GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC (phần 3): GIẢI ĐỌC…

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC, MỘT KHUÔN MẶT ĐỐI CỰC NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG VỚI TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(phần 3)

Nguyễn Xuân Quang

GIẢI ĐỌC GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC (1).

Chủ điểm quan trọng nhất của bài viết này là nói về loại gương đồng mang tính nòng nọc, âm dương đối ngược với trống đồng của đại tộc Đông Sơn. Khác với trống đồng nòng nọc, âm dương Đông Sơn chính thống chỉ có trang trí diễn tả liên hệ tới vũ trụ luận, Vũ Trụ giáo, Dịch nòng nọc, như đã ở biết, gương đồng loại có công dụng duy tục có trang trí đủ thứ như cây cỏ, hoa lá cành, chim muông, thú vật, hình học, phong cảnh, lịch sử… ngoại trừ một số gọi là gương vũ trụ mới có các trang trí liên hệ với vũ trụ luận. Loại này thấy nhiều ở các gương đời nhà Hán mà các học giả Tây phươg gọi là gương TLV.

Vì thế chủ điểm là những gương đồng thuộc Thời Hán, Đường mang triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Về niên đại, so sánh niên đại của gương vũ trụ nhà Hán (206 TDL-220 SDL) với trống đồng ta thấy gương vũ trụ muộn hơn trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (600-800 TDL-300 SDL).

Tại sao nhà Hán lại thờ và chuộng gương đồng? Nhà Hán lấy tên theo dòng sông Hán. Vì thế tên Hán tộc viết với bộ thủy . Như thế văn hóa nhà Hán có thể nghiêng nhiều về ngành nòng âm, nước. Như đã biết gương là biểu tượng chính của phái nữ, ngành nòng âm. Về sau một khuôn mặt âm nam thay thế cho nữ. Đây có thể là lý do tại sao nhà Hán nghiêng về ngành nòng âm nước nên thờ và ưa chuộng gương đồng.

Cũng cần nói thêm là có tác giả Việt Nam cho rằng nhà Hán có gốc Bách Việt. Nếu đúng như vậy thì nhà Hán thuộc ngành nòng nước của Bách Việt tức phía Lạc Việt Thần Nông. Nói một cách thận trọng hơn, nếu nhà Hán không thuộc phía nòng âm Bách Việt thì văn hóa Hán có thể bị ảnh hưởng của văn hóa Bách Việt ngành nòng âm. Việt thuộc ngành nọc thái dương Viêm Đế và Hán thuộc hay bị ảnh hưởng văn hóa phía ngành nòng thái dương Thần Nông. Việt và Hán trái ngược nhau như trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, trống biểu của Nọc Việt Mặt Trời thái dương với gương đồng TLV Hán, gương biểu của Nòng Hán thái dương.

Vì thế cách đọc gương đồng Nhà Hán của tôi dựa vào chữ nòng nọc vòng tròn-que viết trên trống đồng và dựa theo cách đọc của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Chỉ cần lưu tâm là tính nòng nọc, âm dương của chúng đối cực nhau.

Phân Loại Gương Đồng Vũ Trụ.

Dựa vào bố cục hình học chính của các trang trí trên mặt gương, tôi chia ra làm hai loại gương đồng:

Loại thứ nhất là loại, tất cả mặt gương đều có các hình vòng, vành tròn, tôi gọi là loại gương đồng đại vũ trụ sinh tạo (dạng vòng tròn là dạng các hạt vi tử sinh tạo nhỏ hơn cả nguyên tử diễn tả sinh tạo ở cõi tạo hóa, đại vũ trụ) (xem Chữ Nòng Nọc Nguyên Tạo). Đây là dạng hôn phối thái dương và thái âm (thái là đại). Diễn tả qua con số thì dương (I) thái dương là lửa vũ trụ 7 Càn và âm (O) thái âm (OO) là nước vũ trụ 0 (số không, zero), Khôn OOO, theo duy dương có khuôn mặt Chấn đại diện cho Khôn. Đây là phôn phối 7 Càn thái dương với Khôn số không 0 thái âm (hôn phối theo bẩy tròn; tròn là số không). Loại thứ hai là loại trên mặt gương có hình vuông và các vành tròn, tôi gọi là loại gương đồng tiểu vũ trụ sinh tạo (vuông ở đây là đất thế gian thiếu dương và vòng tròn có khuôn mặt bầu trời thế gian thiếu âm). Đây là dạng hôn phối thiếu âm với thiếu dương (thiếu là tiểu). Diễn tả bằng con số thì thiếu âm bầu trời, khí gió, bầu trời Đoài vũ trụ là số 3 (tam thiên) và đất âm là số 4 Cấn. Ta có 3 đi với 4 là ba vuông . Hai loại gương này là ‘ba vuông sánh với bẩy tròn’.

Đoài 3 hôn phối với Cấn 4 thấy trong Tiên Thiên bát quái.

A. Gương Đồng Đại Vũ Trụ Chấn-Tốn Cõi Sinh Tạo, Tạo Hóa.

Đặc tính của loại gương này là mặt gương hoàn toàn chỉ có các vòng  tròn (vành tròn, vòng tròn, chấm tròn diễn tả cõi tạo hóa).

Để tránh lầm lẫn vì thiếu sót hay sai lệch các chi tiết khi nhìn trực tiếp trên gương (nhiều khi rất mờ hay không đọc được), tôi khởi đầu giải đọc một gương đồng đã đào được ở một ngôi mộ cổ ở Lạch Trường, Thanh Hóa vì mặt gương đã được vẽ lại của O Janse.

.Gương Hậu Lộc 1.

Trở lại gương Hậu Lộc đã nói ở trên.

clip_image002

Gương Hậu Lộc (Lạch Trường), Thanh Hóa, ở đất chôn cất Lạch Trường.

Tổng quát

Gương đồng này diễn tả vũ trụ luận tương đương với một mặt trống đồng nòng nọc âm dương của đại tộc Đông Sơn. Ta đã biết mặt trống đồng có tâm trống biểu tượng cho Thượng Thế và các vành ngoài biểu tượng cho phần đất dương của Trung thế (Cơ Thể Học Trống Đồng). Như vậy suy ra gương đồng thường chỉ diễn tả Thượng Thế và cõi đất Trung Thế (trong khi đó trống đồng có thêm thân và đế, nên phần bầu tang trống biểu tượng cho vùng nước của Trung Thế, chân trống biểu tượng cho Hạ Thế và thân hay trục trống hay eo trống biểu tương cho Trục Thế Giới. Gương đồng không có các phần này). Vì thế ở nhiều gương diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, vùng nước Trung Thế, Hạ Thế và Trục Thế Giới diễn tả luôn trên mặt gương.

Mặt gương chia ra làm hai vùng:

1. Cõi Trên, Thượng Thế: Vùng Tâm Gương.

Theo nguyên tắc, phần ở tâm gương tương ứng với phần tâm trống biểu tượng cho cõi trên, Thượng Thế gồm hư vô, thái cực, lưỡng nghi.

.Hư vô

Ta thấy ở tâm gương Lạch Trường này gồm có một cục u tròn là một nửa khối cầu úp có thiết diện là một vòng tròn nòng O, như đã biết, O có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô trung tính.

.Thái cực

Ở giai đoạn cực hóa nòng nọc, âm dương, cục u tròn có tám tia sáng: 4 nọc âm hình cánh hoa nhọn đầu mang dương tính và 4 nọc tia sáng hình que (của hai đường chéo) mang dương tính. Như thế 8 tia sáng mang tính lưỡng hợp nòng nọc, âm dương ngành nòng âm thái dương. Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian (0, 8). Như vậy mặt trời mang tính sinh tạo Càn Khôn cõi vũ trụ. Mặt trời này nằm trong không gian giới hạn bởi vành giới hạn có các sọc nghiêng là dạng chuyển động của dạng nấc thang diễn tả không gian chuyển động sinh tạo.

Nhìn dưới dạng nhất thể là mặt trời-không gian sinh tạo tức thái cực.

.Lưỡng nghi

Nhìn dưới dạng đã phân cực riêng rẽ ta có mặt trời càn khôn 8 nọc tia sáng (hình 4 cánh hoa và bốn nọc que) là cực dương và không gian giới hạn bởi vành sọc nghiêng là cực âm của ngành nòng âm.

.Tứ tượng.

Như đã biết, bốn tia sáng cánh hoa nhọn đầu có một khuôn mặt là tứ tượng âm thái dương. Bốn nọc que diễn tả tứ tượng nọc dương. Ở đây ta có tứ tượng dương và tứ tượng âm của ngành nòng âm.

2. Cõi Giữa: Trung Thế: Vùng Còn Lại Của Mặt Gương.

Phần còn lại của mặt gương là cõi giữa Trung Thế. Tứ tượng âm liên tác với tứ tượng dương sinh ra vũ trụ gồm tam thế. Ở đây tam thế là ba tiểu tam thế, ba cõi Trời, Đất, Nước của đất thế gian Trung Thế.

1.Cõi Trời

Vành trống không ngay sát vùng tâm thế diễn tả Cõi Trời, Bầu Trời. Ta cũng thấy rõ vành trống không này nàm giữa hai vành giới hạn sọc nghiêng có một khuôn mặt là không gian chuyển động. Hai vành này xác thực vành trống không diễn tả cõi không, Cõi Trời Trung Thế thế gian.

2. Cõi Đất

Vành có hình thú bốn chân và chim diễn tả Cõi Đất.

Góc phải dưới có hình chim trĩ ứng với tượng Lửa, Càn (Trĩ Lửa có một khuôn mặt biểu tượng cho Đế Minh). Đối diện là nhóm hai con thú: rắn có đuôi cong hình móc xoắn nước (Rắn biểu tượng cho Nước thái âm) và rùa (có mai vòm bầu trời, có một khuôn mặt hơi nước, nước thiếu âm ). Rắn thái âm, rùa thiếu âm cả hai biểu tương nòng âm Khôn có khuôn mặt nước dương Chấn làm đại diện, ứng với tượng Nước Chấn. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt thì rắn nước thần thoại hóa thành rồng nước Lạc Long Quân và rùa vàng kim qui là biểu tượng của Chấn Biển Lạc Long Quân (giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa). Góc trái dưới có hình con thú bốn chân dáng hươu không sừng (con cái, con nái, con nai), người có đốm là con nai sao ứng với tượng Đất Núi Li (Âu Cơ Núi có biểu tượng là con nai sao). Đối diện là con thú bốn chân đang há miệng tru, hú, sủa là con chó lang sói, thiên cẩu ứng với tượng gió Đoài vũ trụ (Lang trời là thú biểu của Hùng Vương Bầu Trời, Gió).

Gương Hậu Lộc có bốn nhóm thú ở tứ phương ứng với tứ tượng. Ở đây nhóm ngũ tứ linh chưa thần thoại hóa nhiều hãy còn thấy rõ các con thú chủ (host). Đặc biệt là có 5 con chứ không phải tứ linh của Trung Hoa và có cả con Lang thú biểu của Hùng Vương. Các con thú này là những thú biểu của Việt Nam òn ở dạng thiên nhiên chưa thần thoại hóa.

Giữa các con thú có những chữ nòng nọc vòng tròn-que hình ba vòng tròn đồng tâm. Ở đây vì không có hiện vật, có hai trường hợp phải phân biệt trường hợp thứ nhấy là vòng tròn nhỏ trong cùng thật sự là vòng tròn trên mặt gương; trường hợp thứ hai là một chấm tròn đặc mà người vẽ lại diễn tả bằng vòng tròn (giống như cục u nổi ở tâm vẽ bằng hình vòng tròn). Trường hợp thứ nhất quả thật là ba vòng tròn ta có là quẻ Khôn OOO, nói cho biết cõi đất thuộc ngành nòng Khôn. Trường hợp thứ hai, vòng tròn nhỏ là chấm nọc, thì ta có chữ chấm-hai vòng tròn đồng tâm lửa nước Chấn. Chữ này cho biết cõi đất thuộc vùng đất âm có nước Chấn mang tính đại diện.

3. Cõi Nước

Vành ngoài biên gương là vành hình sóng nước nhọn đầu, chuyển động diễn tả Chấn sinh động (Lạc Long Quân Chấn có một khuôn mặt là thần Biển, tức nước dương). Hình sóng nước này giống hình linh tự N diễn tả Nác, Nước của Ai Cập cổ.

Ngoài ra ta cũng thấy gương này là một thứ mandala dạng vòng tròn.

Mandala vòng tròn Tây tạng, thế kỷ 18.

(nguồn phase.com).

Như đã biết, nhìn chung chung thì mandala là các đồ hình thể hiện một dạng thức hình học của vũ trụ hay của bản thể con người (vì con người là tiểu vũ trụ) (Giải Mã ‘Tảng Đá Bùa’ Đền Hùng, Phú Thọ 2).

.Kết luận

Như thế ta thấy rất rõ gương đồng Hậu Lộc diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh. Mặt gương chỉ diễn tả Thượng Thế và Trung Thế.

Gương này diễn tả lưỡng hợp đại vũ trụ Chấn-Tốn theo Tiên Thiên bát quái. Gương này là gương biểu của Âu Cơ Tốn-Lạc Long Quân Chấn (Xem thêm chi tiết ở phần giải đọc ở dưới).

-Gương Hậu Lộc 2.

Ngoài ra ở Hậu Lộc cũng có thêm một gương thứ hai:

clip_image004

Gương Lạch Trường (Hậu Lộc), Thanh Hóa.

1. Thượng Thế

Ở đây tâm gương chỉ có cục u nổi và vành trống không.

Lưu ý ta thấy bề ngang của vành trống không nòng O bằng bán kính của vòng tròn thiết diện của cục u bán cầu. Điền này cho thấy nòng nọc, âm dương đề huề. Cục u và vành tròn trống không lúc này chính là chữ nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn-chấm (vì gương biểu tượng cho phái nữ nên viết nòng trước chấm). Chữ chấm-vòng tròn là chữ nòng nọc vòng tròn-que với hai chữ nòng và nọc còn ở dạng vi thể nguyên tạo, nguyên sinh. Đây là từ nòng nọc vòng tròn-que cổ nhất và có nhiều ý nghĩa nhất trong hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que. Chữ mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo bắt đầu từ giai đoạn nhất thể (thái cực) (xem thêm Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que Vòng Tròn-Chấm). Chữ này chính là ‘The Lost Symbol’ của Dan Brown (xem Chữ Nòng Nọc và The Lost Symbol).

Vắn tắt, tâm gương vòng tròn-chấm diễn tả Hư Vô, Thái Cực, Lưỡng Nghi, Vũ Trụ Tam thế.
…..
Tóm lại tâm gương nhìn tổng quát có cục u nổi là chấm nọc và vành trống không bao quanh là nòng O ứng với chữ nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn-chấm mang trọn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ Tạo giáo kể từ thái cực.

Lưu Ý

Ở đây trên gương đồng ta phải lựa những nghĩa thích hợp nhất của chữ nòng nọc vòng tròn-que vòng tròn-chấm áp dụng cho gương đồng. Như đã nói ở trên vì gương biểu tượng cho phái nữ, ta phải viết nòng âm trước tức viết vòng tròn-chấm. Thứ đến như đã biết, gương là một mặt sáng nghĩa là mang dương tính, thái dương có hai khuôn mặt: mặt trời nữ thái dương và mặt trăng nữ thái dương âm.

Trường hợp thứ nhất là mặt trời nữ thái dương thì gương đồng là đối cực nòng nọc, âm dương với trống đồng của đại tộc Đông Sơn trong cùng một ngành mặt trời thái dương. Trống đồng luôn luôn có mặt trời thái dương ở tâm mặt trống thì gương đồng vũ trụ tương ứng cũng phải có mặt trời nòng âm thái dương ở tâm gương. Mặt trời nữ thái dương ở trường hợp này là khuôn mặt chính ở trên gương đồng. Lúc này có thể coi vành trống ở ngoài là đĩa tròn mặt trời đĩa tròn và cục u là chấm nọc mang nghĩa đực, lửa thái dương nguyên tạo giống như mặt trời Ra nhưng ở đây thuộc phía nữ là mặt trời nữ thái dương tạo hóa. Trong thời xã hội phụ quyền cực đoan thì đây là khuôn mặt mặt trời nam thái dương sinh tạo (giống như Ra) làm đại diện. Trường hợp này có thể xẩy ra ở thời nhà Hán.

Trong trường hợp này ta có mặt trời nữ thái dương-gương đối ứng với mặt trời nọc thái dương-trống đồng của đại tộc Đông Sơn ở cùng ngành mặt trời thái dương.

Trong trường hợp thứ hai là mặt trăng thái dương nữ, ta có gương đồng-mặt trăng nữ thái dương đối ứng với mặt trời nọc thái dương-trồng đồng ở hai cực nòng nọc, âm dương khác ngành như trăng với trời.

2. Trung Thế: Vùng Còn Lại Mặt Gương.

Ở đây Trung Thế đất thế gian cũng chia ra là Ba Cõi.

.Cõi Trời

Vành trống không sát tâm gương diễn tả cõi không, Cõi Trời.

.Cõi Đất

Vùng này gồn có 4 vành:

clip_image006

-vành số 1 và 4 là hai vành giới hạn.

Ở đây hai vành giới hạn là hai vành có những sọc hơi nghiêng diễn tả không gian mang âm tính (sọc thằng mang dương tính), chuyển động. Hai vành này cho thấy cõi đất thuộc nhánh âm thái dương Tốn/Đoài vũ trụ.

-vành thứ 2.

lớn nhất là vành chủ đạo của vùng đất dương. Ở gương này diễn tả:

.Bốn con linh thú. Con long và qui, trĩ thấy rõ con một con thú bốn chân, đầu bị mòn mất không rõ là con thú gì. Ngoài ra còn có hai khoảng cách hình trang trí cũng bị mòn mất. Xen kẽ giữa bốn con chim thú cũng có các chữ nòng nọc vòng tròn-que hình ba vòng tròn đồng tâm hay chấm hai vòng tròn đồng tâm như đã nói ở trên.

-vành thứ 3

Là vành có khắc các chữ, ở đây nhìn không rõ (có một chữ giống chữ đại hay hình người).

Vành có chữ này cho thấy gương có tuổi đã muộn không còn chính thống.

Như thế vành đất dương ở đây diễn tả bốn con thú tiền thân của tứ linh ứng với tứ tượng thế gian của ngành nòng âm. Với hai vành nấc thang, ‘răng lược’ cho thấy khuôn mặt Tốn/Đoài vũ trụ mang tính chủ. (Điều này có thể dễ hiểu vì gương là của phái nữ).

.Cõi Nước

Vùng ngoại biên gương là Cõi Nước.

Ở đây, vùng này gồm có 3 vành có chữ nòng nọc vòng tròn-que (các nhà khảo cổ hiện nay thường gọi là ‘hoa văn’) nằm giữa những vành giới hạn trống không.

-kẹp hai bên là hai vành chữ nòng nọc vòng tròn-que mũi mác (răng cưa, răng sói) có một nghĩa là hai nọc lửa năng hoạt tức thái dương.

clip_image007

Ba vành ngoài biên gương Lạch Trường.

-vành ở giữa là vành hình sóng nước nhọn đầu diễn tả nước dương, nước lửa ứng với một khuôn mặt Chấn.

Ở gương Hậu Lộc trên không có hai vành này.

Tóm lại ba vành này diễn tả nước thái dương ứng với Chấn.

Gương này có một khuôn mặt Chấn thái dương mang tính chủ.

So sánh với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn ta thấy ở ngoài biên trống ở những trống cổ hay chính thống, nước dương lửa Chấn thường được diễn tả bằng chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm hai vòng tròn đồng tâm lửa nước Chấn nằm kẹp giữa hai vành răng cưa răng sói, như thấy trên trống Miếu Môn I.

clip_image009

Trống Miếu Môn I.

Ngoài biên trống này có 5 vành chữ viết nòng nọc vòng tròn-que gồm hai vành giới hạn ngoài cùng có chấm nọc dương mang nghĩa dương, cho biết trống thuộc về ngành nọc dương.

Hai vành 2 và 4 là hai vành mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là thái dương. Vành ở chính giữa là vành chấm hai vòng tròn đồng tâm có nghĩa là nước lửa, nước dương (tương đương với hình sóng nước nhọn đầu ở gương này). Gộp lại những vành ngoài biên trống Miếu Môn I có nghĩa là nước-lửa, nước thái dương, mặt trời nước thái dương Chấn ngành dương thái dương.

Trống này cũng là trống Chấn/Tốn có mặt trời 14 nọc tia sáng ứng với khuôn mặt sinh tạo Chàng Nước thái dương, Mặt Trời Nước Chấn Lạc Long Quân Chấn và Nàng Lửa, mặt trời nữ thái dương Âu Cơ Tốn (xem trống Văn Lang Miếu Môn I).

Ở trên gương này hình thái ba vành ngoài biên có hình sóng nước nhọn đầu là hình dấu biểu tượng cho nước dương đã thay cho chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm hai vòng tròn đồng tâm lửa nước Chấn. Đây là cách diễn tả ‘bình dân học vụ’ cho dễ hiểu, đã rất muộn sau này. Hình sóng nước nhọn đầu này có thể thấy ở các trống muộn như ở trên cánh cò nước (cò Lạc) ở trống Hữu Chung.

clip_image011

Hình sóng nước nhọn đầu diễn tả nước dương Chấn trên cánh có nước ở trống Hữu Chung.

Gương này là một gương muộn (ngoài ra tính muộn cũng thấy qua sự hiện diện của các chữ Hán, hình linh thú Trung Hoa, rồng đã thấy thần thoại hóa) hay là một gương bị ảnh hưởng của văn hoá ngoài Trung Hoa như văn hóa của Đông Sơn nên đã phải làm theo cách giản dị cho người Trung Hoa dễ hiểu.

Kết Luận

Tóm lại gương Hậu Lộc 2 này cũng diễn tả thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh. Mặt gương diễn tả Thượng Thế và Trung Thế gồm ba cõi. Gương cũng diễn tả lưỡng hợp đại vũ trụ Chấn-Tốn. Gương này muộn hơn vì có thêm vành có chữ Hán.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: