GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC, MỘT KHUÔN MẶT ĐỐI CỰC NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG VỚI TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN, (phần 2: Giải Đọc Gương Đồng 1).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

GƯƠNG ĐỒNG TRUNG QUỐC, MỘT KHUÔN MẶT ĐỐI CỰC

NÒNG NỌC, ÂM DƯƠNG VỚI TRỐNG ĐỒNG ĐÔNG SƠN.

(phần 2: Giải Đọc Gương Đồng 1)

Nguyễn Xuân Quang

GIẢI ĐỌC GƯƠNG ĐỒNG.

GƯƠNG LÀ GÌ?

Người Bắc gọi là kính (kính soi mặt, kính đeo mắt), Trung Nam gọi là gương [gương soi và gương đeo mắt và cũng gọi là kiếng (biến âm của kính)]. Hán Việt kính hay cảnh là gương soi, gương đeo mắt.

Theo k=s (như kông = sông, Mekong là Sông Mẹ), ta có kính = sính, theo biến âm kiểu sính sáng, ta có kính = sính = sáng. Tương tự, theo c=s (như cắt = sắt), ta có cảnh = sáng. Theo g=s (như ông gầm = ông sấm), ta có gương = sáng. So sánh hai cặp từ đôi (coi như là hai phương trình) soi gươngsoi sáng, ta có gương = sáng. Như vậy gương là một vật sáng, một vật sáng phản chiếu.

Kính, gương là vật sáng nên gọi là mặt: mặt kính, mặt gương. Tương tự, trăng, trời là vật sáng cũng gọi là mặt trăng, mặt trời. Ta có mặt gương, mặt trăng, mặt trời. Mặt có nghĩa là sáng. Ta có câu ‘mặt sáng như gương tầu, đầu trơn như váy lĩnh’. Hồ nước phản chiếu như gương nên cũng gọi là mặt hồ. Mặt có nghĩa là sáng biến âm mẹ con với mắt cũng có nghĩa là sáng. Người có mắt là người sáng, người mắt không thấy, coi như không có mắt là người mù, người đui, là người tối (tối mù, đui mù). Ta thấy rõ Pháp ngữ visage, mặt ruột thịt với vision, nhìn, liên hệ với mắt. Anh ngữ mirrors, phát từ cổ ngữ Pháp mirer ‘nhìn, soi’, ngắm, quan sát, từ Latin thông dụng *mirare, nhìn xem. Như thế mirror liên hệ với Việt ngữ mắt. Mắt là sáng ruột thịt với mặt trời. Trời có mắt. Chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm-vòng tròn vừa có nghĩa là con mắt vừa có nghĩa là mặt trời (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-que).

Con mắt ruột thịt với mặt trời thấy rõ qua thần mặt trời Kinich Ahau của Maya có mắt là mặt trời.

clip_image001

Thần Mắt-Mặt Trời Kinich Ahau có con mắt là hình ngữ kin, mặt trời tại phế tích Kohunlich, Costa Maya, Mexico, trước năm 500 Sau Tây Lịch.

(xem Tương Đồng với Maya 2).

Tóm lại gương là một mặt sáng phản chiếu.

CÔNG DỤNG VÀ CHỨC VỤ CỦA GƯƠNG ĐỒNG.

Gương đồng Trung Quốc rất đa dụng. Tôi phân biệt ra làm hai loại theo công dụng duy tụcduy thần. Công dụng duy tục chính là dùng để soi mặt, nhất là cho phụ nữ, ngoài ra còn có thể dùng vẽ phong cảnh, ghi lại truyền thuyết, diễn biến lịch sử, nhân vật lịch sử lịch sử… Còn công dụng duy thần, gương diễn tả nhân sinh quan, vũ trụ quan, đức tin, tín ngưỡng, tôn giáo. Như thấy qua ý nghĩa của gương ở trên, gương là mặt sáng liên hệ với mặt trăng, mặt trời (mang tính nòng, âm) ta thấy công dụng duy thần là chủ yếu, quan trọng hơn công dụng duy tục.

Ở đây tôi chú trọng về công dụng duy thần này.

Như đã nói ở trên, gương đồng mang tính âm nòng nghiêng nhiều về phía mặt sáng như trăng trời ngành nòng âm thái dương ngược với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Như thế tổng quát, gương đồng cũng có công dụng, chức vụ như trống đồng chỉ khác nhau về tính nòng nọc âm dương. Trống đồng là trống biểu của ngành trống (đực), nọc thái dương trong khi gương đồng là gương biểu của ngành nòng thái dương.

Thật vắn tắt ở đây, ta có thể suy ra ý nghĩa và chứng vụ của gương đồng bằng cách đối chiếu với Ý Nghĩa và Chức Vụ Trống Đồng (xem bài viết này).

Như thế nguyên khởi gương đồng có thể dùng làm vật tế lễ mang tính cách ma thuật, mang tính cách diễn tả đức tin, triết thuyết về nhân sinh quan, vũ trụ quan, vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo, đạo mặt trời, Dịch lý.

.Gương đồng là một vật thờ, một vật tế như trống đồng.

Gương đồng cũng được dùng trong các cuộc tế lễ vũ trụ, trời đất, lễ tộc. Các pháp sư, ông mo bà đồng dùng trong các giáo vụ. Bằng chứng là ở trên một gương đồng tìm thấy ở một tỉnh Trung Hoa không rõ xuất xứ, ngay dưới cục u nổi ở tâm có hình người ngồi đầu đội mão có hàng răng cưa nhọn hay hình tam giác, giống như vương miện của vua chúa Tây phương.

clip_image003clip_image004

clip_image005

(Plate 125).

Một gương đồng có hình thầy mo.

Hình người này giống như hình ông thầy mo người Thổ (tộc Man Soi toi) ở Yên Báy (O. Janse).

Như đã nói ở trên, gương đồng lục lạc của Nhật Bản được cho là dụng cụ của pháp sư, thầy mo, thầy thuốc dùng trong tế lễ trời đất, vũ trụ, mặt trời, chữa bệnh. Gương lục lạc đối ứng với loại trống rung mà người Thổ Dân Mỹ châu thường dùng trong các tế lễ.

.Gương đồng diễn tả vũ trụ luận, vũ trụ quan giống trống đồng.

Gương đồng là gương biểu của Vũ Trụ giáo ngành nòng âm, nữ (xem dưới). Zhuang Zi, một Đạo Sĩ nổi tiếng của Lão giáo Đời Đông Châu (770–256 TTL) đã viết “The heart of the sage is quiet; it is a mirror of Heaven and earth.” (“Tâm của thánh nhân thanh tịnh; nó là chiếc gương của Trời và đất’).

.Gương đồng dùng trong sự thờ phương mặt trời phía nòng âm như trống đồng dùng trong sự thờ phương mặt trời phía nọc dương (ngành nọc Việt Mặt Trời Thái Dương).

Ví dụ như đã nói ở trên, các khảo cứu về gương đồng trong suốt của các nhà khảo cổ Nhật xác thực vai trò thờ phượng mặt trời của gương đồng này.

.Gương đồng diễn tả Dịch lý như trống đồng.

Gương đồng Trung quốc như thấy ở Nhà Đường dùng diễn tả Dịch lý và các gương muộn về sau dùng trong lý số, phong thủy theo Dịch lý duy tục.

.Gương đồng dùng làm vật tùy táng chôn theo người chết giống như trống đồng.

Gương đồng cũng dùng như một thứ thông hành, một thứ bùa để bảo vệ, che chở và soi sáng hướng dẫn hồn người chết đi về được cõi trên, để tái sinh hay sống vĩnh hằng theo thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh. Gương giữ và phản chiếu ánh sáng mặt trời, trừ khử tà ma và chiếu sáng cái bóng tối vô tận của nấm mồ.

Gương đồng cũng dùng như một thứ tài vật cho người chết mang theo về bên kia thế giới…

.Gương đồng dùng trong ma thuật trừ khử tà ma, bệnh tật, xui xẻo… như trống đồng (có một khuôn mặt là vị thần thiên lôi) hay cầu xin mắn sinh, phồn thực, được mùa như trống đồng.

(Xem thêm Ý Nghĩa và Chức Vụ Trống Đồng).

Lưu ý

Tất cả ý nghĩa và chức vụ gương đồng mang tính nòng nọc, âm dương ngược với trống đồng.

GƯƠNG ĐỒNG VÀ VŨ TRỤ GIÁO.

Như đã biết, trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn diễn đạt trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch lý của Vũ Trụ giáo, là trống biểu của ngành nọc mặt trời thái dương ứng với ngành nọc mặt trời Viêm Đế của Người Việt Mặt Trời Thái Dương. Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống biểu của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo ngành nọc dương thì gương đồng nhất là gương đời Hán (đặc biệt là loại TLV) là gương biểu của của Vũ Trụ giáo ngành nòng âm.

Thật vậy, giản dị nhất là gương của Ai Cập cổ có tay cầm giống cái quạt mo, giống linh tự ankh clip_image007 ‘Chìa Khóa của Sự Sống’ (“Key of Life) mang tính biểu tượng nòng nọc, âm dương, nguyên lý căn bản của Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch.

clip_image009

Lược, gương hình linh tự ankh, ống thuốc và que đánh mắt (kohl).

Đồ trang điểm được chôn theo người chết để duy trì sự mắn sinh do đó, bảo đảm cho sự tái sinh, Bảo Tàng Viện Imhotep, Ai Cập (ảnh của tác giả).

Mặt gương tròn là nòng (O) và cán cầm là nọc (I). Trung Hoa cổ cũng có loại gương đồng có cán này.

Còn gương đồng phổ thông nhất của Trung Quốc, như đã nói ở trên, là một mặt sáng phản chiếu thường có hình đĩa tròn. Sáng là dương (tối là âm). Gương là một mặt sáng mang dương tính giống như mặt trăng, mặt trời, những vật hình đĩa tròn sáng mang tính dương, thái dương.

Tuy nhiên gương mang tính nòng, âm, nữ thái dương và là vật gần như dành cho phái nữ dùng nên có khuôn mặt chủ thuộc phái nữ, thuộc dòng nữ âm, âm thái âm. Gương biểu tượng chủ yếu cho phía âm, nữ có cốt thái âm, mang tính sáng, lửa, thái dương.

Vì vậy trong vũ trụ thuyết, tín ngưỡng gương dùng làm biểu tưởng cho các thiên thể sáng như mặt trăng, mặt trời của ngành nòng âm, nữ.

Gương Đồng và Vũ Trụ Giáo.

Qua những điều đã viết ở trên ta thấy rõ gương đồng Trung Hoa mang tính nòng nọc, âm dương ví dụ như vừa nói ở trên là gương đồng có hai khuôn mặt là mặt trời dươngmặt trăng âm. Rõ nhất là những gương đồng diễn tả Dịch lý, phong thủy, lý số…

Như thế hiển nhiên gương đồng diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch thuộc phía nòng âm thái dương.

Xin vắn tắt duyệt xét các khuôn mặt nòng nọc, âm dương của gương đồng, nhất là loại vũ trụ TLV, qua các qui trình của Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo.

.Hư Vô

Vì gương mang tính nòng âm nên hư vô thường đã ở dạng nghiêng về cực âm không gian.

Những gương đồng giản dị với hai mặt trống trơn không có trang trí gì, có thể có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô. Ở những gương có tâm gương diễn tả cõi sinh tạo, tạo hóa trọn vẹn thì cục u nổi ở tâm cũng có thể có một khuôn mặt tiềm ẩn biểu tượng cho hư vô (xem phần Vũ Trụ Tam thế ở dưới).

.Thái Cực

Thái cực thấy qua một gương đồng dưới đây:

 

clip_image011

Một gương Hán-Đường (nguồn: anythinganuwhere.com).

 Nhìn dưới diện nhất thể, thái cực thì u nổi hình nọc chấm ở tâm gương là mặt trời, lửa thái dương. Càn. Ba vành trống không bao quanh u nổi là hai ba nòng OOO, tức quẻ Khôn, không gian (O) thái âm (OO). Gương có một khuôn mặt diễn tả Càn Khôn, có một khuôn mặt nhất thể, thái cực.

Nhìn theo một khía cạnh khác thì cục u chấm nọc và vòng tròn trong cùngchữ chấm-vòng tròn có một nghĩa là mặt trời thái dương, lửa còn hai vành ngoài là hai nòng OO, không gian thái âm nước. Dưới dạng nhất thể ta có mặt trời thái dương lửa và không gian thái âm nước nhất thể, thái cực.

.Lưỡng Nghi.

Ta đã thấy gương ở trên có một khuôn mặt diễn tả mặt trời Càn, không gian Khôn nghĩa là có một khuôn mặt lưỡng nghi, lưỡng cực nòng nọc, âm dương ở dạng đã phân cực.

.Tứ Tượng

-Tượng lửa

Một gương đồng Đời Hán diễn tả tượng lửa vũ trụ, mặt trời nọc âm.

clip_image013

Một gương đồng Đời Hán (nguồn: history.cultural- china.com)

Mặt trời và nọc ánh sáng âm được nhấn mạnh bằng nhuộm đỏ.

-Tượng nước

clip_image015

http://arts.cultural-china.com/en/30Arts9416.html

Gương này hiển nhiên biểu tượng cho nước. Lòng gương diễn tả toàn hình rắn đan cuộn vào nhau có đầu hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) mang dương tính. Vành ngoài biên có hình sóng cuộn chuyển động có đầu móc nhọn diễn tả nước dương sinh động và có ba con ếch/cóc. Rắn, sóng và ếch/cóc biểu tượng cho nước hay liên hệ với nước. Với rắn đầu dương và sóng cuộn, nhọn đầu chuyển động cho thấy nước là nước dương chuyển động ứng với Chấn. Cóc, ếch cũng đi với khuôn mặt sấm mưa của Chấn giống như thấy các tượng cóc/ếch trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

Gương này có một khuôn mặt biểu tượng cho nước dương Chấn.

Một gương khác có tượng cóc/ếch ở tâm cũng là gương liên hệ với tượng nước.

clip_image017

Một gương đồng có tượng cóc/ếch ở tâm.

Gương có hình hoa hướng dương, có tác giả gọi là hoa sen, theo duy dương ngành âm cánh hoa diễn tả tia sáng thái dương âm. Gương có một khuôn mặt là mặt trời nọc âm, mặt trời nước thái dương ứng với Chấn, ăn khớp với khuôn mặt cóc/ếch.

-Tượng Đất

Thấy rõ qua một gương đồng Thời Chiến Quốc ở tâm có hình vuông biểu tượng cho đất (đất vuông trời tròn) và có bốn chữ sơn (núi) biểu tượng cho đất dương.

clip_image019

Một gương đồng Thời Chiến Quốc.

http://arts.cultural-china.com/en/30Arts9416.html

Trở lại với gương lục lạc có 5 lục lạc thời Cổ Phần của Nhật Bản.

clip_image021

Gương này chỉ có 5 lục lạc. Số 5 là số Li, Lửa Đất thế gian, Núi dương vì thế trên mặt sau gương có nhiều vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, đất dương, núi hình tháp nhọn… Vành ngoài cùng lòng gương là vành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hướng thiên (chỉ vào tâm gương) hình núi tháp nhọn có một nghĩa là lửa đất thiếu dương Li. Hai vành tương tự ngoài biên mang nghĩa thái dương của ngành Li thiếu dương OI (âm O của dương I là thiếu dương).

Gương có một khuôn mặt biểu tượng cho nhánh mặt trời đất thiếu dương Li ứng với nhánh Kì Dương Vương, Âu Cơ, nghĩa là liên hệ với ngành mặt trời của Nữ Thần Thái Dương Amaterasu, một hình bóng của Nàng Thái Dương Âu Cơ. Cũng nên biết văn hóa Cổ Phần thuộc thời đại Yamato có Yama có nghĩa là Núi. Như thế chiếc gương này có thể là gương biểu của tộc Núi Yamato thờ Thái Dương Thần Nữ Amaterasu, hình bóng của Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ, có một khuôn mặt là lửa đất Núi (dẫn 50 con lên núi). Xem thêm phần Giải Đọc Gương Đồng ở dưới.

-Tượng Gió

Các gương đồng chỉ đơn giản là một đĩa tròn có thể có một khuôn mặt biểu tượng cho tượng gió hay các gương có các biểu tượng của gió như chim gió, diều gió, rồng gió… hay các biểu tượng của Tốn (gió âm) Đoài vũ trụ (khí gió dương).

Trở lại gương lục lạc có 6 lục lạc của Nhật Bản.

clip_image023

Số 6 là số Tốn (OII) tầng 1, gió. Theo duy âm, Tốn OII có một khuôn mặt là không gian O thái dương II, tức khí gió ngành âm.

Gương này có một khuôn mặt liên hệ với tượng gió âm Tốn, có một khuôn mặt gió dương Đoài (IIO) vũ trụ làm đại diện.

. Vũ Trụ Tam Thế.

Vũ trụ tam thế thấy rõ qua gương dưới đây:

 

clip_image025

Một gương đồng Thời Chiến Quốc (nguồn Pinterest.com).

Tâm gương có chấm đen lớn ở tâm diễn tả hư không, hư vô hai vòng tròn bao quanh hư không là hai nòng OO, không gian thái âm. Vành còn lại có sáu hình mặt trời hoa 6 cánh tròn. Số 6 là số Tốn OII có một nghĩa là Nàng O Lửa II, mặt trời nữ. Vành này diễn tả mặt trời nữ thái dương. Như thế tâm gương diễn tả cõi tạo hóa âm gồm hư vô, vô cực, lưỡng nghi: không gian và mặt trời nữ.

Cõi tạo hóa âm này sinh ra tam thế diễn tả bằng ba vành ở bên ngoài.

-Cõi Đất: vành mầu vàng diễn tả cõi đất (hoàng thổ).

-Cõi Trời: vành giữa gồm hình mặt trời hình hoa sáu cánh hình tròn mang âm tính thái dương và hình chấm-hai vòng tròn đồng tâm là lửa nước Chấn có một khuôn mặt là mặt trời âm nam, mặt trời nước thái dương. Đối chiếu với truyền thuyết Việt đây là lưỡng hợp mặt trời nữ thái dương Âu Cơ (có một khuôn mặt Tốn) với mặt trời nước Lạc Long Quân Chấn (theo Tiên Thiên Bát Quái).

-Cõi Nước: vành ngoài cùng hình dây thừng diễn tả sóng sinh động bện vào nhau. Mầu vàng mang tính thái dương âm (trong khi mầu đỏ mang tính thái dương dương).

Như thế gương này diễn tả trọn vẹn thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh ngành nòng âm.

Tóm lại gương đồng cũng dùng diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch như trống đồng,

dĩ nhiên của ngành nòng âm, nữ.

PHÂN LOẠI GƯƠNG ĐỒNG THEO VŨ TRỤ GIÁO.

Tôi chỉ phân loại gương đồng ‘duy thần’ mang ý nghĩa biểu tượng triết thuyết vũ trụ tạo sinh trong vũ trụ giáo và gác qua một bên loại gương đồng có công dụng duy tục. Gương đồng mang ý nghĩa biểu tượng vũ trụ tạo sinh chia ra làm hai loại dựa theo hai khuôn mặt sáng, biểu tượng chính của gương đồng, là mặt trời nữ thái dươngmặt trăng nữ thái dương.

1. Gương biểu tượng cho mặt trời nữ thái dương.

Như đã biết, theo Dịch, mỗi tộc, các nhánh, các ngành lại chia ra hai nhánh mang tính nòng nọc, âm dương, ngoại nội. Ngành mặt trời nữ thái dương cũng vậy. Ta có hai nhánh: nhánh mặt trời âm nữ thái dương và nhánh mặt trời dương nữ thái dương.

-Nhánh mặt trời âm nữ thái dương.

Nhánh này có mặt trời đĩa tròn không có tia sáng, có viền đĩa tròn mỏng sáng mang tính thái dương khác với mặt trời âm nữ thái âm có viền đĩa tròn dầy, đậm mang nhiều âm tính (như mặt trời nữ cõi âm). Ví dụ điển hình là mặt trời âm đĩa tròn Ai Cập cổ và mặt trời đĩa tròn trên lá cờ Nhật, biểu tượng cho nữ thần mặt trời Amaterasu.

Như đã biết, gương là biểu tượng cho mặt trời âm nữ thái dương này thấy rõ trong Thần đạo Nhật.

Trong các điện Thần giáo của Nhật đều có thờ gương biểu tượng cho nữ thần mặt trời thái dương Amaterasu-no-Omikami (Omi- là lớn, đại và kami là thần).

clip_image027

Một tấm gương thờ nữ thần mặt trời Thái Dương Thần Nữ Amaterasu (ảnh tác giả chụp tại một ngôi điện Thần Đạo ở Nhật).

Theo dân Nhật Thái Dương Thần Nữ Amaterasu sống tại Điện Thờ Lớn (Great Shrine), một ngôi điện Thần giáo thiêng liêng nhất tại Nhật ở thành phố Isle trên đảo Honshu. Trong Điện Lớn này cũng thờ một tấm gương lớn.

-Nhánh mặt trời dương nữ thái dương.

Nhánh này có mặt trời đĩa tròn có tia sáng. Tuy nhiên vì thuộc phía âm nên tia sáng mang âm tính. Có nhiều loại tia sáng âm:

.Tia sáng âm có hình nòng âm tức vòng sáng.

Ví dụ như mặt trời trên trống Đào Xá (xem trống này).

clip_image029

Mặt trời đĩa tròn trên trống Đào Xá có 6 tia vámg âm là 6 vòng sáng.

.Tia sáng âm có nét cong, đầu tròn như cánh hoa cúc, hoa thị.

Ví dụ mặt trời nữ hình hoa thị, hoa cúc trên trang phục của bà Triệu.

clip_image031

Bà Triệu với mặt trời thái dương nữ hình hoa thị, hoa cúc trên trang phục đầu, trên ngực và trên dải áo trên người voi (tranh dân gian).

Hoa thị, hoa cúc biểu tượng cho mặt trời thái dương nữ cũng thấy ở các nữ vương, nữ thần dòng mặt trời ở Cận Đông, Ai Cập cổ, Nhật Bản… ví dụ:

clip_image032

Hoàng hậu Ramesses Meryetanum, Thebes có mặt trời nữ hình hoa cúc trên vú mang nghĩa dòng mặt trời thái dương nữ.

clip_image033

Huy hiệu quốc gia Nhật mặt trời hình hoa cúc 16 cánh là biểu tượng của thái dương thần nữ Amaterasu.

Lưu ý số 16 cánh hoa tương ứng với 16 tia sáng đầu tròn mang âm tính của dòng nòng nữ. Đây là biểu tượng của mặt trời nữ thái dương (hoa biểu tượng cho cho nữ). Số 16 là số Khôn OOO tầng 3 (0,8,16) tức tầng âm nước thế gian có một khuôn mặt là Nòng O thái âm OO Nước, theo duy dương là mặt trời Nàng Nước. Mặt trời Nàng Nước ứng với Vụ Tiên, Chim Le Le Nàng Nước, Mặt Trời Nữ Nước, mẹ tổ cõi trời thế gian của người Việt Nam. Thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật có một khuôn mặt đội lốt mẹ tổ cõi trời thế gian của Nhật Bản tương tự Vụ Tiên. Đây là lý do hoa thị hoa cúc cũng là biểu tượng cho thái dương thần nữ, mẹ tổ Âu Cơ , nữ vương (Bà Trưng), nữ tướng (Triệu Ẩu) dòng mặt trời Hùng Vương, Viêm Đế (xem Ý Nghĩa Mặt Trời Trên Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á).

Một gương đồng Đời Xinmang có mặt trời hình hoa cánh đầu tròn mang âm tính, chuyển động theo chiều kim đồng hồ tức chiều âm cho biết rõ là mặt trời thái dương âm. Cánh hoa chuyển động cũng mang tính sinh tạo:

clip_image035

Gương đồng Triều Đại Xinmang.

 Một gương đồng thời nhà Đường có hình hoa tám cánh, nhìn theo diện mặt trời thái dương ngành nữ thì gương này là gương biểu của mặt trời dương nữ thái dương có tám tia ánh sáng âm là tám cánh hoa.

clip_image037

Gương đồng có tám thùy với trang trí cây cỏ, chim và các linh thú, đời Đường (618-907) (Lloyd Cotsen Collection, Photograph by Bruce M. White, 2009).

Số 8 là số Khôn tầng 2 thế gian (0, 8). Gương mang tính mặt trời dương nữ càn khôn, sinh tạo thế gian.

.Tia sáng âm dưới dạng nọc tia sáng hình chữ nòng nọc vòng tròn-que chữ V (mũi nhọn ở từ viền đĩa tròn khối lửa tỏa ra). Chữ V ngược với chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Ʌ mang nghĩa âm thái dương sinh động và nhiều khi có nghĩa siêu dương âm.

Ví dụ nữ thần Amaterasu nhiều khi cũng được diễn tả bằng hình mặt trời có tia sáng chữ V này:

clip_image039

Nữ thần mặt trời Amatersu có mặt trời tia sáng hình chữ V.

Với tính siêu dương âm này, mặt trời tia sáng chữ V được dùng trong cờ quân đội Nhật.

clip_image041

(nguồn: songun-blog.blogspot.com).

Mặt trời nữ nọc tia sáng âm thái dương chữ V này thường được đại diện bằng mặt trời nọc âm nam có tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (xem dưới).

Trong ngành thái dương, theo duy âm nam, thời phụ quyền ngự trị, gương đồng biểu tượng cho một khuôn mặt âm nam. Trong trường hợp này mặt trời âm nam thái dương đại diện cho mặt trời dương nữ thái dương. Vào thời xã hội phụ quyền cực đoan, hình bóng mẫu quyền bị đẩy lui vào bóng tối, thì lúc này gương là biểu tượng cho mặt trời đĩa tròn âm nam thái dương không có tia sáng ngành nòng âm thay thế cho âm, nữ thái dương như Lạc Long Quân đại diện cho Âu Cơ. (Nhiều đền Hùng Vương ngày nay chỉ thờ Lạc Long Quân mà quên đi Âu Cơ).

Mặt trời này có thể là dạng mặt trời âm nam thái dương mặt trời đĩa tròn âm nam thái dương có tia sáng hình cánh hoa nhọn đầu ví dụ như gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa, trên hữu ngạn sông Mã.

clip_image043

Plate 29.

Gương đồng Đại Khánh, Bắc Thanh Hóa, trên hữu ngạn sông Mã.

(nguồn: Olov R. T. Janse, Archaeological Research in Indo-China, Cambridge Massachusetts, Harvard University Press, 1951).

Tâm gương có hình mặt trời bốn tia sáng là bốn cánh hoa nhọn đầu mang dương tính.

Và gương hoa sen:

clip_image045

Gương đồng thời Muromachi, thế kỳ 15-16 STL có mặt trời hình hoa sen 8 cánh được cho là biểu tượng cho Bát Chánh Đạo của Phật giáo.

(L. Smith, V. Harris and T. Clark, Japanese art, London, The British Museum Press, 1990).

Aztec, một thứ Lang Việt ở Trung Mỹ thuộc nhánh nòng âm Thần Nông có mặt trời hình hoa hướng dương.

.Có khi thấy cả loại mặt trời có nọc tia sáng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ngắn mang âm tính như vừa nói ở trên, giống như thấy trên các trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Tia sáng âm là hình hình nọc tia sáng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) nhỏ, ngắn, nhưng nhiều (nọc âm thái dương).

Xin nhắc lại mặt trời càng có ít tia sáng càng gần cõi tạo hóa ví dụ như mặt trời đĩa tròn không có tia sáng là mặt trời vũ trụ sinh tạo (số 0 là số Khôn tầng 1 vũ trụ). Mặt trời càng có nhiều tia sáng là mặt trời càng đi xuống phía cõi dưới, cõi âm. Ví dụ các mặt trời trên các thạp đồng liên hệ với cõi âm có mặt trời trên 20 tia sáng.

clip_image047

Một gương đồng nhà Hán có

mặt trời âm có nọc tia sáng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ngắn, choãi ra

và nhiều giống như nọc tia sáng âm ở những trống đồng ngành âm thái dương.

 

Như đã nói ở trên, loại mặt trời âm nam thái dương này có khi làm đại diện cho mặt trời dương nữ thái dương âm nọc tia sáng chữ V.

Ngoài ra đôi khi cũng thấy khuôn mặt sấm mưa Chấn. Theo văn hóa Trung Hoa thì sấm là một nhân vật nam, ông sấm. Vì thế gương đồng diễn tả sấm là gương có một khuôn mặt nam ứng với Chấn sấm làm đại diện cho khuôn mặt mặt trời âm nữ Cấn. Đối chiếu với truyền thuyết Việt là khuôn mặt sấm của mặt trời nước, hoàng hôn Lạc Long Quân Chấn là đại diện cho khuôn mặt nữ thần mặt trời thái dương Âu Cơ Cấn Núi (Thần Sấm Lạc Long Quân có ‘nhà’ ở đầu Núi Âu Cơ).

Gương đồng có trang trí hình dóng sấm thiên lôi.

clip_image049

Một gương đồng Nhà Tùy.

Gương có ba hình thái có đầu nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) Ʌ có nghĩa là nọc, dương, lửa (I) và hai hình sóng cuộn hai đầu tức hai nòng (OO) mở ra ở dạng chuyển động. Hai nòng là thái âm, nước. Lửa (chớp) và nước cõi trời (mây, mưa) tạo ra sấm. Ta cũng thấy gộp lửa (I) lại với nước (OO) là IOO, quẻ Chấn, có một khuôg mặt là Chấn sấm. Đây là ba hình thái nguyên thể của búa thiên lôi, dóng sấm sau này.

2. Gương biểu tượng cho mặt trăng nữ thái dương âm.

Tương tự gương biểu tượng cho mặt trăng nữ thái dương có hình trăng sáng, tròn nòng nữ tức trăng rằm, mười sáu (xin nhắc lại tôi dùng từ mặt trăng nữ thái dương với thái dương có nghĩa là ‘nhiều dương’, nhiều sáng, tỏ rạng; thái dương đi với trăng có nghĩa là sáng chói lọi nhất).

Trăng nữ thái dương cũng có hai khuôn mặt dương nữ thái dương và âm nữ thái dương tùy theo tính nòng nọc, âm dương. Tùy theo hình đĩa tròn, có viền mỏng hay dầy mang tính dương nữ thái dương hay âm nữ thái dương và tùy theo các trang trí gương mang tính âm dương khác nhau. Nhiều khi trang trí cho biết rõ liên hệ với mặt trăng. Ví dụ một chiếc gương đồng Đời Đường diễn tả cung trăng dưới đây:

clip_image051

Gương đồng Đời Đường diễn tả cung trăng (nguồn: commonswikipedia.org).

Chiếc gương này có núm hình con cóc ‘thiềm thừ’, vòng trong diễn tả cung trăng: Hằng Nga ở bên trái, ngọc thố giã thuốc trường sinh ở bên phải, trên đầu con cóc là cây nguyệt quế và dưới là núi tiên. Vành ngoài cung trăng có bốn linh thú: thanh long, bạch hổ, hắc qui và hùng điểu.

Ở diện này cũng có mặt trăng âm nam làm đại diện cho mặt trăng âm nữ thái dương trong thời phụ quyền ngự trị giống như phía mặt trời. Ví dụ một chiếc gương Đời Đường dưới đây.

clip_image052

Một chiếc gương Đời Đường.

Ta thấy rõ núm tròn nổi bằng ngọc trai mang âm tính diễn tả mặt sáng mang âm tính như mặt trời âm thái dương hay mặt trăng thái dương. Vành viền gương rất dầy cũng diễn tả âm tính trội của gương. Chủ thể mặt gương có hình ‘hồ, ao’ nước với hai con cá chép cho thấy rõ gương biểu tượng cho nòng âm. Theo duy âm, thái âm ta có trăng đi với nước (trăng nước). Cá chép mang một ý nghĩa biểu tượng cho nước dương Chấn. Cá chép hóa rồng. Cá chép màu koi Nhật bản biểu tượng cho con trai, phái nam mang dũng tính. Cá chép là cá biểu của Lạc Long Quân Chấn. Người Mường thờ cá chép là vật biểu của Lạc Long Quân. Lạc Long Quân có một khuôn mặt là ông trăng (Ông giăng Lạc Long Quân mà lấy bà giời Âu Cơ).

Như thế hột ngọc trai ở tâm gương nghiêng về mặt trăng. Gương này theo duy âm, có một khuôn mặt chủ là chàng trăng sáng và có thể là đại diện cho khuôn mặt nàng trăng mang tính thái dương.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: