GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC (5 và hết): Giải Đọc Một Gương LTV Đời Hán (3).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC, MỘT KHUÔN MẶT ĐỐI CỰC NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG VỚI TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN

(phần 5 và hết)

Nguyễn Xuân Quang

Giải Đọc Một Gương LTV Đời Hán.

Tương tự như trên, mặt gương chia ra làm hai vùng:

1. Thượng Thế: Vùng Tâm Gương.

Thượng Thế, theo nguyên tắc, phần ở tâm gương trong lòng hình vuông tương ứng với phần tâm trống, biểu tượng cho cõi trên.

Tâm gương VOLT có một cục u tròn bao quanh bởi một vành trống không, tương tự như trên, diễn tả:

hư vô, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng.

Ở đây cực dương ở tầng lưỡng nghi có hình mặt trời bốn tia sáng là bốn cánh hoa nhọn đầu mang dương tính. Theo duy âm nữ, là mặt trời dương nữ thái dương cõi đất vuông hay mang tính tứ tượng. Điểm này thấy rõ qua linh tự mặt trời Kin của Maya, một tộc thuộc nòng âm, một thứ Bộc Việt, có hình hoa 4 cánh clip_image002) hình vuông Đất (đầu cánh hoa bằng mang âm tính cho thấy Maya có khuôn mặt âm trội).
Ở tầng tứ tượng, thì tứ tượng được diễn tả bằng chữ thập bốn cánh hoa như hoa sen mang âm tính. Chữ thập bốn cánh hoa nhọn đầu diễn tả tứ tượng âm thái dương.

Giữa các cánh hoa có phụ đề 4 núm tròn nhỏ, ở đây có một khuôn mặt diễn tả con số 4, tứ tượng ngành âm và cũng có thể là bốn dấu nòng o tí hon (dấu chấm mầu đen, âm) nói cho biết tứ tượng mang âm tính.

.Tam thế.

Ta thấy trống loại VOLT này có hình vuông đất ở tâm có núm tròn diễn tả trời, tổng quát là Đất Trời thế gian, theo dạng ‘vuông tròn’, theo dạng ‘bánh chưng, bánh dầy’, diễn tả trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh , Vũ Trụ giáo, Dịch thế gian, gồm vũ trụ tam thế.

Tóm lại ở đây vũ trụ tam thế diễn tả bằng tròn vuông cõi trời đất thế gian.

.Trục Thế Giới:
Tâm gương có một khuôn mặt diễn tả Trục Thế Giới thông thương tam thế.

2. Trung Thế: Vùng Còn Lại Mặt Gương.

Trung Thế là phần còn lại từ vòng biên gương cho đến hình vuông. Ở đây Trung Thế cõi đất nhân gian chi chia ra làm Ba Cõi:

-Cõi Đất:

Là phần giữa hình vuông và vòng tròn thứ nhì (kể từ tâm gương) có những trang trí chim thú, hình học, chữ nòng nọc vòng tròn-que, các chữ giống như chữ Hán…

clip_image004

Cõi đất này gồm hai phần:

-/Phần 1

1à vành lớn nhất, vành chủ đạo của vùng đất dương. Ngoài những chữ VOLT diễn tả tứ tượng như đã nói ở trên, có thêm các hình linh thú không thấy rõ, ngoại trừ hình chim có đuôi dài như chim trĩ, tiền thân của chim phượng và rắn uốn cong, tiền thân của rồng.

clip_image005

Xen kẽ giữa linh thú là 8 hình núm tròn bao quanh bởi một vòng tròn mang hình ảnh chữ nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn-chấm. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0, 8). Theo duy dương ngành âm ta có Khôn dương (thiếu âm) tức Đoài vũ trụ. Ở đây theo nghĩa lưỡng hợp tiểu vũ trụ là Đoài vũ trụ (số 3)-Cấn (số 4, hình vuông) tức Ba Vuông, nói nôm na là lưỡng hợp Trời Đất.

Ở gương tìm thấy ở Trung Quốc ở trên có 12 núm nhỏ. Số 12 là số Cấn tầng 2 (12 = 4 + 8), Núi đất âm thế gian. Ta cũng có lưỡng hợp Cấn-Đoài vũ trụ.

Như thế nhìn dưới diện Vũ Trụ Tạo Sinh vùng này có 8 núm, số 8 là số Khôn có một khuôn mặt hư vô. Núm bao quanh bởi vòng tròn là chữ vòng tròn-chấm có những nghĩa thái cực, lưỡng nghi và bốn chữ VOLT diễn tả tứ tượng, tất cả diễn tả vũ trụ thuyết cõi thế gian của vùng đất mang âm tính thuộc ngành nòng âm.

Hai linh thú chim lửa-rắn nước mới bắt đầu thần thoại hóa cho biết vùng đất thuộc tộc chim-rắn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là chim-rắn Tiên Rồng Âu Cơ-Lạc Long Quân.

-/Phần 2

Là vành có khắc các chữ, ở đây nhìn không rõ. Sự hiện diện của chữ viết cho thấy gương đã muộn. Những gương cổ đại thường chưa có chữ, cùng lắm chỉ có chữ nòng nọc vòng tròn-que.

-Cõi Trời.

là vành nấc thang hay thanh ngang đường rầy nghiêng thường gọi là răng lược biểu tượng cho không dương gian sinh động khí gió Đoài vũ trụ.

Vành này là vành bầu trời, cõi trời của Trung thế đất thế gian.

-Cõi Nước

Vùng Ngoại Biên Gương là Cõi Nước.

Ở đây, vùng này là vùng nổi ở ngoài biên gương gồm có ba vành:

-hai bên là hai vành chữ nòng nọc vòng tròn-que mũi mác (răng cưa, răng sói) có một nghĩa là hai nọc lửa năng hoạt tức thái dương.

clip_image006

Ba vành ngoài biên gương.

Hai vành mũi tên này đều có đỉnh chỉ thiên, khác với ở trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, đỉnh chỉ vào vành kẹp ở giữa. Ở đây diễn tả hai vành nọc, dương sinh động một cách dễ hiểu và ‘bình dân giáo dục hơn’.

-Vành ở giữa là vành hình sóng nước nhọn đầu diễn tả nước dương, nước lửa ứng với một khuôn mặt Chấn (Lạc Long Quân Chấn có một khuôn mặt là thần Biển, tức nước dương, chuyển động).

Vành này cũng được diễn tả theo cách dễ hiểu, ‘bình dân học vụ’ là hình sóng nước nhọn đầu thay vì dùng chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm-hai vòng tròn đồng tâm có một nghĩa là Chấn.

Tóm lại ba vành này diễn tả nước thái dương ứng với Chấn, Cõi Nước dương. Gương này có một khuôn mặt Chấn thái dương mang tính chủ.

Điểm này cho thấy khuôn mặt âm nam Chấn đại diện cho khuôn mặt dương nữ, thái dương Tốn của gương. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là khuôn mặt Chàng Nước Lạc Long Quân Chấn, Mặt Trời Nước thái dương đại diện cho khuôn mặt Nàng Lửa, thái dương thần nữ Âu Cơ.

Như thế mặt gương gồm Thượng Thế diễn tả trọn vẹn Vũ Trụ Tạo Sinh và Trung Thế gồm Ba Cõi: Đất, Trời, Nước.

Kiểm Chứng Với Mandala (mạn đà la).

Để xác quyết thêm, xác thực thêm ta thấy gương đồng đời Hán loại VOLT này mang hình ảnh của một thứ mandala vuông mang tính chủ.

Ta có thể so sánh với các mandala vuông liên hệ với núi Meru. Nhìn chung chung thì mandala là các đồ hình thể hiện một dạng thức hình học của vũ trụ hay của bản thể con người (vì con người là tiểu vũ trụ).

Ví dụ một mandala Phật giáo mật tông:

clip_image007

Phần Trung Thế diễn tả bằng các hình vuông của mandala là các phần chiếu của ba tiểu thế của Cõi Đất diễn tả bằng Núi Trụ Thế Gian Meru và các vòng tròn bên ngoài diễn tả Cõi Trời khí gió và Cõi Nước.

(Jonangfundation.org)

Mandala có phần Trung Thế hình vuông diễn tả hình chiếu của núi Meru (Núi Trụ Thế Gian có một khuôn mặt Trục Thế Giới) và các vòng tròn ở ngoài diễn tả Cõi Trời khí gió và Cõi Nước.

Lưu ý hình vuông nhỏ ở tâm ứng với Trục Vũ Trụ có bốn cổng chữ T nhỏ và hình vuông lớn diễn tả cõi đất Trung Thế có bốn cổng chữ T lớn với bốn mầu sắc khác nhau ứng vớí tứ tượng (mầu vàng ứng với đất, mầu đỏ ứng với lửa, mầu xanh dương ứng với nước dương và mầu trắng ứng với gió) của cõi đất.

Phần hình vuông lớn có 32 vòng tròn. Số 32 là số Khôn tầng 5 (0, 8, 16, 24, 32) (Số 32 = số 0 như thấy trong nhiệt học 32 độ Farenheit = 0 độ bách phân Celcius). Khôn dương là khí gió và các dải nước ứng với các vành tròn của mandala.  Dĩ nhiên các chi tiết so với gương khác nhau.

Mandala vuông tròn Vũ Trụ này cũng chính là hình ảnh bánh chưng ‘Đất’ để trên bánh dầy tròn ‘Trời’.

Tóm lại

Gương đồng vũ trụ LTV nhà Hán có hình dạng hình vuông nằm trong mặt gương tròn mang hình ảnh vuông tròn tức lưỡng hợp tiểu vũ trụ thiếu dương Cấn Đất với Đoài vũ trụ không gian, bầu trời (trời) theo Tiên Thiên bát quái. Ở tâm có cục u núm tròn nằm giữa hình vuông cũng ở dạng tròn vuông, trời đất. Dạng vuông tròn là dạng bánh chưng bánh dầy. Gọi là gương LTV là thiếu sót, đúng ra phải gọi là VOLT.

Một Hai Gương Đồng Khác

Ví dụ như gương Gương đồng Mân Thôn Thọ Xuân, Thanh Hóa dưới đây.

clip_image009

Gương đồng Mân Thôn Thọ Xuân, Thanh Hóa, mộ 1 A (Quyển 1) với hình rồng và hình cuộn cong (ảnh EFEO).

clip_image010

Plate 118

Hình phóng lớn một phần gương.

Gương có hình nọc (I) nhọn xuyên qua có hai hình sóng cuộn do hai nòng OO chuyển động mở ra. Ta có IOO, quẻ Chấn, có một khuôn mặt là sấm mưa (chấn vi lôi). Nọc nhọn này diễn tả một loại búa thiên lôi. Dạng búa thiên lôi này cũng thấy ở một gương đồng dưới đây.

clip_image012

Một gương đồng có ba hình búa thiên lôi.

Gương có búa thiên lôi là gương có một khuôn mặt Chấn sấm mưa.

SO SÁNH GƯƠNG ĐỒNG VOLT ĐỜI HÁN VỚI TRỐNG ĐỒNG NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG CỦA ĐẠI TỘC ĐÔNG SƠN.

So sánh ta thấy có những điểm chính sau đây:

Gương thuộc phía ngành nòng, âm nữ (dành cho phái nữ dùng).

Gương hình tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho lỗ sinh dục nữ. Trên gương hầu hết các vành giới hạn là vành trống không mang âm tính vì gương thuộc ngành nòng âm. Trong khi trống có một nghĩa là đực thuộc phía ngành nọc, dương nam. Trống hình trụ để ở vị thế gõ vào mặt đặc dương có một khuôn mặt biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Trống đồng của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc âm dương có hình bộ phận sinh dục nam bằng đầu (chỏm vòm qui đầu đập dẹp xuống thành mặt trống)

clip_image014

Theo đúng ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, trống đồng Đông Sơn có một khuôn mặt là trống (đực), bộ phận sinh dục nam. Trống có hình dương vật, vòm cõi Thượng Thế (tái tạo lại bằng đất sét) ứng với qui đầu được đập dẹp xuống tạo thành mặt trống.

Phần đầu kín như vừa nói là qui đầu đập dẹp xuống mang dương tính. Mặt trời ở tâm trống xác thực đầu kín của trống đồng mang dương tính nọc. Trong khi phần đáy hổng mang âm tính. Mặt đáy hổng tròn tương dương với mặt gương. Gương cũng có thể coi như là gương nòng nọc, âm dương: mặt láng để soi là mặt dương, mặt sau có trang trí là mặt âm (giống trống đống có mặt đánh trống là mặt dương, đáy hổng là mặt âm).

-Gương đồng là một mặt sáng phản chiếu.

Sáng mang tính dương, thái dương (thái dương với nghĩa ‘nhiều dương’). Gương biểu tượng cho nòng, âm nữ thái dương (mặt trời nữ, mặt trăng nữ thái dương). Trong khi trống đồng biểu tượng cho nọc, dương nam thái dương (mặt trời nam thái dương). Theo duy dương hay vào thời phụ quyền thống trị, một khuôn mặt âm nam thái dương thay thế hay làm đại diện cho âm nữ thái dương.

Như thế gương và trống diễn tả vũ trụ thuyết là hai khuôn mặt đối cực nòng nọc, âm dương với nhau, trái ngược nhau như mặt trời, mặt trăng. Trong cùng một ngành mặt trời thái dương (Việt Mặt Trời thái dương) thì trống và gương đồng trái ngược nhau như mặt trời nọc dương thái dương với mặt trời nòng âm thái dương.

-Gương đồng diễn tả triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Nhưng gương đồng có một khuôn mặt đối cực nòng nọc, âm dương với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

-Gương đồng vũ trụ có ý nghĩa và chức vụ giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn nhưng ngược tính nòng nọc, âm dương.

-Gương đồng vũ trụ (các học giả hiện nay xác nhận gọi là Cosmic Mirrors và qua sự giải đọc bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que của tôi) một lần nữa xác thực trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống vũ trụ diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, là trống biểu của Vũ Trụ giáo dựa trên Dịch nòng nọc.

Chữ nòng nọc vòng tròn-que viết trên gương đồng không chính thống, ở dạng đã muộn.

Gương đồng VOLT có chữ nòng nọc vòng tròn-que giống như ở trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Chữ nòng nọc vòng tròn-que trên gương đồng có nhiều chữ mang âm tính như vành trống không, nấc thang, hình sóng vì gương thuộc ngành nòng âm nữ ngược với trống đồng nòng nọc, âm dương. Tuy nhiên, trên trống đồng nòng nọc, âm dương, chữ nòng nọc vòng tròn-que viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que nguyên thủy, chính thống. Trên gương đồng viết theo dạng muộn, dạng bình dân giáo giục như Chấn Nước diễn tả bằng hình sóng nước thay vì là chấm hai vòng tròn đồng tâm. Thái dương không diễn tả bằng hai vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chĩa mũi vào nhau mà cả hai hướng vào tâm…

So sánh niên đại ta thấy các gương đồng diễn tả vũ trụ luận dựa trên nòng nọc, âm dương, Dịch lý như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có cao điểm vào thời nhà Hán từ 206 TDL đến 220 SDL, trong khi trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn có tuổi già hơn gương đồng vũ trụ thời nhà Hán. Trống Ngọc Lũ I được cho là có tuổi từ 600 -800 TDL.

Điểm này cho thấy chữ nòng nọc vòng tròn-que có thể bị ảnh học từ Bách Việt vì vậy mà cách viết

không chính thống như trên trống đồng nòng nọc, âm dương của Bách Việt (trống đồng nòng nọc, âm dương là cuốn tự điển chữ nòng nọc vòng tròn-que rất chính thống).

-Dịch

Trên gương đồng vũ trụ VOLT thời Hán, Dịch diễn tả bằng Dịch que (que liền là hào dương, que đứt đoạn là hào âm), một thứ dịch duy dương mang khuôn mặt que, nọc mang tính chủ. Trong khi trên trống đồng nòng nọc, âm dương, Dịch diễn tả vẫn giữ truyền thống bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que (vòng tròn nòng là hào âm, nọc que là hào dương).

Gương đồng không có hệ thống qui củ theo Dịch lý như trống đồng nòng nọc, âm dương (theo số tia sáng mặt trời), không là gương biểu của từng đại tộc, chi tộc của ngành nòng âm như trống đồng nòng nọc, âm dương…

Nhiều gương không diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh. Sự hiện diện của các linh thú thần thoại cho thấy đã muộn (nguyên khởi con người dùng các con vật hiện thực có trong thiên nhiên làm vật tổ). Sự hiện diện các chữ Hán cũng cho thấy đã muộn (trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn không có các linh thú như rồng, chỉ có cá sấu, giao long còn thấy rõ cốt cá sấu) và chỉ có các chữ nòng nọc vòng tròn-que.

Gương đồng Hán VOLT là loại muộn, diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh nhưng với hình thức vuông tròn là ở cõi tiểu vũ trụ, cõi thế gian nghĩa là diễn tả theo Dịch muộn ở cõi thế gian giống như Chu Dịch quan niệm Càn Khôn là Trời Đất (thật sự Khôn không phải là Đất), các hào Dịch đều có hình nọc que nghĩa là theo duy dương ở thời phụ quyền ngự trị. Các trang trí không thuần túy theo Dịch, có thêm hình chim thú, người, phong cảnh thông thường và hay có chữ Hán.

Không giữ truyền thống.

Gương đồng thay đổi theo thời đại khác với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn giữ chính thống cho tới ngày tàn lụi [chỉ những trống đồng rất muộn của các tộc bị ảnh hưởng văn hóa Đông Sơn như ở Thái, Lào, Nam Dương, Nam Trung Hoa (bị đồng hóa bởi văn hoá Trung Hoa) mới thay đổi theo văn hóa địa phương].

Gương nghiêng nhiều về công dụng duy tục: vẽ phong cảnh, nhân vật lịch sử, lý số, phong thủy… Những điểm này không thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn ở Việt Nam.

-Không Tinh Tế

So sánh gương đồng VOLT đời Hán với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn ta thấy nền văn hóa gương đồng Hán không tinh tế bằng văn hóa Đông Sơn.

-Bị ảnh hưởng của văn hóa Đông Sơn, Bách Việt.

Gương vũ trụ VOLT của nhà Hán có thể bị ảnh hưởng bởi văn hóa Đông Sơn: một là nhà Hán nằm trong Bách Việt, hai là bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với văn hoá Bách Việt bằng chứng như đã nói ở trên,

ta thấy gương đồng không giữ truyền thống, dọc theo chiều dài lịch sử gương đồng bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác, ngay cả bởi văn hóa của các vùng xa xôi ở phương Tây qua con đường Tơ Lụa như thấy qua các hoa văn dây nho với chùm quả là loại cây không có gốc ở Trung Hoa.

Như thế văn hóa Trung Quốc bị ảnh hưởng của văn hóa Bách Việt là chuyện có thể có. Đã vay mượn được của Bách Việt thì rất dễ vay mượn được của các văn hóa khác như đã nói.

Biểu tượng quan trọng của các gương TLV khởi đầu là rồng. Hình thái rồng cho biết gương Hán nghiêng nhiều về dòng nòng nước Lạc Long Quân. Những gương có hình búa thiên lôi, dóng sấm cũng liên hệ với Lạc Long Quân.

Gương đôi khi có 5 linh thú thay vì 4 của văn hóa Trung Hoa. Có con Lang cẩu, linh thú của Hùng Vương. Ta thấy rất rõ loại gương lưỡng hợp đại vũ trụ Chấn-Tốn với mặt gương gồm toàn những vòng tròn ứng với khuôn mặt Chấn Lạc Long Quân và Tốn Âu Cơ cõi sinh tạo. Gương lưỡng hợp tiểu vũ trụ với mặt có hình thái tròn-vuông ứng với khuôn mặt Đoài Hùng Vương và Cấn Vợ Hùng Vương thái tổ ở cõi thế gian.

TÍNH NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG GIỮA GƯƠNG ĐỒNG VÀ CÔNG CHIÊNG.

Mặt khác ta cũng cần phải phân biệt gương với cồng chiên. Cồng chiêng cùng một bộ gõ với trống nên cùng ngành nọc, dương (Viêm Đế). Cồng chiêng là khuôn mặt âm của trống nhưng cùng ngành tức cồng chiêng thuộc họ ngoại thái dương trong khi trống thuộc họ nội thái dương của ngành nọc dương Viêm Đế. Dĩ nhiên cồng chiêng cũng chia ra làm hai nhánh theo nòng nọc, âm dương, ngoại nội là nhánh cồng âm và chiêng dương. Cồng biến âm với còng (vòng đeo tay), với nòng còn chiêng biến âm với chông (nọc). Ta thường nói trống chiêng nhiều hơn là trống cồng nghĩa là chiêng đi đôi với trống nhiều hơn. Trong các đền như ở Đền Hùng trống đi với chiệng.  Chiêng là khuôn mặt dương thái dương của cồng, cùng phía thái dương như trống đồng (tôi sẽ có bài viết về cồng chiêng khi có dịp về Tây Nguyên Việt Nam tìm được thêm các tài liệu về cồng chiêng).

Trong khi đó gương cũng là khuôn mặt âm thái dương nhưng là âm thái âm, nữ thuộc ngành nòng, âm, nữ (Thần Nông thái âm). Gương và trống thuộc hai ngành nòng nọc, âm dương đối cực nhau, khác nhau, là hai cực âm dương đối nhau. Trống thuộc ngành nọc thái dương Viêm Đế còn gương thuộc ngành nòng Thần Nông thái âm (trong khi cồng chiêng cùng là bộ gõ thuộc cùng một ngành nọc thái dương Viêm Đế). Như đã nói ở trên, về thời phụ quyền thống trị, một khuôn mặt âm nam thái dương thay thế hay làm đại diện cho âm nữ thái dương của gương.

TỔNG KẾT

Gương là một mặt sáng mang tính thái dương có hai khuôn mặt: dương nữ thái dương biểu tượng cho mặt trời nữ thái dương và âm nữ thái dương biểu tượng cho mặt trăng tròn nữ thái dương.

Gương đồng, nhất là loại gương vũ trụ VOLT thời nhà Hán là một khuôn mặt đối cực nòng nọc, âm dương của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Giống như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, gương đồng loại vũ trụ diễn tả triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch lý nhưng mang tính muộn.

Ta có thể dựa vào cách giải đọc trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn để giải đọc gương đồng vũ trụ. Về thể loại có hai loại gương: gương trên mặt có toàn là những vòng tròn, vành tròn là loại lưỡng hợp đại vũ trụ Chấn-Tốn ứng với sự hôn phối giữa Chấn Lạc Long Quân và Tốn Âu Cơ. Gương trên mặt có hình vuông VOLT là loại lưỡng hợp tiểu vũ trụ Đoài-Cấn, ứng với sự hôn phối giữa Đoài vũ trụ Hùng Vương thái tổ với vợ Cấn.

Gương đồng có cao điểm vào thời nhà Hán, một triều đại lấy tên theo dòng sông Hán, có thể có các vị khai quốc thuộc ngành nòng âm của chủng Bách Việt hay bị ảnh hưởng của văn hóa Bách Việt có văn hóa sông nước, nông nghiệp mang tính chủ.

Gương đồng Trung Quốc một lần nữa xác thực trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Vũ Trụ giáo, đại tộc biểu của ngành Người Việt Mặt Trời Thái Dương, vương biểu của Hùng Vương Mặt Trời.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: