VIỆT DỊCH: DỊCH CHIM NÔNG-CHIM CẮT.

VIỆT DỊCH

(1)

VIỆT DỊCH CHIM NÔNG-CHIM CẮT.

Nguyễn Xuân Quang

Ghi Chú

Vì Việt Dịch khác Dịch Que Hoa Hạ (hào dương hình nọc que và hào âm hình nọc que đứt đoạn). Việt Dịch trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là Dịch Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Vì vậy nên tôi viết các hào, các quái theo Việt Dịch nòng nọc vòng tròn-que. Hào nòng âm O thay cho hào âm que đứt đoạn của Dịch Hoa Hạ, còn hào dương vẫn viết giống Dịch Que Hoa Hạ. Và để tiện gõ chữ, tôi dùng chữ i Hoa I cho hào que dương và chữ O hoa cho hào âm và viết theo chiều thẳng đứng của chữ. Đọc từ trái qua phải theo chiều dương, chiều ngược kim đồng hồ. Ví dụ quái Khôn ba hào âm que đứt đoạn của Dịch Que Hoa Hạ viết là OOO trong Việt Dịch nòng nọc vòng tròn-que, quái Li viết là IOI, quái Khảm OIO, quái Chấn IOO, quái Tốn OII(xem Cách Viết Dịch Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

.Vì là Việt Dịch tôi cố gắng dùng các từ Dịch bằng Việt ngữ như Hán Việt hào có nghĩa là vết cạo, vạch, vẽ trên đất, đá, gỗ. Theo biến âm h=c như hủi = cùi, ta có hào = cạo, cào. Tôi dùng từ vạch thay cho cạo, cào. Tôi dùng từ quẻ thay cho quái. Quẻ, quái có gốc là que. Que, thẻ có khắc ba vạch tôi gọi là quẻ ba vạch (trigram)…

 *

*            *

Qua các bộ sách đã xuất bản như Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Tiếng Việt Huyền Diệu, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt, Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á (hai quyển đầu đã in, hai quyển sau một phần đã đăng trên blog bacsinguyenxuanquang.wordpress.com) và nhiều bài viết khác, tôi đã chứng minh Việt Nam có Dịch riêng, khác với Dịch Hoa Hạ. Dịch thấy bàng bạc trong mọi khía cạnh văn hóa Việt Nam vốn có cốt lõi lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, Chim Rắn, Tiên Rồng.

Dân Việt là con Tiên Rồng nên Dịch có trong máu, trong hơi thở.

Dịch thấy trong sử Miệng như thấy qua sử truyền thuyết (truyền thuyết ở một khía cạnh là một thứ sử của người cổ), qua Ca Dao Tục Ngữ như bài Bồ Nông là ông Bổ Cắt, Đám Ma Cò; qua các trò chơi dân gian như trò chơi Bầu Cua, qua sử đồng Đông Sơn như trên trống đồng nòng nọc, âm dương Ngọc Lũ I… Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là một bộ Việt Dịch đồng bằng hình ảnh của Việt Nam. Đây là một bộ Dịch đồng nòng nọc vòng tròn-que bằng hình duy nhất trên thế giới của nhân loại.

Tôi lần lượt viết về các loại Dịch Việt Nam thấy trong văn hóa Việt kể cả Dịch đồng thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

DỊCH CHIM NÔNG-CHIM CẮT.

Như đã nói ở trên, tính Dịch thấy rất nhiều trong sử miệng qua ca dao tục ngữ như qua câu Ba Vuông Sánh Với Bẩy Tròn, qua các bài ca dao về Đám Ma Cò, qua các câu ca dao về những ngày giỗ kỵ Tổ Hùng, Hai Bà Trưng, Ông Dóng… (Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt và các bài viết tương ứng). Ở đây xin đưa ra bài đồng dao Chim Nông Chim Cắt ứng với một loại Dịch làm ví dụ tiêu biểu. Tôi đã viết tỉ mỉ một bài về bài hát này trong Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt. Ở đây chỉ xin nhắc lại các chi tiết liên quan tới Dịch.

Bài đồng dao Chim Nông Chim Cắt:

Bồ nông là ông bổ cắt,

Bổ cắt là bác chim di,

Chim di là dì sáo sậu,

Sáo sậu là cậu sáo đen,

Sáo đen là em tu hú,

Tu hú là chú bồ nông.

-Chim Nông

Khởi đầu bài hát là con chim nông, một loài chim nước. Ở đây cho thấy chúng ta có văn hóa Nước, Nông Nghiệp làm lúa nước (sông, biển, ruộng nước) nghiêng về Thần Nông, Lạc Việt.

Trước hết xin nói rõ nghĩa tên loài chim Nông qua ngôn ngữ học. Ở đây tôi viết Bồ nông là ông Bổ cắt. Trong thực tế có khi còn gọi là Mỏ Nông hay vắn tắt là chim Nông như thấy qua câu ca dao:

Cái cò cái vạc, cái nông,

Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò…

Còn có dị bản viết là Bổ Nông là ông bồ cắt. Hiện nay ta cứ tưởng các tên Nông, Bổ Nông, Bồ Nông giống nhau nhưng thật ra các tên này dùng trong Dịch có tính nòng nọc, âm dương khác nhau tùy theo các giai kỳ trong Vũ Trụ Tạo Sinh. Các dấu trong Việt ngữ cho biết tính nòng nọc, âm dương, cái đực của một từ (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Điểm này giải thích tạo sao bài đồng dao này có nhiều dị bản, khi thì khỏi đầu bằng :

Mỏ Nông là ông Mỏ Cắt,

Khi thì là :

Bổ Nông là ông Bổ Cắt.

Khi thì là :

Bổ Nông là ông Bồ Cắt.

Khi thì là :

Bồ Nông là ông Bổ Cắt.

Chim Nông, Cắt trong mỗi dị bản mang một nghĩa nòng nọc, âm dương khác nhau. Tôi chọn bản viết bằng Bồ Nông là ông Bổ Cắt. Tại sao? Xin trả lời ở dưới.

Hiểu theo nghĩa thông thường của đại chúng thì tổng quát con chim này gọi là chim Mỏ Nông hay chim Nông. Nông biến âm với Nang có một nghĩa là Túi, Con Nông là con chim có túi dưới mỏ để xúc cá. Chim Mỏ Nông là chim Mỏ (có) Túi.

clip_image002 clip_image004

Chim nông thiên nhiên và chim nông trên trống đồng Ngọc Lũ I.

Tuy nhiên, nhìn dưới diện Dịch lý thì chim Nông mang trọn nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Vũ trụ tạo sinh (cosmogony) dựa trên nguyên lý lưỡng hợp (based upon the principle of dualism). Vũ trụ khởi đầu từ Vĩnh Cửu (Eternity), cái Không Thể Biết (the Unknowable). Bắt đầu là một cái bọc trống không Hư Vô, Vô Cực (Nothing). Vô Cực được diễn tả bằng cái vòng tròn O mang nghĩa số Không. Từ đó phân cực thành Thái Cực (Great Ultimate, the Grand Ridge-pole). Rồi Thái cực phân ra thành Lưỡng Nghi (Liang I): Nòng, âm và nọc dương. Lưỡng Nghi sinh ra Tứ Tượng (Four Hshing, Four Great Primary Forces). Tứ Tượng sinh ra muôn vật muôn sinh chia ra là Tam Thế (Three Worlds) được biểu tượng bằng Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống (xem Cây Đa Rụng Lá Sân Đình).

Bây giờ ta đối chiếu chim Nông với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.

.Hư Không

Ở tầng này chim gọi là Nông. Ở đây hiểu theo nghĩa Nông là Không. Theo biến âm n=k như nỏ = khỏ, khô (bưởi khỏ là bưởi bị khô), ta có nông = không. Pháp ngữ non (/nông/) = Việt ngữ không.

Con chim nông có một khuôn mặt biểu tượng cho Hư Không ứng với từ Vô Cực của người Hoa Hạ.

.Trứng Vũ Trụ ứng với Thái Cực.

Ở tầng này chim vẫn gọi là Nông nhưng với nghĩa khác. Nông biến âm với nang.

Nang có một nghĩa là trứng. Quả cau hình trứng, bổ ra hột trông giống lòng đỏ, phần thịt trắng giống lòng trắng, giống quả trứng luộc bổ đôi nên tiếng cổ Việt Mường gọi cau là nang như mo nang là cái bao, cái bọc hoa cau.

Con nông, con nang có một khuôn mặt biểu tượng cho Trứng Vũ Trụ ứng với Thái Cực.

Chim Nông, chim Nang đẻ ra Trứng Vũ Trụ.

Người Mường cũng có vật tổ là Chim Trứng. Trong bài hát tế “Đẻ Đất Đẻ Nước” (tức Mẹ Đất Mẹ Nước) của người Mường, có đoạn nói đến:

Trời với đất còn dính làm một

……

Chưa có chim tráng, chim trủng.

Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện cắt nghĩa chim tráng là loại diều hâu, không hiểu loài diều hâu gì vì nhiều loại. Chim trủng là loại chim hay kêu về tháng 2, 3, kêu hai tiếng một não nuột (tập I tr. 732). Đây là giải thích theo ngày nay. Theo câu “Trời với đất còn dính làm một”, có nghĩa là khi trời đất còn ở dưới trạng thái bọc thái cực, quả trứng vũ trụ thì chim ‘trủng’ là chim ‘trứng’ và chim ‘tráng’ là chim ‘chàng’ (chàng là chisel đục, đực là chim cắt, x. dưới). Chim Trủng là chim Trứng tức là con Nông, con Nang. Chim này đẻ ra trứng vũ trụ.

Thái cực, Trứng Vũ Trụ mang tính nòng nọc, âm dương còn quyện vào nhau. Khi nòng nọc, âm dương đã định hình nhưng chưa tách ra ta có tròng trắng của trứng mang âm tính là Nòng âm và tròng đỏ mang dương tính là Nọc dương. Lúc này con Nông, con Nang trứng có thể gọi là Bổ Nông với nghĩa dương âm còn dính vào nhau. Ta có Bổ là búa, rìu, bộ phận sinh dục nam [buồi biến âm của bổ, của Anh ngữ bur, vỏ có gai (hoa, quả), ebur, ngà voi]

là nọc, nõ, dương. Nông, Nang là túi, bao, bọc, bộ phận sinh dục nữ (nang là nường, bộ phận sinh dục nữ như thấy qua từ đôi nõ nường).

Từ Bổ Nông ở đây có một nghĩa là Bổ dương và Nông âm nhất thể. Bổ Nông nhìn dưới dạng Trứng nòng nọc, âm dương nhất thể ứng với thái cực, Trứng Vũ Trụ.

Lưỡng Nghi

Chim Bổ Nông mang tính nòng nọc, âm dương nhất thể Trứng Vũ Trụ, Thái Cực khi phân cực ta có hai cực dương Bổ và âm Nông.

Cực âm

Cực âm ứng với Nông, Nang.

Như đã nói ở trên, Nông, Nang là nòng, âm, bộ phận sinh dục nữ. Như thế theo thuần âm, chim nông chim là chim biểu của nòng, nàng, cái, âm, cực âm. Lúc này con Nông, con Nang gọi theo cái túi dưới mỏ của người Việt có khuôn mặt thuần âm, thái âm, nước.

Cực dương

Cực dương ứng với Bổ.

Như đã nói ở trên, Bổ là nõ, nọc, dương, bộ phận sinh dục nam. Như thế theo thuần dương chim Bổ (nông) là chim biểu của nọc, nõ, đực, dương, cực dương. Lúc này con Nông, con Nang gọi theo chiếc mỏ rìu Bổ dưới mỏ. Người Tây phương theo duy dương nên nhìn con chim nông theo chiếc mỏ to như chiếc rìu mang tính thuần dương, thái dương, lửa. Vì thế họ gọi con nông theo chiếc mỏ rìu, chiếc Bổ là Pelican. Pelican

có gốc Hy Lạp pelekys có nghĩa là rìu. Pelican là chim Rìu (của ngành nòng âm nước). Chúng ta từ ngàn xưa cũng phân biệt chim nông theo hai diện âm dương của chiếc mỏ rìu có túi này. Bằng chứng là trên đồ đồng Đông Sơn cũng thấy có loại chi nông mỏ rìu mang dương tính này.

clip_image006

Chim bổ nông mang dương tính có mỏ mũi tên, mũi rìu hình chữ nòng nọc vòng tròn-que hình tam giác mang nghĩa nọc, dương, lửa… trên thạp Hợp Minh. Đây đích thực là con nông (mỏ) rìu bổ nông vì từ dưới nước bay lên trời giữa hai chiếc thuyền.

Rõ ràng chim nông có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương, chúng ta theo mẫu hệ, Thần Nông, Lạc Việt nên gọi theo cái túi Nông âm còn Tây phương theo phụ hệ gọi theo chiếc mỏ rìu là chim Bổ, chim Rìu Pelican.

Chim Bổ Rìu Nông ngành nòng âm đối ứng với chim Rìu Bổ Cắt của ngành nọc dương.

Do đó chim Bổ Nông phải hiểu theo nòng nọc, âm dương, Dịch lý.

Tứ Tượng

Chim nông là loài chim nước nên khuôn mặt Khôn âm là Nước, Khôn dương là Khí Gió) mang tính chủ.

./Tượng Nước

Nông biến âm với nòng, dòng là nước. Chim nông có khuôn mặt biểu tượng cho nước. Chim nông cũng là loài chim nước. Với nghĩa nước chim Nông thường gọi là Bồ Nông. Bồ là bao, bọc như bồ lúa, bồ biến âm với bầu, bào, bao. Viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que bồ, bao là nòng O và Nông là O. Bồ Nông là OO, thái âm, nước.

./Tượng Gió

Như đã biết, Nông biên âm với Không có một khuôn mặt là không khí, không gian biểu tượng cho khí gió. Nang có nghĩa là túi, bao bọc cũng biểu tượng cho bầu vũ trụ, bọc vũ trụ, bầu trời, bao trời, không gian, khí gió.

Chim nông mang nghĩa gió gọi là Bổ Nông. Bổ là búa là nọc nhọn. Viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que thì Bổ = I và Nông = O. Bổ Nông = IO, thiếu âm, nguyên thể của khí gió.

Lưu Ý

Bổ Nông ở đây với Bổ dùng như một tính từ. Bổ Nông ở đây là con Nông Bổ mang dương tính, tức dương Bổ I của Nông âm, tức IO, thiếu âm, nguyên thể của khí gió.

Cần phần biệt với Bổ Nông ở tầng thái cực, Trứng Vũ Trụ. Ở tầng này, Bổ và Nông là hai danh từ, hai cá thể còn dính vào nhau mang tính nòng nọc, âm dương nhất thể.

Ở đây cũng cho thấy các dấu trong tiếng Việt rất quan trọng. Chim nông, bồ nông, bổ nông… mang ý nghĩa khác nhau trong triết thuyết Vũ trụ giáo. Các dấu của tiếng Việt cũng cho biết tính phái, giống đực, giống cái của một từ: bồ là giống cái trong khi bổ là giống đực (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Ta thấy tiếng Việt với các dấu khác nhau mang tính nòng nọc, âm dương khác nhau, có thể chuyển qua chữ nòng nọc vòng tròn-que một cách dễ dàng, chính xác cho thấy Dịch nòng nọc vòng tròn-que ruột thịt với chúng ta.

./Tượng Lửa

Chim nông với nghĩa chim Rìu biểu tượng cho

cực dương có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Lửa của ngành nòng âm.

./Tượng Đất

Mỏ nhìn dưới dạng túi-rìu theo duy dương là âm O của dương O, tức thiếu dương OI. Lúc này chim mỏ túi-rìu là chim thiếu dương OI biểu tượng cho đất âm của ngành âm thái dương.

.Tam Thế

Chim Nông hiểu theo nghĩa Nang là Trứng đẻ ra Trứng Vũ Trụ sinh ra vũ trụ, tam thế.

Như thế con nông mang ý nghĩa biểu tượng trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh.

Con nông là chim tổ tối cao của chúng ta về phía nòng âm vì thế thấy rất nhiều trong sử miệng ca dao tục ngữ và trong sử đồng Đông sơn.

-Qua Sử Miệng Ca dao “Ngàn Năm Bia Miệng”

Chim nông là vật tổ đứng hàng đầu như đã thấy qua bài đồng dao “Bồ nông là ông bổ cắt”… này. Bài hát có thể có nhiều dị bản nhưng dù bản nào đi nữa thì bao giờ con nông cũng được xếp lên trên hết. Con nông được tôn thờ như một vật tổ, được coi như một thứ hèm (theo qui luật biến âm h = k như hì hì = khì khì, ta có hèm = khem có nghĩa là kiêng khem, kiêng kỵ tức taboo) không được ăn thịt còn thấy qua câu ca dao:

Con cò, con vạc, con nông,

Ba con cùng béo, vặt lông con nào?

Vặt lông con cốc cho tao,

Hành răm mắm muối cho vào mà thuôn.

Con nông vật tổ đẻ ra Trứng vũ trụ cho dù có ‘béo’ cũng không được ăn thịt, vì vật tổ là một taboo, một thứ cấm kỵ. Ở đây ta cũng thấy con cò con vạc cũng không được ăn thịt, như thế cò vạc cũng là những vật tổ (xem Con Cò Bay Lả Bay La…). Con cốc có thể không phải là vật tổ của chúng ta, hay là chim tổ của một tộc thù nghịch trong đại tộc Việt hay một tộc nước âm đến thời phụ quyền bị coi rẻ, nên ăn thịt được cho dù không thấy nói đến nó có béo hay không.

-Qua Sử Đồng Đông Sơn

Chứng tích hùng hồn nhất, vững chắc nhất là hình con nông còn khắc ghi trên trống đồng Đông Sơn. Trên trống đồng Ngọc Lũ I, cùng với hàng hươu là hai nhóm chim nông bay, một bên bán viên có 6 con, một bên có 8 con.

clip_image008

Chim này mỏ to, đầu to, đuôi ngắn. Chú ý kỹ ta thấy chim có túi dưới cổ. Con đầu tiên túi che hết chiều dài cái mỏ. Đây chính là chim nông. Trên trống đồng Hoàng Hạ nơi thân trống có hình hai con chim mỏ phình to như cái túi.

clip_image010

Đây là hai con chim nông đang đạp mái. Ngoài ra cũng có rất nhiều hình chim nông trên các thạp đồng và có cả các tượng đồng chim nông riêng rẽ.

clip_image012

Chim nông và bổ nông trên thạp đồng Hợp Minh.

Tóm lại

Chim Nông là chim mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh. Chim Nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Bọc Trứng Thế Gian của Lạc Long Quân-Âu Cơ là hình bóng của Trứng Vũ Trụ sinh ra bởi chim nông, chim biểu của Thần Nông.

Chim Nông là chim biểu của Thần Nông, vị tổ tối cao tối thượng của ngành nòng âm của Thần Nông-Lạc Long Quân -Hùng Lạc của Bách Việt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

 Lưu Ý

Ở ngành nòng âm thì viết  âm trước tức Thần Nông trước. Thần Nông Viêm Đế  ở dạng nhất thể viết là Thần NôngViêm Đế (viết dính vào nhau vì ở dạng nhất thể). Ở ngành nòng âm thì viết Thần NôngViêm Đế , ở ngành nọc dương thì viết Viêm ĐếThần Nông. Các tộc thuộc nhánh Lạc Long Quân, Hùng Lạc phải viến là thuộc dòng Thần Nông mới chỉnh. Trong cách sách cổ Việt  và các nhà làm văn hóa Việt  hiện nay viết lung tung,  cho Lạc Long Quân, Hùng Lạc là con cháu của Viêm Đế  và ngược lại cho Kì Dương Vương, Hùng Kì là con cháu Thần Nông. 

-Chim Cắt

Chim cắt có mỏ lớn và dài (prominent bill) như mỏ rìu, vì thế còn có tên là chim rìu:

Cũng còn có chú mỏ rìu,

Rõ là tay thợ, khẳng khiu chán chường.

(Vè Chim).

clip_image014

Chim cắt.

Chiếc mỏ của chim cắt, chim rìu là yếu tố chủ yếu, nổi bật, đập vào mắt. Có giống bổ cắt có sừng ngà hay “mũ bảo vệ đầu” (bony casque or helmet). Mỏ vừa có bổ (mỏ) vừa có sừng đúng như tên Anh ngữ hornbill là ‘mỏ sừng”. Từ cắt liên hệ với Anh ngữ ‘cut’ (cắt), Phạn ngữ khad, to divide, to break, ta có k(h)ad= khắc = cắt (t=d), Tiền cổ-Ấn Âu ngữ *kès- ‘cut’ và gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic *k’ca. Bổ cắt là chim có mỏ rất lớn như chiếc rìu để cắt chặt. Theo chuyển hóa c=h (cùi = hủi), ta có cắt, cát, các = hac, hache (Pháp ngữ), hacha (Tây Ban Nha ngữ), hack (Anh ngữ) rìu, búa chim… Chim cắt là chim rìu, chim Việt của đại tộc Việt (Việt Là Gì?).

Chim cắt có khuôn mặt nòng nọc, âm dương đối ứng với chim Nông. Chim Cắt là chim tổ tối cao của ngành nọc thái dương mặt trời Viêm Đế trong khi chim Nông, như đã nói ở trên, là chim biểu tối cao của ngành Nòng âm Thần Nông. Chúng ta khởi thủy theo mẫu hệ và hiện nay nghiêng nhiều về Lạc Việt nên chim Nông mang tính chủ.

Như vậy ta suy ra ngay không phải viết dài dòng lặp lại. Những cái gì Nông có thì Cắt cũng có nhưng có tính nọc dương.

Vắn tay ta suy ra chim cắt cũng có những khuôn mặt chính trong Vũ Trụ Tạo Sinh là:

.Hư Không

Theo chính thống không mang tính âm nên chim cắt không có khuôn mặt biểu tượng cho hư không. Điều này dễ hiểu vì Bổ Cắt có sau Bổ Nông thấy rõ qua câu Bồ Nông là ông Bổ Cắt.

.Trứng Vũ Trụ, thái cực.

Ở đây chim cắt có tên là Bồ Cắt với nghĩa là chim mang tính nòng nọc, âm dương nhất thể gồm có chim Rìu Bồ nòng, mang âm tính còn dính với chim Cắt Rìu Nọc mang dương tính.

.Lưỡng Nghi

Cực dương

Lúc này gọi là chim Cắt, chim rìu biểu tượng cho nọc, nõ, dương, cực dương, mặt trời nọc rạng ngời, bộ phận sinh dục nam (vì thế bổ cắt còn gọi là bổ cu).

Cực âm

Cực âm ứng với phần Bồ của chim Bồ Cắt biểu cho thái cực, Trứng Vũ Trụ như đã nói ở trên. Con chim cắt này mang âm tính. Có thể là loài Cắt có mầu đen.

.Tứ Tượng

Hai khuôn mặt mang tính chủ là tượng Lửa và Đất:

./Tượng Lửa

Chim Cắt biểu tượng cho cực dương có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng Lửa.

Chim cắt gọi dưới tên Bổ Cắt cũng có khuôn mặt biểu tượng cho lửa. Bổ là nọc I và Cắt là vật nhọn cũng là nọc I. Bổ Cắt = II, lửa, thái dương.

./Tượng Đất dương

Ở đây chim Cắt gọi là Bồ Cắt. Ta có Bồ = O và Cắt = I. Bồ Cắt OI, thiếu dương, nguyên thể của Đất.

Hai khuôn mặt phụ là tượng Nước và Gió.

./Tượng Gió

Đây là loài Cắt mang tính thiếu âm Gió, có thể là loài chim cắt khoang trắng (mầu trắng là mầu khí gió).

./Tượng Nước

Đây là loài Cắt mang tính thái âm, có thể có mầu đen (mầu đen là mầu nước thái âm).

.Tam Thế

Hiển nhiên chim Cắt là chim biểu của thần tổ Mặt Trời Viêm Đế, thần Tạo Hóa ngành nọc dương sinh ra vũ trụ tam thế ngành nọc dương (xem Chim Việt).

Chứng tích chim cắt là chim tổ tối cao của ngành nọc dương của chúng ta còn thấy rất rõ qua nhiều lãnh vực. Qua vật thờ như các rìu thờ bằng đá, gỗ, nhất là các rìu thờ bằng đồng Đông Sơn hình mỏ chim cắt.

clip_image016

Rìu gỗ bổ cắt Ao Naga, Assam.

clip_image018

Rìu đồng bổ cắt Điền Việt (Bảo Tàng Viện Côn Minh, ảnh của tác giả).

Qua sử miệng ca dao như các bài đồng dao vừa nói. Qua khảo cổ vật như trên mặt trống đồng Duy Tiên, mặt tuy bị vỡ nhưng còn thấy rõ hình ba con chim cắt, mỏ lớn, đầu có mũ sừng.

clip_image020

Đây là loài Great hornbill, loài chim cắt lớn nhất.

Chim cắt còn có tên Hán Việt là chim hồng hoàng. Qua truyền thuyết cổ sử chúng ta cho mình là con cháu Hồng Lạc, chúng ta là con Hồng cháu Lạc. Nhìn dưới lăng kính vật tổ chim thì con cháu Hồng Lạc là con cháu chim Hồng chim Lạc. Chim Hồng theo duy dương là chim hồng hoàng bổ cắt, chim rìu cũng còn có tên là phượng hoàng đất, ở cõi thế gian, họ Hồng Bàng thế gian là chim biểu của Mặt trời thế gian Kinh Dương Vương dòng Lửa Việt Hùng Việt và chim Lạc là con ngỗng Lạc chim biểu của Mặt trời nước Lạc Long Quân dòng Nước-Việt Lạc Việt. Mường Việt cổ có vật tổ chim Tráng, chim Cháng như đã thấy nói ở trên:

Trời với đất còn dính làm một

……

Chưa có chim tráng, chim trủng.

Chim tráng, chim cháng, chim chàng là chim đục (chàng cũng có nghĩa là chisel, đục), bổ cắt…

Tóm lại

Chim Cắt là chim Đục, chim Chàng (chisel), chim Rìu, chim Việt, chim Hồng Hoàng.

Chim Cắt là chim mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh ngành nọc dương.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, chim Cắt, chim Việt là chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế, vị tổ tối cao tối thượng của ngành nọc, dương của Bách Việt (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt, Việt là Gì?).

Lưu Ý

Ở ngành nọc dương thì viết dương trước tức Viêm Đế  trước. Viêm Đế Thần Nông ở dạng nhất thể viết là Viêm ĐếThần Nông (viết dính vào nhau vì ở dạng nhất thể). Ở ngành nọc dương thì viết Viêm Đế Thần Nông, ở ngành nòng âm thì viết Thần NôngViêm Đế . Các tộc thuộc nhánh Kì Dương Vương , Hùng Kì  phải viến là thuộc dòng Viêm Đế mới chỉnh. Trong cách sách cổ Việt  và các nhà làm văn hóa Việt  hiện nay viết lung tung,  cho Kì Dương Vương, Hùng Kì là con cháu của Thần Nông và ngược lại cho Lạc Long Quân, Hùng lạc  là con cháu Viêm Đế. 

Việt Dịch Chim Nông-Chim Cắt.

Bài hát đồng dao này có 6 loài chim bồ nông, bổ cắt, chim di, sáo sậu, sáo đen và tu hú. Số 6 là số sinh thành. Số 6 sinh thành = 2 lưỡng nghi + 4 tứ tượng. Tứ tượng sinh ra tứ quái.

.Lưỡng Nghi

Câu đầu của bài đồng dao, tôi chọn viết theo:

Bồ Nông là ông Bổ Cắt…

với Bồ Nông = OO, thái âm, cực âm và Bổ Cắt = II, thái dương, cực dương.

Còn có một dị bản viết:

Bổ Nông là ông Bồ Cắt.

với Bổ Nông = IO, thiếu âm và Bồ Cắt = OI, thiếu dương.

Nếu muốn ta có thể dùng từ Chim Nông là ông Chim Cắt với Nông là nòng O, âm ứng với cực âm và Cắt là Nọc, dương ứng với cực dương. Nông Cắt là lưỡng nghi. Tuy nhiên ít khi thấy có bản nào viết:

Chim Nông là ông Chim Cắt…

Điểm này cho thấy dân gian không thích dùng Mỏ Nông, Mỏ Cắt hay chim Nông, chim Cắt là có một lý do nào đó. Ta sẽ thấy ở dưới.

Ta có Bổ Nông = IO, thiếu âm, nguyên thể khí gió ứng với Tượng Gió (Trời) và Bồ Cắt = OI, thiếu dương nguyên thể của Đất ứng với Tượng Đất. Đây l à lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu âm thiếu dương (thiếu là tiểu), Trời với Đất. Câu Bổ Nông là ông Bồ Cắt nếu dùng làm hai cực lưỡng nghi thì là lưỡng nghi của tiểu vũ trụ của thế gian. Như thế so sánh với câu tôi chọn Bồ Nông là Ông Bổ Cắt làm lưỡng nghi thì là lưỡng nghi Đại Vũ Trụ cõi Tạo Hóa, hiển nhiên Đại Vũ Trụ quan trọng và chí lý hơn vì hợp với khuôn mặt của chim là biểu tượng cho cõi trên, cõi trời Đại Vũ Trụ. Điểm này thấy rất rõ qua hình con thuyền trên trống Ngọc Lũ I và Hoàng Hạ.

clip_image022

Một chiếc thuyền trên trống Ngọc Lũ I.

Mũi thuyền có con chim mỏ Rìu Bổ Cắt thái dương biểu tượng cho nọc, dương, bộ phận sinh dục nam cắm vào miệng Rắn Nước thái âm biểu tượng cho nòng, âm, bộ phận sinh dục nữ dưới dạng lưỡng hợp thái dương-thái âm Đại Vũ Trụ.

Trong khi ở đuôi thuyền mang tính âm, phụ có hình đầu chim nông thiếu âm lưỡng hợp với cây cọc đầu chim bồ cắt thiếu dương ở ngay sau mũi thuyền. Đây là lưỡng hợp thiếu âm-thiếu dương Tiểu Vũ Trụ. Hiển nhiên đầu thuyền quan trọng hơn đuôi thuyền. Rõ như ban ngày lưỡng hợp thái dương thái âm Đại Vũ Trụ cõi Tạo Hóa quan trọng hơn lưỡng hợp thiếu âm thiếu dương Tiểu Vũ Trụ thế gian. Lưỡng hợp Bồ Nông Bổ Cắt quan trong hơn lưỡng hợp Bổ Nông-Bồ Cắt.

Đây chính là lý do tại sao tôi chọn bài hát khởi đầu bằng hai con BỒ NÔNG và BỔ CẮT.

Tứ Tượng

Bốn câu còn lại diễn tả tứ tượng.

./Tượng Lửa

Bổ cắt là bác chim di:

Ngày nay ta có con chim di là loài chim nhỏ như chim sẻ, Anh Mỹ gọi là finch. Có một loại gọi là chim di sừng. Sừng là nọc nhọn biểu tượng cho dương, lửa trời.

Chim di sừng loài mỏ nhọn, cứng rất khỏe như nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương. Loài chim di có lông đỏ mang dương tính cực độ.

clip_image023

Chim Di đỏ (nguồn birdsonline.com).

 Chim di ngày nay thường dùng làm chim phóng sinh về trời tức chim trời. Vì thế chim biểu tượng lửa trời. Theo d=l, dần dần = lần lần, di = li/ lửa. Lửa do hai que nọc (II) dùi ra. Hai nọc là thái dương, nguyên thể của Càn, lửa vũ trụ, lửa trời. Trong câu “Bổ cắt là bác chim di” nếu ta hiểu từ “bác” có nghĩa là “cha” như thấy qua câu “Hai bên bác mẹ cùng già” thì chim di là con của bổ cắt (II) nên có dòng máu lửa thái dương II.

Tóm lại chim di, nhất là loài di sừng mầu đỏ là chim biểu của lửa trời, thái dương, nguyên thể của Lửa vũ trụ Càn.

./Tượng Đất dương

Chim di là dì sáo sậu.

Sáo sậu thuộc họ nhà sáo (mynah).

clip_image024

Sáo sậu lông đen có đốm trắng trông như đá hoa cương nên còn gọi là sáo đá (nguồn free-picture.org).

Tại sao lại gọi là “sáo sậu”? Sáo là gì? Sáo là bao, túi, bọc, nang. Theo Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển Hán Việt sáo là bọc, túi. Sậu là gì? sậu là cứng: ngô sậu là ngô cứng (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Sậu biến âm với sẩu là sừng, sửu là con vật có sừng tức con trâu. Sừng cũng có nghĩa là cứng (theo s= c như sắt = cắt, ta có sừng = cứng). Sừng sỏ là cứng đầu. Sáo Sậu là Sáo Cứng vì thế mà còn gọi là cà cưỡng. Cà là bọc là nang là trứng (xem Cậu Lậu Quả Cà), là Sáo, Cưỡng là từ nói trại đi của cứng. Cà Cưỡng là con Sáo Cứng, Sáo Sậu.

Sáo Sậu cũng còn gọi là Sáo Đá vì Đá cũng có nghĩa là cứng (cứng như đá). Ngoài ra gọi là Sáo Đá cũng vì con sáo sậu, cà cưỡng này có lông có đốm trông như đá hoa cương.

Viết theo chữ nòng nọc sáo là bọc tức O và sậu là cứng, sừng tức nọc (I): sáo sậu = OI, thiếu dương, nguyên thể của đá đất. Như thế được gọi là sáo đá cũng hàm ý là có bản thể đá thiếu dương.

Tóm lại sáo sậu là chim biểu của thiếu dương nguyên thể của Li, đá đất.

./Tượng Nước

Sáo sậu là cậu sáo đen.

clip_image025

Sáo đen (nguồn: birdingintaiwan.com).

Sáo là bao, bọc O. Màu đen là màu âm. Đen biến âm với đêm là âm. Cõi đen bóng tối, cõi đêm là cõi âm, cõi Nước. “Thần Nước, thần sông biển là thần Đen, Bà Đen, Bóng tối, Giảo Long...” (Đặng văn Lung, Văn Hóa Luy Lâu và Kinh Dương Vương, tr.76). Đen là âm tức nòng O. Sáo đen = OO, thái âm, nước nguyên khởi.

Tóm lại sáo đen là chim biểu của thái âm, nước vũ trụ, theo duy dương là nguyên thể của Chấn.

./Tượng Gió

Sáo đen là em tu hú.

clip_image026

Tu hú (nguổn internet).

Chim tu hú thường chỉ giống chim có tiếng kêu đặc biệt và là loài chim không biết ấp trứng nuôi con, chúng ta có câu “tu hú đẻ nhờ”. Tây phương gọi loài chim “đẻ nhờ” này là cuckoos thông thường (common Cuckoo, Cuculus canorus). Như vậy tu hú nói chung là loài chim có tiếng kêu “cúc cu” nghĩa là loài chim cu biết hú. Chim tu hú là chim biết “tu” biết “tru” biết “hú” là chim biểu của gió thiếu âm Đoài vũ trụ. Đối chiếu với cổ sử Hy Lạp ta cũng thấy rõ chim tu hú cuckoo là chim biểu của gió, Đoài. Theo truyền thuyết Hy Lạp Thần Zeus là Thần Bầu trời. Zeus được nhận dạng giống với thần Không khí, Gió Amon của Ai Cập. Thần Bầu trời Zeus mạng gió cũng có một khuôn mặt là chim cuckoo, tu hú.

Cũng nên biết Thần Zeus của Hy Lạp vay mượn từ thần thoại Ấn Độ.

Tổng kết

Bài đồng dao về vật tổ chim của chúng ta cho thấy 6 con chim trong bài hát này mang biểu tượng và ý nghĩa lưỡng nghi, tứ tượng ứng với tứ quái dương (chim có một khuôn mặt là dương) tức mang trọn vẹn vũ trụ tạo sinh gồm chim Nông tức Nòng (cực cái) dưới dạng bồ nông, thái âm và Cắt tức Nọc (cực đực) dưới dạng bổ cắt, thái dương. Bồ nông, bổ cắt là biểu tượng hai cực lưỡng nghi thái âm thái dương. Lưỡng nghi sinh ra tứ tượng dương: chim Di thái dương Lửa vũ trụ, nguyên thể Càn; Sáo Sậu thiếu dương, Đá đất vũ trụ, nguyên thể của Li; Sáo Đen thái âm Nước vũ trụ, theo duy dương là nguyên thể của Chấn và Tu Hú, thiếu âm Khí, Gió, vũ trụ, vòm trời, nguyên thể của Đoài vũ trụ. Đây là sáu loài vật tổ chim của chúng ta ứng với vũ trụ tạo sinh.

Ta có chim Di Lửa vũ trụ ứng với Càn, Sáo Sậu, sáo Đá ứng với Li, Đất dương, Sáo Đen ứng với Chấn Nước dương và Tu Hú ứng với Đoài vũ trụ. Bốn quái dương này hôn phối với bốn quái âm tương ứng là Khôn, Khảm, Tốn, Cấn. Như thế bài hát này diễn tả một loại Dịch, tôi gọi là Dịch Chim Nông-Chim Cắt.

Theo khuôn mặt duy dương, ta viết bốn quái dương Di Càn, Sáo Sậu Li, Sáo Đen Chấn và Tu Hú Đoài vũ trụ (chim biểu tượng cõi trời nên phải là Đoài vũ trụ) theo chiều dương, ngược chiều kim đồng hồ và quái Di Càn ở trên đỉnh. Ta có dịch đồ Dịch Chim Nông chim Cắt viết theo Dịch nòng nọc vòng tròn-que như sau:

clip_image028

Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Chim Nông Chim Cắt viết theo Dịch nòng nọc vòng tròn-que .

Như vậy ta có một loại Dịch, tôi gọi là Dịch  Chim Nông-Chim Cắt.

Đối chiếu với sử truyền thuyết Việt.

Chim Nông và Chim Cắt là hai vật tổ chim của hai ngành ngành nòng âm Thần Nông và Nọc dương Viêm Đế của Đại Tộc Việt. Viêm Đế tách ra Viêm có một nghĩa là nóng, lửa ứng với Càn Đế Minh Chim Di và Đế có một nghĩa là Trụ chống ứng với Núi Trụ Thế Gian, Đất dương Li Kì Dương Vương Sáo Sậu. Thần Nông tách ra Thần có một nghĩa là Nước ứng với Chấn Lạc Long Quân Sáo Đen và Nông có một nghĩa là Khí Gió ứng với Đoài vũ trụ Tổ Hùng Tu Hú.

Như vậy Dịch Chim Nông-Chim Cắt có một khuôn mặt giống một loại Dịch dựa theo sử truyền thuyết Việt.

Tôi gọi là Dịch Hùng Sử Truyền Thuyết Việt (xem Dịch này).

So Sánh Với Dịch Hoa Hạ.

-Chu Dịch

Bây giờ ta hãy so sánh với Chu Dịch qua Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Hoa Hạ.

clip_image030

Theo Tiên Thiên Bái Quái Phục Hy dùng từ cổ thời Hoa Hạ cho tới ngày nay ta thấy các quái từng cặp hôn phối nòng nọc, âm dương ở Tiên Thiên bát Quái Phục Hy Hoa Hạ giống với Dịch Chim Nông Chim Cắt chỉ khác các quái dương, theo chiều dương xếp theo thứ tự Càn Đoài Li Chấn. Theo Dịch Chim N ông Chim Cắt đọc theo chiều dương thì các quái dương xếp theo Càn Li Chấn Đoài. Như vậy có sự khác biệt. Do đó Dịch đồ của Dịch Chim Nông Chim Cắt cũng là một thứ Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy. Tôi gọi là Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy Nông Cắt. Dịch Chim Nông-Chim Cắt khác với Dịch Phục Hy Hoa Hạ.

-Dịch Văn Vương

So sánh với Dịch Văn Vương qua Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương.

clip_image031

Ta thấy ngay trên Hậu Thiên Bát Quái, theo chiều dương, các quái dương theo thứ tự Li Chấn Càn Đoài hoàn toàn khác với Dịch Chim Nông Chim Cắt. Các cặp quái nòng nọc, âm dương  hôn phối với nhau cũng khác.

Như vậy Việt Dịch Chim Nông Chim Ctắt là một thứ Dịch riêng của Việt Nam.

Kết Luận

,Chúng ta có Việt Dịch Chim Nông-Chim Cắt, một loại Dịch riêng khác với Dịch Hoa Hạ.

.Chim biết bay biểu tượng cho cõi trên Thượng Thế, cõi trời nên Dịch Chim Nông-Chim Cắt là Dịch cõi trên, Tạo Hóa mang tính truyền thuyết, sử truyền thuyết. Trong khi dịch thế gian mang tính lịch sử (xem Dịch Bầu Cua).

.Chim Nông Chim Cắt mang trọn vẹn ý nghĩa vũ trụ tạo sinh nên Dịch Chim Nông-Chim Cắt là Dịch Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Bài hát xoay tròn, đầu thành đuôi, đuôi thành đầu, vô cùng vô tận mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh tuần hoàn vô cùng vô tận.

.Chim Nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ nên Dịch Chim Nông Chim Cắt là Dịch Sáng Thế, Tạo Hóa.

.Chim Nông Chim Cắt là hai vật tổ tối cao, tối thượng của Đại Tộc Việt. Bài đồng dao này cho thấy tổ tiên người Việt theo Vũ trụ giáo. Thời thái cổ theo mẫu hệ, mẫu quyền có tổ tối cao là Tổ Nông, Mẹ hư không, không gian có chim biểu tối cao tối thượng là con nông (nông có trước Bổ Cắt). Tổ Nông sinh ra Nông-Cắt Thần NôngViêm Đế nhất thể lưỡng tính phái (vì thế viết dính vào nhau). Sau đó tách ra hai ngành nòng âm Thần Nông và ngành nọc dương Viêm Đế. Khi qua thời phụ hệ, phụ quyền, cực dương mặt trời ngự trị, tổ tiên ta theo mặt trời giáo, lúc này chim cắt, bổ cắt  tức ngành Viêm Đế mang tính chủ. Tuy nhiên văn hóa Việt vẫn giữ cốt lõi lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Tiên Rồng nên hai khuôn mặt Chim Nông-Chim Rắn vẫn còn đề huề với nhau. Văn hóa Việt theo vũ trụ luận dựa trên căn bản âm dương, dựa trên Dịch lý nên Dịch Chim Nông Chim Cắt có một khuôn mặt là Dịch Hùng Sử Truyền Thuyết Việt.

. Dịch Chim Nông Chim Cắt là hai loài chim ở vùng sông nước, rừng mưa nhiệt đới nằm trong địa bàn Bách Việt, không có ở vùng Hoa Hạ cho chúng ta biết chúng ta có một loại Việt Dịch riêng khác với Dịch Hoa Hạ.

Chim Nông, một loài chim nước là chim biểu tối cao tối thượng của chúng ta. Ở đây cho thấy chúng ta có văn hóa Nước, Nông Nghiệp làm lúa nước (sông, biển, ruộng nước) nghiêng về Thần Nông, Lạc Việt. Chúng ta có một loại Dịch Phục Hy Việt nghiêng về sông nước, nông nghiệp.

.Dịch Chim Nông-Chim Cắt có một thứ Tiên Thiên Bát Quái thuộc loại Tiên Thiên Bát Quái Phục Hy nhưng là loại của Bách Việt khác với Tiên Thiên Bát Quái Hoa Hạ.

Cước Chú

.Tên các loài chim này đều có thể viết bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que. Nông = Nường = O, Cắt = Chặt (rìu, vật nhọn) = Cặc = I, Bồ Nông = OO, Bổ Cắt II, Sáo Sậu (sáo là túi, bọc, sậu là cứng) = Sáo Đá = Sáo Cứng = Sáo Sừng = OI, Sáo Đen = Sáo Nước = OO, Tu Hú = IO.

Cho thấy Dịch Nông Cắt viết được bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que là một thứ Dịch nòng nọc vòng tròn-que.

.Bài hát xoay tròn, đầu thành đuôi, đuôi thành đầu, vô cùng vô tận mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh tuần hoàn vô cùng vô tận. Sinh tử, tử sinh là một vòng tử sinh. Bài hát xoay tròn cũng cho thấy chim tu hú là chim chót trong chu kỳ lại khởi đầu lại một vòng sinh tạo khác. Chim tu hú nếu tính theo phả hệ là cháu chắt, chút chit của bồ nông lại trở thành “chú bồ nông” ở một vòng sinh tạo thứ nhì….

Điều này cho thấy Đoài vũ trụ gió tu hú đội lốt hư không Nông. Đoài vòm trời thế gian đội lốt hư vô vũ trụ. Với những vai vế “ông”, “bác”, “dì”, “cậu”, “chú” rồi theo vòng xoay đảo lộn cho thấy muôn sự đều chuyển dịch theo lẽ tuần hoàn của vũ trụ tạo sinh, của Dịch.

Ta thấy chu kỳ đầu Bồ Nông là ông Bổ Cắt diễn tả sự sinh tạo, sáng thế ở cõi tạo hoá. Chu kỳ thứ hai Tu Hú là chú Bồ Nông là chu kỳ sinh tạo ở cõi tiểu vũ trụ thế gian khở đầu từ Tu Hú chim biểu của Tổ Hùng. Giờ Tổ Hùng có một khuôn mặt sinh tạo ở cõi thế gian lịch sử sinh ra Hùng Vương lịch sử. Rồi tiếp tục nữa, chu kỳ thứ ba lại lộn về vòng sinh tạo Tạo Hóa v à chu kỳ thứ 4 lại trở về vòng thế gian và tiếp tục mãi mãi như vậy.

.Tôi dùng từ Tổ Hùng chỉ vị Tổ còn mang tính truyền thuyết khác với Hùng Vương lịch sử đội lốt truyền thuyết. Còn từ Hùng Vương tôi dành chỉ các Vua Hùng lịch sử bằng xương bằng thịt đội lốt (con cháu) Tổ Hùng.

Cần phân biệt Tổ Hùng truyền thuyết với Hùng Vương lịch sử.

.Đoài thường hiểu theo dịch muộn thế gian của Hoa Hạ là ao đầm. Thật ra ở cõi tạo hóa, vũ trụ lúc sáng thế chưa có ao đầm. Đoài biến âm với đài, đẫy có một nghĩa là túi, bao, bọc. Anh ngữ Đoài gọi là Tui. Anh ngữ Tui biến âm với Việt ngữ Túi.

Vũ trụ, trời là một cái bọc nên gọi là bầu vũ trụ, bọc vũ trụ, bầu trời, bọc trời. Da là cái bọc thân người, trời là cái bọc, cái bao nên cũng có da gọi là da trời. Ông thần gió khoác cái bao, túi gió trên vai. Ở cõi trời cái bọc (O) mang tính lửa, thái dương (II) tức Khôn dương là bọc khí gió IIO tức Đoài vũ trụ. Ở cõi thế gian cái bọc (O) nước ấm, nóng (II) là Đoài ao đầm thế gian.

Vì thế ở cõi tạo hóa Đoài phải hiểu là bầu vũ trụ, khí gió Đoài vũ trụ phân biệt với Đoài thế gian hiểu theo Dịch muộn, thế gian Trung Hoa là ao đầm.

Cần phải phân biệt Đoài vũ trụ với Đoài thế gian.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: