GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC…. (phần 4) GIẢI ĐỌC (2).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC, MỘT KHUÔN MẶT ĐỐI CỰC NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG VỚI TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(phần 4)

Nguyễn Xuân Quang

GIẢI ĐỌC GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC (2).

B. Gương Đồng Đoài-Cấn Cõi Sinh Tạo Thế Gian.

Đặc tính của loại gương này là mặt gương có thêm hình vuông (hình vuông diễn tả cõi đất), khác với loại Gương Đồng Chấn-Tốn Sinh Tạo Đại Vũ Trụ mặt gương hoàn toàn chỉ có vòng, vành tròn. Vì có hình vuông và vòng tròn nên đây là loại gương Vuông-Tròn. Đây là loại gương đồng hôn phối tiểu vũ trụ Đất Cấn-Trời Đoài vũ trụ. Đối chiếu với truyền thuyết Việt ứng với Vợ Cấn Đất-Hùng Vương Đoài vũ trụ (Hùng Vương với khuôn mặt truyến thuyết).

Loại gương có các hình thái trang trí giống các chữ TLV nổi tiếng nhất đời Hán thuộc loại này.

Những gương đầu tiên với biểu tượng TLV xuất hiện vào thế kỷ thứ 2 TDL. Theo các học giả Trung Quốc và Tây phương hiện nay cho rằng chúng liên hệ với thiên văn học của Liu An và vũ trụ học. Biểu tượng quan trọng của các gương TLV khởi đầu là rồng. Những gương vào đầu thế kỷ thứ 2 TDL, rồng thường dùng như một thứ khắc chạm kiểu Ả Rập (arabesque), tuy nhiên tới thế kỷ thứ nhất, rồng trở thành nguyên hình hoàn toàn. Vào cuối thời Tây Hán, rồng được thay thế bằng các linh thú có cánh, quái thú và tiên nhân. Những loại gương mới sau này cũng phân chia thành hai phần rõ rệt, với phần có biểu tượng TLV được đặt ở phía trong vùng mặt chính và các trang trí khác được đặt vùng phía ngoài.

Đến cuối thế kỷ thứ nhất TDL, vành phân chia vùng chính ra là hai vòng nhỏ không còn nữa mà chỉ có một vòng tròn hay không có gì cả.

Gương vào thời Tấn (Xin), (8-23 SDL) chỉ có một dòng vua duy nhất là Vương Mãng (tách nhà Hán thành Tây và Đông Hán) thường có vành ngoài trang trí mây hay chim thú và vòng tròn trong với một hình vuông có cục u tròn ở tâm. Vòng tròn trong thường có một chuỗi 8 núm và các người và thú thần thoại, thường có Tây Vương Mẫu. Hình vuông trung tâm có thể có khắc chữ  hay hình 12 Địa Chi. Chữ khắc ở giữa hai vùng thường nói về Vương Mãng và triều đại của ông (Wikipedia).

Xin nói thêm là gương thường có hình Tây Vương Mẫu cho thấy rõ khuôn mặt nòng, âm, nữ là khuôn mặt mang tính chủ của gương.

Bây giờ ta hãy giải đọc một gương đồng nhà Hán thuộc loại TLV.

Như đã biết, được gọi là TLV vì có các gương này đều có khắc các biểu tượng hình chữ T, chữ L và chữ V.

Tôi chọn loại gương có những chữ nòng nọc vòng tròn-que giống như trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn để đối chiếu với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Xin đưa ra vài ba ví dụ gương TLV thấy ở Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản:

-Một gương đời Hán tìm thấy ở Trung Quốc được trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Bowers ở Quận Cam, Nam California.

clip_image002

Một gương đồng thời Hán loại ‘TLV’, tặng vật của Heather Sacre, BMCA 2000.65.7 (tác giả chụp tại Viện Bảo Tàng Bowers tại Santa Ana, Orange County).

Theo sự giải thích của bảo tàng này thì ‘trang trí LTV dựa theo hình bàn cờ (board game). Cục u nằm trong hình vuông nhỏ bao quanh bởi các núm và các chữ. Ngoài hình vuông có thêm các hình núm khác, Bốn Hướng Tâm Linh (four Directional Spirit), những đường đuôi cong và các chữ khác nữa, tất cả được bao quanh bởi hai vành răng cưa viền quanh gương’.

-Gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa, ở trên hữu ngạn sông Mã.

clip_image004

Plate 29.

Gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa, ở trên hữu ngạn sông Mã.

(nguồn: Olov R. T. Janse, Archaeological Research in Indo-China, Cambridge Massachusetts, Harvard University Press, 1951).

-Một ‘gương chuông’ thời Kofun (300-500 SDL) của Nhật.

Trở lại gương lục lạc có 6 chiếc lục lạc.

clip_image006

Cách Giải Thích Các Biểu Tượng TLV Của Các Tác Giả Hiện Nay.

Các học giả Trung Quốc và Tây phương hiện nay vẫn còn tranh cãi về ý nghĩa của các biểu tượng TLV là gì? Có nhiều người cho rằng TLV mang ý nghĩa của vũ trụ học Trung Hoa, trong khi một vài học giả tin rằng hình vẽ TLV phát xuất từ bàn cờ của Trung Hoa cổ gọi là liubo được chơi trên một tấm gỗ vuông có khắc các hình TLV giống như loại gương này.

Nói chung chung thì các tác giả hiện này gọi gương loại TLV là Gương Vũ Trụ (Cosmic Mirrors).

-Ý Nghĩa Vũ Trụ Học

Gương có hình tròn, tại tâm có cục u tròn nằm trên một khung vuông. Theo Schuyler Camman, biểu tượng TLV mang ý nghĩa vũ trụ luận. Hình vuông ở tâm gương diễn tả Trung Hoa là ‘Vương Quốc ở Giữa’. Vùng giữa hình vuông và vòng tròn ngoài là ‘Tứ Hải’. Thời Hán, tứ hải chỉ các vùng đất nằm ngoài Trung Hoa, chứ không phải có nghĩa đen là nước. Hình vuông nằm trong gương tròn giống như hàm ý theo người cổ Trung Hoa là trời tròn, đất vuông. Chín núm u ở hình vuông giữa giống như biểu hiện cho ‘chín vùng của quả đất’ như thấy nói trong Sử Ký. Tám núm u nằm ngoài hình vuông giữa tựa như biểu hiện cho Bát Trụ (Eight Pillars), núi chống nóc trời. Vùng giữa giới hạn viền tròn bên trong và viền ngoài cùng của gương thường có đầy những hình cuộn cong biểu hiện cho mây ở cõi trời. Các thiết kế, họa kiểu của gương TLV mang nghĩa vũ trụ học rất đáng kể (‘the design of TLV mirrors was cosmologically significant’) (Wikipedia).

-Hình thái chữ T

Ở giữa mỗi cạnh hình vuông của mặt một chiếc gương đồng đời Hán gọi là gương LTV có hình thái hình chữ T nhô ra như những chiếc cổng nhô ra của khuôn viên hình vuông.

clip_image007

Giữa mỗi cạnh hình vuông có hình thái hình chữ T nhô ra.

.Bốn hình chữ T diễn tả ‘Bốn Cửa của Vương Quốc ở Giữa’, thấy nói nhiều trong sách vở. Chúng cũng có thể diễn đạt ý tưởng của bốn cổng trong của chỗ hiến tế thời Hán hoặc là cửa của lăng tẩm vua chúa xây trong thời nhà Hán.

-Hình thái chữ L

Nằm cùng thẳng hàng với chữ T là chữ L dính vào vành ngoài cận mé gương.

clip_image008

Hình thái hình chữ L.

Hình chữ L có thể biểu tượng các đầm lầy bên ngoài ‘Tứ Hải’, nơi tận cùng của quả đất. Chỗ cong gấp khúc của chữ L có thể được dùng như tác dụng của một trục quay biểu tượng cho bốn mùa, liên hệ mật thiết với tứ phương.

-Hình chữ V

Ở bốn góc hình vòng tròn giới hạn lòng gương có bốn hình góc vuông nằm theo các chiều khác nhau mà các tác giả Trung Hoa và Tây phương hiện nay gọi là chữ V. Bốn chữ V góc vuông này tạo ra hình chữ thập ở lòng gương.

clip_image009

Hình thái chữ V.

Hình dạng này diễn tả năm hướng của Trung Hoa về: Bắc, Nam, Tây, Đông và Trung Tâm. Như đã nói ở trên hình vuông ở giữa biểu hiện Trung Hoa là Vương Quốc ở Giữa (thế giới). Vùng giữa hình vuông và vòng tròn diễn tả ‘Tứ Hải’. Hình vuông nằm trong gương tròn dựa theo Trung Hoa cổ là trời tròn và đất vuông.

Trên đây là cách giải đọc một gương TLV theo các học giả Trung Quốc và Tây phương hiện nay đã được Wikipedia đăng tải cho cả thế giới làm tài liệu.

Sau đây là cách giải đọc của tôi.

Giải Đọc Gương TLV Theo Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Của Tôi.

Như đã biết gương vũ trụ TLV là một khuôn mặt đối cực nòng nọc, âm dương với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống diễn tả vũ trụ luận, Dịch lý. Như Thế gương đồng cũng phải như vậy. Điều này thấy rõ qua sự kiện là có cả các gương như gương Đời Đường và nhất là các gương muộn ở các thời sau đó thường có khắc Dịch đồ ví dụ như thấy ở một gương đồng đời Minh:

clip_image011

Một gương đời Minh có khắc Dịch đồ.

Vì thế phải giải đọc TLV theo chữ nòng nọc vòng tròn-que, sự giải nghĩa theo suy đoán hiện nay không tới nơi tới chốn, thiếu sót và lệch lạc.

Tôi chọn gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa để giải đọc cho chính xác vì đã có hình vẽ chi tiết.

clip_image004[1]

Plate 29.

Gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa, ở trên hữu ngạn sông Mã

(nguồn: Olov R. T. Janse, Archaeological Research in Indo-China, Cambridge Massachusetts, Harvard University Press, 1951).

1. Hình thái chữ T.

Những vật hình chữ T trong nhiều nền văn hóa thế giới có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong có Trục Thế Giới như thấy trong văn hóa của người Ai Cập cổ, người Maya… (xem các bài Sự Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ, Maya Cổ với Việt Cổ). Các vật dùng dâng vật hiến tế, lễ vật thường có thiết diện hình chữ T ví dụ như chiếc bàn thiên của người Việt để cúng trời đất, Tam Thế mang hình ảnh của một Trục Thế Giới. Chiếc bàn thờ dâng vật hiến tế có hình chữ T cũng thấy trong Hán ngữ Shì (thị) ở dạng giáp cốt văn có nghĩa là bầy tỏ, tỏ rõ (hàm ý tỏ lòng biết ơn tới Tam Thế).

clip_image012

Hán ngữ shì (thị) (Wang Hongyuan.)

Chữ Shì nguyên thủy có hình bàn thờ hình chữ T diễn tả Trục Thế Giới. Về sau trên có nét ngang chỉ tế vật. Cuối cùng vẽ thêm hai chân hai bên, theo Wang Hongyuan ba nét quanh chữ T là để cho cân bằng và cho đẹp (!).

Lưu ý chữ thị ở dạng chữ triện trông giống thiết diện bổ dọc của một chiếc trống đồng có Trục Thế Giới trên có để lễ vật. Trong các đồ đồng Điền Việt thường thấy nhiều trống đồng chồng lên nhau làm thành trụ dâng lễ vật mang hình ảnh Trục Thế Giới (Trống Đống: Đồ Đồng Điền và Đông Sơn).

Trong chữ nòng nọc vòng tròn-que chữ T là do hai nọc (II) ghép lại. Hai nọc có một nghĩa là lửa (hai que làm ra lửa). Lửa thế gian có nguồn từ núi lửa (đất dương) ứng với Li. Hai que nọc ghép lại thành hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một khuôn mặt núi tháp nhọn. Hai nọc ghép lại thành hình chữ T là hình trụ chống đỡ, có khuôn mặt là Núi Tháp Bằng Đầu, Núi Trụ Thế Gian, Núi Trụ Chống Trời, Cõi Đất thế gian, Trục Thế Giới, Gò Đống Nguyên Khởi (primeval mound) (cũng giống truyền thuyết sáng thế của nhiều nền văn hóa thế giới như Ai Cập cổ chẳng hạn cũng cho rằng gò đất nguyên khởi nhô lên từ Biển Vũ Trụ và trong Ấn giáo có truyền thuyết nói rằng núi Vũ Trụ Meru nhô lên từ biển vũ trụ).

Chứng tích còn thấy rõ là theo James Churchward, sự khai sinh ra con người đầu tiên ở vùng đất tổ Mu (là M ụ, Mẹ) ở vùng Đông Nam Á, khởi sự từ gò đất nguyên khởi hình chữ T nhô lên từ biển vũ trụ tạo ra Núi Trụ Thế Gian, cõi đất thế gian. Rồi trên gò đất nguyên khởi nẩy sinh ra cây cỏ, muông thú và con người đầu tiên có cốt là con hươu sừng. Ngôn ngữ Đông Á cổ mà ông gọi là Maya-Naga ngữ, một thứ ngôn ngữ tiền Phạn (Proto-Sanskrit) có từ keh có nghĩa là con hươu và cũng là con người đầu tiên của nhân gian (Children of Mu).

clip_image013

Hươu Keh, con Người Đầu Tiên trên quả đất (James Churchward).

Keh chính là Việt ngữ Kẻ có nghĩa là nọc que thẳng (như thước kẻ), kì (cổ ngữ của cây), người như Kẻ Chợ (kẻ là người thuộc ngành nọc dương Kì, núi, ngành nọc dương nhánh Kì Dương Vương).

Hươu Keh là Việt ngữ Hươu Kì, với Kẻ chính là Kì (Dương Vương), vua tổ Xích Quỉ và cũng là người đầu tiên của nhân loại có cốt là con Cọc (nọc, que, ke, kẻ), tức hươu sừng nên Kì Dương Vương mới có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đực, hươu nọc, hươu sừng) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Lưu ý gò đất nguyên khởi hình chữ T cũng mang hình ảnh của một cây trụ chống đỡ nên rõ như ban ngày mang hình ảnh Núi Trụ Chống Trời.

Vì thế các bàn thờ dâng cúng lễ vật tới tam thế thường có hình chữ T mang hình ảnh là Trục Thế Giới, Núi Trụ Thế Gian. Thấy rất rõ nhất qua lời giải thích của James Churchward trong The Lost Continent of Mu dưới đây:

clip_image015

Tau trong một thủ ký Maya.

Hình Tau (T) là một biểu tượng phổ quát. Nó thấy trong chữ viết của Ấn Độ, Trung Hoa, Chaldeans, Incas, Quichés, Ai Cập cổ và các chủng tộc người khác. Nó giữ một phần quan trọng trong tôn giáo. Các bàn thờ trong các đền đài, trên đó dâng lễ vật hoa quả, được xây dựng theo hình chữ Tau.

(James Churchward, The Lost Continent of Mu).

Trong mộ của bà Tân Truy (Xin Zhui) thường gọi là ‘Lady Dai’ ở Mã Vương Đồi, Chàng Sa, Hồ Nam, thời Tây Hán (168 TDL), có một tấm phướn lụa đám ma hình chữ T diễn tả Tam Thế và Trục Thế Giới dùng để hướng dẫn hồn bà về Thượng Thế kèm theo để dâng cúng lời cầu nguyện và lễ vật tới Tam Thế.

clip_image017

Phướn lụa trong mộ của bà Tân Truy ở Mã Vương Đồi, Chàng Sa, Hồ Nam (ảnh của tác giả chụp ở Bảo Tàng Viện Chàng Sa).

clip_image019

Hình của David Buck vẽ chi tiết tấm phướn đám ma hình chữ T diễn tả Tam Thế có Trục Thế Giới để hướng dẫn hồn bà Tân Truy về Thượng Thế ở trong ngôi mộ cổ ở Mã Vương Đồi, Changsha (Chàng Sa) ( Fagan, copied from Changsha Mawangdui Yihao Hanmu 1973).

Phần trên cao nhất của nhánh ngang chữ T diễn tả cõi trên Thượng Thế.

Ở đây, ở góc trên bên trái (tức phía âm) có hình mặt trăng lưỡi liềm trên có con cóc thiềm thừ. Bên phải (tức phía dương) có mặt trời mang âm tính có hình đĩa tròn đỏ trong có con quạ đen (mặt trời mang âm tính vì liện hệ với cõi âm). Trăng trời diễn tả nòng nọc, âm dương. Có Nữ Oa (ngồi trong con rắn) và Hậu Nghệ. Ngoài ra còn có chim hạc của Đạo giáo (Daoism) biểu tượng cho bất tử, hằng cửu…

Phần giữa (phần trên của nhánh thẳng đứng) diễn tả cõi giữa Trung Thế.

Ở đây, giữa Thượng Thế và Trung Thế có các thiên sứ gởi xuống cõi trần để đưa Bà Tân Truy về cõi trên.

Ở dưới là gia đình của bà Tân Truy dâng lễ vật để giúp bà về cõi trên.

Phần đáy của nhánh thẳng đứng là cõi âm Hạ Thế.

Cõi âm được diễn tả bằng hai con rắn biển khổng lồ quấn vào nhau.

Phướn hình chữ T có một khuôn mặt Trục Thế Giới cũng là một thứ ‘bản đồ’ thần kỳ giúp hồn người chết tìm đường về thượng giới.

.Cây Vũ Trụ của Ai Cập cổ có hình chữ T. Hiển nhiên trong cây này có Trục Thế Giới hình chữ T.

clip_image021

Cây vũ trụ hình chữ T của Ai Cập cổ.

Chiếc bàn thiên của dân quê Việt Nam như đã nói ở trên, để dâng cúng tới tam thế (nhất là cõi trên vì gọi là bàn thiên) là một dạng bàn thờ chữ T diễn tả Trục Vũ Trụ.

Tóm tắt lại chữ T mang nghĩa Núi Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian, Trong có Trục Thế Giới.

Ở đây có một nghĩa biểu tượng cho Đất Thế Gian, cõi giữa nhân gian ứng với Li.

Ta cũng thấy rất rõ vì chữ T biểu tượng cho Đất dương thế gian nên để dính vào bốn mặt hình vuông-đất thế gian.

Tóm lại chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chữ T có nghĩa là cõi đất thế gian, Trung Thế, Núi Trụ Thế gian, Núi Trụ Chống Trời, Trục Thế Giới ứng với Li.

Để sáng tỏ thêm, xin đưa ra một ví dụ nữa là sơ đồ mặt bằng hình mandala vuông của ngôi chùa tháp Dhamayangyi Guphaya ở Bagan, Myanmar làm theo hình núi Trụ Thế Gian Meru.

clip_image022

clip_image023

(nguồn Min Bu Aung Kyaing, Guide to Bagan Monuments).

Hình vuông đen là Trục Thế Giới. Hình vuông ngoài là cõi đất thế gian. Bốn cổng vào ứng với bốn chữ T ở gương này.

Tóm lại hình chữ T trên gương đồng TLV có một ý nghĩa biểu tượng cho Đất, tượng Đất Li.

2. Hình Thái Chữ L

Chữ nòng nọc vòng tròn-que hình chữ L cũng do hai nọc que ghép lại. Như đã nói ở trên hai nọc có một nghĩa là lửa, thái dương.  Hai nọc que cọ xát vào nhau làm ra lửa. Chữ L ở đây giống chữ L lambda Ʌ Hy Lạp chỉ khác là vuông góc và góc nhọn. Ta thấy rõ chữ L Lambda Ʌ có hình chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Ʌ có một nghĩa là lửa vũ trụ, mặt trời.

Ta cũng thấy Việt ngữ Lửa, Anh ngữ Light (ánh sáng) khởi đầu bằng chữ L. Như thế L diễn tả lửa thái dương.

Rõ hơn bốn chữ L này ghép lại ta có chữ vạn. Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chữ vạn có nghĩa gốc nguyên thủy là lửa vũ trụ, mặt trời năng động mang tính tứ phương tầng tứ tượng… (Giải Mã Tảng Bùa Đền Hùng 2).

clip_image024

Chữ vạn mang nghĩa mặt trời thái dương trên Tảng Ngọc Bùa ở Đền Hùng, Phú Thọ.

Tóm lại L có một khuôn mặt diễn tả lửa vũ trụ, ánh sáng, ứng với tượng Càn.

3. Hình Thái Chữ V.

Chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chữ V, ngược với chữ viết nòng nọc vòng tròn-que nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Ʌ.

Ngược lại với Ʌ, chữ V có nghĩa, là nọc âm, nước thái dương, bộ phận sinh dục nữ ngành thái dương. Nước thái dương ứng với Chấn. Chữ V này chính là chữ V chalice của Dan Brown trong The Da Vinci Code. Theo ông ta có nghĩa là âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ. Nhiều hình chữ V này nối kết lại thành hình chuỗi sóng nhọn đầu tức nước chuyển động, nước dương.

clip_image026

Chuỗi sóng chữ V có một khuôn mặt nước dương chuyển động.

Ví dụ như những hình sóng nước thấy ngoài biên gương Hậu Lộc, Lạch Trường ở trên. Ở chân đế của những trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn nhất là những trống muộn thấy nhiều ở Nam Trung Quốc thường có những vành sóng nhọn đầu chữ V này diễn tả cõi âm hạ thế (xem Trống Đồng Nam Trung Hoa). Theo trường phái alchemy, hình tam giác ngược, một dạng biến thể của chữ V, cũng có nghĩa là nước (theo chữ nòng nọc vòng tròn-que phải hiểu là nước thái dương).

clip_image027

Về bố cục trang trí ta thấy V, Nước dương Chấn và L, Lữa vũ trụ Càn âm nằm dính vào vòng tròn biên lòng mặt trống diễn tả hôn phốn Chấn-Càn ngành nòng âm ở cõi đại vũ trụ, tạo hoá [trong khi, như đã nói ở trên, chữ T, Đất thế gian để ở vị trí hình vuông đất. Và Đất vuông hôn phối với trời tròn gió Tốn/ Đoài vũ Trụ (xem dưới)].

Tóm lại chữ V có một nghĩa là nước thái dương âm ứng với tượng Nước Chấn ngành âm.

1. Hình Thái chữ O.

Các tác giả Tây phương và Trung Quốc hiện nay gọi loại gương vũ trụ này là loại TLV còn thiếu sót. Như vừa thấy TLV mới chỉ diễn tả ba tượng Đất, Lửa, Nước ứng với Li, Càn, Chấn ngành nòng âm như thế hiển nhiên còn thiếu tượng Khí, Gió Đoài vũ trụ.

Khí gió, không gian là Khôn dương diễn tả bằng chữ nòng O mang dương tính.

Trước hết ta thấy mặt gương láng trống trơn để soi hình tròn diễn tả nòng, âm nữ (gương của phái nữ). Theo duy dương, như đã biết, gương là sáng và tròn là nòng, vậy gương tròn sáng là nòng O thái dương II, là Tốn (OII), là Nàng thái dương, Mặt Trời Nữ thái dương. Theo duy âm là không gian (O) thái dương (II) tức Khôn dương khí gió. Như thế ta thấy rất rõ gương là mặt tròn (O) sáng (thái dương II) có một khuôn mặt biểu tượng cho khí gió Tốn ngành âm. Trong xã hội phụ quyền, khuôn mặt nam gió dương Đoài vũ trụ IIO làm đại diện cho Tốn OII.

Cục u tròn nổi ở giữa vòng tròn bao quanh, như đã nói ở trên, diễn tả bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn-chấm. Theo dương (I) của âm (O) là thiếu âm, nguyên thể của khí gió.

Tóm lại gương còn có một khuôn mặt diễn tả khí gió âm Tốn, có khuôn mặt dương đại diện là khí gió dương Đoài vũ trụ.

Như thế trên mặt gương không phải chỉ có ba hình thái TLV mà có thêm hình thái O, khí gió dương. Gương có bốn hình thái gộp lại, tôi gọi là gương VOLT ứng với tứ tượng. Theo duy âm là Nước Khôn, Gió Khảm, Lửa Tốn, Đất Cấn ngành nòng âm. Theo duy dương hay trong xã hội phụ quyền thống trị là Nước dương Chấn, khí gió dương Đoài Vũ Trụ, Lửa thái dương Càn và Đất dương Li, là tứ tượng dương, có một khuôn mặt đại diện cho tứ tượng âm.

Như thế theo tôi loại gương vũ trụ nhà Hán gọi là TLV là thiếu sót, phải gọi là loại VOLT mới đúng, mới trọn vẹn ý nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch lý.

Hiểu như thế rồi, bây giờ ta giải đọc một gương VOLT như gương Đại Khánh này không mấy khó khăn.

(còn nữa).

2 comments

  1. Em cũng có 1 chiếc gương thời nhà lê bạn quan tâm thì allo cho mình nha 0983398869

    1. Quang Nguyen · · Reply

      Hy vọng gương làm đúng theo vũ trụ quan của văn hóa Việt.
      Nguyễn Xuân Quang.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: