ở cõi thế gian. Khi đem giải thích cõi tạo hóa, Vũ Trụ Tạo Sinh thì sẽ không ăn khớp, lệch lại và có những điểm nghịch lý. . Trong khi đó Tiên Thiên Bái Quái Phục Hy Hùng Vương Hồng Lạc thế gian cùng với các loại Việt Dịch khác như Dịch Bồ Chim Nông-Chim Cắt có thể giải thích được tất cả các thứ ở cõi thế gian và tạo hóa một cách thuận lý, minh bạch, thông suốt.

….

. Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian là Dịch mang dương tính, lửa, thái dương nhưng về phía nữ mang tính chủ. Âu Cơ là Nàng Lửa, Nữ thần Mặt Trời Thái Dương, Không Gian khí gió âm O thái dương II Tốn OII. Trong khi Hoa Hạ vốn là dân du mục, võ biền theo duy dương, phụ quyền tức dương thái dương ngược với âm O thái dương II, Nàng O Lửa II Âu Cơ . Như thế Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ giống Tiên Thiên Bát Quái Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian phía Âu Cơ không thích với khuôn mặt du mục, võ biền. Người Hoa Hạ đã lấy ‘đại’ Dịch Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian của Đại Tộc Việt. Đây là lý do họ không thể giải thích các hiện tượng mang dương tính thái dương của xã hội, văn hóa Hoa Hạ của họ bằng Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy. Vì thế mới có thêm các loại Dịch khác, mới có các vụ việc san định, tu sửa lại. Điểm này cũng cho thấy Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy thuộc về Đại Tộc Việt, về Hùng Vương Hồng Lạc thuộc ngành nòng âm có văn hóa sông nước, nông nghiệp trồng lúa nước. Văn hóa Việt Tiên Rồng Chim Rắn, Lửa Nước nhưng Chim là chim mái, lửa âm, lửa mẹ và cha là Nước nhưng nước dương, nước cha hoàn toàn ngược với văn hóa Hoa Hạ theo duy dương có xã hội văn hóa theo phụ quyền cực đoan thống trị.

Chúng ta con cháu Cò Hùng Vương, chút chít thần mặt trời Viêm Đế có Dịch Cò và  Cò  trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn biểu tượng cho Hùng Vương, vua Mặt Trời. Hoa Hạ không có trống đồng nòng nọc, âm dương thờ mặt trời, thờ Cò.

-Một điểm mấu chốt nữa là Phục Hy không phải của người Hoa Hạ mà là tổ của Bách Việt.

Phục Hy không phải là người Trung Hoa.

Tôi và nhiều tác giả (kể cá các tác giả Tây phương) trong đó có giáo sư Kim Định đã chứng minh Phục Hy Nữ Oa của Bách Việt.

Trong Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, tôi đã chứng minh Tổ Hùng và Phục Hy đều cùng có cốt Đoài vũ trụ. Xin kể lại ở đây một hai chi tiết như tên Phục Hy có thể hiểu theo nghĩa nôm na tiếng Việt có nghĩa là ‘Bụng Hí’ (Phục là Bụng là Bọng là cái túi, cái bao như bọng đái và Hi là tiếng kêu, tiếng hí). Phục Hy có nghĩa là cái bọc phát ra được tiếng hí, tiếng rít có nghĩa là cái túi hơi, túi khí gió khi xì ra tạo thành tiếng hí, tiếng rít. Phục Hy vì thế còn có hiệu là Bào Hy. Bào Hy cũng có nghĩa là cái ‘Túi Hí’. Như thế Bào Hy là cái Túi Gió mang tính động, dương vì phát ra được tiếng hí. Túi gió dương là không gian dương ứng với Đoài khí gió vũ trụ. Phục Hy và Tổ Hùng có cùng mạng Đoài vũ trụ đều có khuôn mặt Bao, Túi Vũ Trụ, bầu Vũ Trụ, bầu Trời, khí gió dương… Đây là lý do tại sao Phục Hy thường đi với con rùa có mai vòm trời, vòm vũ trụ. Như đã nói ở trên, trong Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, Tổ Hùng được diễn tả bằng Con Cua. Con cua giống con rùa có mai khum tròn biểu tượng vòm vũ trụ, vòm trời. Về Dịch học con cua còn hơn con rùa. Con rùa có mai vòm biểu tượng cho hư vô, thái cực, có đầu và đuôi ứng với lưỡng nghi, bốn chân ứng với tứ tượng. Con cua có mai như mu rùa, có hai càng ứng với lưỡng nghi nhưng có tới 8 cẳng tức tám quái gồm 4 quái dương ứng với tứ tượng dương và 4 quái âm ứng với tứ tượng âm. ‘Con cua tám cẳng hai càng, một mai, hai mắt rõ ràng con cua’ diễn tả Việt Dịch Tổ Hùng Thế Gian. Cua Tổ Hùng trọn vẹn hơn rùa Phục Hy (xem thêm Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Như vậy Phục Hy có mạng Đoài vũ trụ và Hùng Vương cũng có mạng Đoài vũ trụ thì rõ như đinh đóng cột Phục Hy là ruột thịt máu mủ với Hùng Vương. Do đó Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy là Tiên Thiên Bát Quái Hồng Lạc ruột thịt với nhau. Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ lấy hay bị ảnh hưởng của Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hồng Lạc.

Nhưng rõ hơn là Phục Hy và Nữ Oa có đuôi rắn thuộc dòng nước  của Lạc Việt Rắn Rồng.

clip_image014

Phục Hy và Nữ Oa có đuôi rắn.

Người Hoa Hạ vốn là dân võ biền thuộc ngành nọc, lửa không thể có thần tổ có đuôi rắn Phục Hy (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hồng Lạc, Âu Lạc thế gian không thể lấy từ Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ mà chỉ có thể ngược lại. Họ lấy theo Tiên Thiên Bái Quái Phục Hy của Hùng Vương và lại lấy của nhánh âm Mẹ Âu Cơ Hồng Lạc thế gian. Văn hóa võ biền Hoa Hạ đã bị văn hóa sông nước, nông nghiệp và mẫu hệ đồng hóa.

Dĩ nhiên là còn nhiều nữa, tôi sẽ viết rõ trong bài Sự Khác Biệt Giữa Dịch Hoa Hạ và Việt Dịch.

.So Sánh Với Dịch Văn Vương.

Không cần nói, hiển nhiên Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc cũng như Lạc Hồng khác với Dịch Văn Vương.

Kết Luận

.Dịch Đám Ma Cò phần lớn diễn tả bằng các loài chim bay. Như đã biết Dịch chim là Dịch cõi bầu vũ trụ tức Dịch Tạo Hóa Đại Vũ Trụ hay Dịch cõi trời Tiểu Vũ Trụ. Như thế các bài hát Đám Ma Cò có khuôn mặt nghiêng nhiểu về Dịch Tiểu Vũ Trụ Tổ Hùng thế gian. Tuy nhiên không hoàn toàn là chim hết mà có cả ếch nhái, cà cuống nên cũng có sự hiện diện của Dịch Hùng Vương lịch sử. Tóm lại Dịch Đám Ma Cò là Dịch Sinh Tạo Tiểu Vũ Trụ Thế Gian/Lịch Sử.

.Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương có hai khuôn mặt. Một là Dịch Đám Ma Cò Tổ Hùng Tiểu Vũ Trụ. Hai là Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lịch Sử. Nhánh theo Cha có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng thế gian mang tính trội. Nhánh theo Mẹ có Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian mang tính trội.

.Vì có nhiều khuôn mặt nên Dịch Đám Ma Cò có nhiều loại qua nhiều dị bản của bài đồng dao Đám Ma Cò, trong đó có hai dị bản ứng với Dịch của hai nhánh Hùng Lang. Dị bản 1 có Diều Hâu trưởng tộc là Càn Đế Minh phía nòng âm thái dương là Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Lạc Hồng thế gian phía Cha. Dị bản 2 có Bổ Cu là Càn Đế Minh phía nọc dương thái dương là Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian phía Mẹ.

Hai khuôn mặt Diều Hâu ngành nọc âm thái dương và chim Bổ Cu ngành nọc dương thái dương của Đế Minh Càn cho thấy rõ Tổ Hùng thế gian và Hùng Vương Lịch Sử đội lốt Càn Đế Minh ở cõi Tiểu Vũ Trụ và cũng đột lốt Viêm Đế-Thần Nông Tạo Hóa ở cõi Đại Vũ Trụ. Vì thế ta phải nhìn Tổ Hùng Thế Gian Và Hùng Vương Lịch Sử dọc theo suốt qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh và Dịch lý.

Từ Hùng phải hiểu dưới các khuôn mặt:

-Tổ Hùng Tạo Hóa theo duy dương ứng với Viêm Đế-Thần Nông nhất thể, lưỡng tính phái và theo duy âm đội lốt Thần Nông-Viêm Đế nhất thể, lưỡng tính phái.

-Tổ Hùng Tạo Hóa sinh ra hai ngành nòng nọc, âm dương. Ngành nọc Viêm Đế có chim biểu là chim Hồng Hoàng Bổ Cắt. Ngành nòng Thần Nông thái dương có chim biểu là chim Lạc Bồ Nông.

-Tổ Hùng Tiểu Vũ Trụ ứng với Đế Minh đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa Đại Vũ Trụ và Cũng có ba khuôn mặt là nhất thể và hai ngành nòng nọc, âm dương có chim biểu là chim Hồng, chim Lửa Trĩ Lửa, Trĩ Việt ở nhánh nọc dương thái dương, Diều Hâu ở nhánh nọc âm thái dương và chim Lạc Le Le (chim biểu của Vụ Tiên, vợ Đế Minh).

-Tổ Hùng Vương thế gian lịch sử (thái Tổ Hùng Vương) đội lốt Tổ Hùng Tạo Hóa Đại Vũ Trụ và Tổ Hùng Thế gian Tiểu Vũ Trụ. Cũng có ba khuôn mặt nhất thể là vũ trụ, có chim biểu là Cò Lang. Cò cũng đẻ ra trứng thế gian như Cò Thoth của Ai Cập cổ. Bọc Trứng Trăm Lang Hùng thế gian mang hình ảnh của Bọc Trứng Vũ Trụ. Ngành nọc dương thái dương là Hùng Kì-Âu Cơ có chim biểu là chim Hồng loài bồ cắt đất, Sáo Sậu (họ nội), Cuốc (họ ngoại). Ngành nọc âm thái dương là Hùng Lạc có chim biểu là chim Lạc ngỗng nước, cốc…

.Dịch Đám Ma Cò Hùng Vương Hồng Lạc thế gian phía Mẹ Âu Cơ có Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Cò Hồng Lạc thế gian giống hệt Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Chu Dịch. Điều này cho thấy Chu Dịch đã lấy hay bị ảnh hưởng của Việt Dịch Hùng Vương Hồng Lạc thế gian và cũng xác thực thêm một lần nữa Phục Hy Nữ Oa có đuôi rắn thuộc đại tộc Việt, Bách Việt ngành Thần Nông (Thần Nông thái âm có vật biểu là Rắn Nước như thấy ở đầu các con thuyền trên trống Ngọc Lũ I và các thuyền họ hàng).

Phục Hy không phải của Hoa Hạ du mục, võ biền.

.Những bài hát Đám Ma Cò này là những tuyệt tác phẩm văn chương diễn tả lịch sử và Dịch của Tổ Hùng Thế Gian và Hùng Vương Lịch Sử. Nhất là còn cung cấp một chứng cứ không thể chối cãi được là Tiên Thiên Bái Quái Phục Hy là của Hồng Lạc thuộc ngành nòng âm thái dương Phục Hy Nữ Oa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: