USA: BRANSON, MISSOURI, MƯƠI ĐIỀU…

BRANSON, MISSOURI, MƯƠI ĐIỀU…

Nguyễn Xuân Quang

Chúng tôi lái xe từ Kansas City xuống thăm trung tâm du lịch nổi tiếng nhất của MO là Branson.

Lái xe ở Mỹ rất thoải mái, nhất là ở vùng đồng bằng mênh mông ở vùng Trung Mỹ này. Lúc này chỉ có một điều ngại là thời tiết. Trời ngày nắng, ngày mưa. Khí hậu vùng sông nước của cái ‘Đáy Nước Mỹ’ (Bottom of America) này hầm và ẩm làm thoáng nhớ mùa mưa Saigon. (Được gọi là ‘Đáy của Nước Mỹ’ vì là một vùng trũng thấp nhất do đó nước từ những vùng cao, vùng núi chung quanh Hoa Kỳ đổ xuống mới tạo thành các con sông lớn vùng Trung Mỹ).

Ở đây cũng ngày nắng, đêm mưa. Mưa chợt đến và chợt đi như mưa Saigon. Nhưng ngán nhất là bão lốc tornado. Mùa này vẫn còn là mùa bão lốc ở Trung Mỹ. MO nằm trong vùng Hành Lang Bão Lốc của Hoa Kỳ. Những luồng khí nóng từ Miền Tây Hoa Kỳ thổi vào nội địa đụng đầu với những luồng khí lạnh từ Miền Đông thổi đến, tại hành lang này, tạo ra các trận tornado khủng khiếp hàng năm tại vùng Trung Mỹ.

Lái xe trên những cánh đồng thẳng cánh… ‘máy bay bà già’(phun phân, thuốc), -bây giờ cánh đồng là một biển xanh ngô bắp đang dậy thì-, nếu gặp phải tornado thì không biết tìm chỗ ẩn nấp ở đâu? Vì thế phải điều nghiên thời tiết kỹ trước khi đi và cập nhật dự đoán thời tiết hàng giờ. Chiếc iphone hiện nay thật tuyệt vời. Có lần phone bíp báo động báo cho biết tình trạng thời tiết khắc nghiệt, trong đó có cả bão tornado, của những vùng mình đang lái xe hướng tới.

BRANSON MƯƠI ĐIỀU…

 

clip_image002

Vị trí tây nam của Branson trong tiểu bang MO (Wikipedia).

1. Tổng Quát

Branson là một địa điểm nghỉ mát và du lịch nổi tiếng nhất của bang MO. Mỗi năm có hơn 8 triệu du khách tới thăm. Tuy vậy Branson chỉ là một tỉnh nhỏ hẻo lánh vùng núi có dân cư hơn mười ngàn người ở Quận Stone và Taney nằm trong một hốc Núi Ozarks ở tây nam MO.

Như đã biết, dòng sông Missouri cắt ngang tiểu bang MO chia ra phía bắc là vùng đồng bằng thoai thoải và phía nam là vùng cao nguyên của rặng Núi Ozarks. Ozarks bao phủ một vùng nam MO và một vùng rộng lớn tây bắc và trung bắc Arkansas, nối dài về phía tây tới vùng đông bắc Oklahoma và cực đông nam Kansas. Cao nguyên Ozarks là vùng núi rộng lớn nằm giữa rặng núi Appalachians và Rocky Mountains.

Có nhiều giải nghĩa về tên Ozarks. Có tác giả cho là do cách nói tắt của tiếng Pháp ‘Aux Arkansas’. Tác giả khác cho là do ‘Aux Arcs’ chỉ vòng cung cực bắc cao nhất của dòng sông Arkansas của toàn vùng dưới Arkansas. Người khác nữa lại cho là Aux Arcs chỉ các cầu đất thiên nhiên hình vòng cung tạo ra bởi soi mòn và hang động sụp đổ. Lại còn có cả người cho rằng Aux Arcs là tiếng nói tắt của ‘Aux Arcs-en-ciel’ (‘Hướng về Cầu Vồng’) vì nơi đây có nhiều cầu vồng xuất hiện!

Cao nguyên Ozarks có núi sông hùng vĩ, có suối, hồ, có hang động nằm gần nhiều tiểu bang vì thế Branson trở thành một trung tâm tĩnh dưỡng và du lịch nổi tiếng của MO là vậy.

Tên Branson được gọi theo Reuben Branson, một trạm trưởng bưu điện và là người cai quản một tiệm bán đồ thông dụng (general store) trong vùng vào năm 1880.

Branson trở thành một địa danh nổi tiếng nhờ tác phẩm ‘The Shepherd of the Hill’ (Người Chăn Chiên Trên Đồi) của Harold Bell Wright xuất bản năm 1907. Đây là quyển sách bán hàng triệu cuốn đầu tiên ở Hoa Kỳ. Tác phẩm kể câu chuyện hấp dẫn, đầy gợi cảm của một cựu mục sư sống lang thang đã chọn ở lại sống với những người đang ở tại Mutton Hollow (‘Hốc Cừu’). Bối cảnh của truyện là vùng Núi Ozarks. Đây chính là điểm khích động lòng ham thích tới viếng thăm Branson.

Thoạt đầu chỉ là nơi nghỉ hè với những nhà trọ lều cây cỏ dựng bên hồ Taneycomo, nơi thăm viếng các hang động ngầm dưới đất, xem lễ hoa đăng huy hoàng vào mùa Giáng Sinh và đi thăm các sơn trại… Về sau có các trung tâm giải trí và công viên có chủ đề (theme parks)…

2-Vài Điều Về Dân Bản Địa.

 

clip_image004

Thuyền của thổ dân Ozarks làm bằng da thú (ảnh của tác giả).

Vào giai đoạn từ 14.000 tới 12.000 TTL là cuối của Thời Đại Băng Đá sau cùng, các bằng chứng khảo cổ học cho thấy đã có dấu tích của con người sống ở Ozarks.

Thời Cổ (archaic) từ 7.800 TTL tới 1.000 TTL, những người sống trong các hang ở Ozarks sống bằng lượm hái, săn bắn.

Nền Văn Hóa Mississipi xuất tiện từ 500-1500 STL tại vùng thung lũng sông Mississipi và các kiến trúc gò đống ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ, các cơ cấu nhà ở, nông nghiệp và các tính chất thường trực hơn là đặc điểm của vùng. Theo truyền khẩu Osage thì người Osage ở Ozarks là con cháu của nền Văn Hóa Mississipi.

Từ 1.000 TTL tới 500 STL là Thời Kỳ Đất Rừng (Woodland) ở Ozarks đánh dấu bằng sự xuất hiện của đồ gốm, cung tên.

Từ 1.000 tới 1.300 STL, thành phố Cahokia được xây dựng trong thời này tại vùng đất Illinois ngày này, gần St Louis. Đây là trung tâm tôn giáo và trao đổi, giao thương của nền Văn Hóa Mississipi có các tộc nói tiếng đại tộc Rắn Sioux. Trong đó có Gò Đống Pháp Sư Monks Mound là gò đống lớn nhất, cao hơn 100 bộ do con người dựng lên ở Bắc Mỹ. Tại Cahokia, các nhà khảo cổ tìm được thạch bản Người Chim cho thấy Văn Hóa Mississipi có thể là văn hóa lưỡng hợp chim rắn giống như văn hóa chim rắn Tiên Rồng của Việt Nam (xem St Louis Mươi Điều).

Ngày nay các thổ dân ở đây gọi là Nước Osage, họ nói tiếng Sioux (có một nghĩa là Rắn), gốc ở vùng thung lũng sông Ohio, ngày nay là Kentucky. Theo lịch sử họ có tên cổ là Ni-u-kon-sha có nghĩa là ‘mid-water’.

clip_image005

Con dấu của nước Osage hiện nay. Hình mũi lao tiền sử bằng đá thủy tinh núi lửa (flint), cái quạt tế lông chim và ống điếu thiêng liêng (nguồn: Wikipedia).

Con dấu của quốc gia Osage ngày nay có hình mũi lao thời tiền sử bằng đá thủy tinh núi lửa (flint), ống điếu thiêng liêng và cây quạt tế lông chim.  Mũi lao biểu tượng cho lòng dũng cảm, chiến đấu. Người Osage to lớn rất thiện chiến. Ống điếu thiêng liêng là biểu tượng cho trung tâm vũ trụ mà thổ dân dùng tế lễ từ đời trước truyền xuống đời sau. Cái quạt tế lông chim, phương tiện liên lạc với thần linh cõi trên và tổ tiên để lãnh hội khí thiêng và hồng ân. Như thế thờ vũ trụ đã có trong văn hóa thổ dân Osage, trong văn hóa Mississipi từ lâu.

Osage thuộc tộc Nước, nói tiếng đại tộc Rắn Sioux. Theo truyền thuyết họ là con cháu của nền Văn Hóa Mississipi, có các kiến trúc gò đống ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ, có tộc Người Chim Cahokia (xem St Louis Mươi Điều…). Ta thấy rõ nền văn hóa Mississipi có nguyên lý, chim rắn, nõ nường, nọc nòng. Tộc Nước, Rắn Osage thờ ống điếu thiêng liêng biểu tượng cho trung tâm vũ trụ không khỏi làm nghĩ tới có sự liên hệ với vũ trụ giáo, tương đồng với Chim Rắn Tiên Rồng của Việt Nam. Tổ tiên của thổ dân Mỹ châu đến từ vùng duyên hải Đông Nam Á, thuộc địa bàn của Việt Cổ, tộc di dân nào khi rời đất tổ ra đi cũng mang theo cốt lõi truyền thống, văn hóa gốc tổ của mình, nên có sự tương đồng với Việt cổ là chuyện hữu lý (sẽ có bài viết riêng). Cũng xin nói thêm là, sau khi đi chu du khắp nơi trên thế giới, chúng tôi sẽ đi thăm viếng hết 50 tiểu bang Hoa Kỳ, trong đó có việc đi tìm hiểu về Thổ Dân Mỹ Châu, hy vọng sẽ viết về cổ sử của họ dưới một con mắt của một người Việt có nguồn cội chung với họ. Cổ sử, văn hóa Thổ Dân Mỹ Châu hiện giờ được nhìn dưới con mắt của người da trắng chưa đúng mức và lệch lạc.

3. Giải Phố Chính (Branson Strip).

Branson chỉ có một con đường chính là Đại Lộ 76 Country, con đường của các rạp hát, trung tâm giải trí, nhà hàng ăn, quán rượu, mua sắm… Khúc đường này được gọi là Branson strip giống như Las Vegas strip.

Phần lớn du khách đến bằng xe nhà hay xe bus nên đây là con đường kẹt xe… vì ngắm nhìn những thứ mà Branson muốn du khách nhìn. Du khách dạo strip bằng xe hơi và xe chậy chậm hơn người đi bộ (muốn di chuyển cho nhanh phải dùng con đường vòng phía ngoài).

Cũng như Las Vegas strip, Branson strip rực rỡ về đêm.

clip_image007

Ripley’s Believe It or Not về ban đêm. Ta thấy đã cập nhật hóa với tượng Người Biến Dạng Transformer ở trước (ảnh của tác giả).

4. Giải Trí

Branson có hơn một trăm show.

Branson được chương trình ’60 Minutes’ năm 1990 cho là ‘Thủ đô nhạc đồng quê của thế giới’. Đến đây ta có thể ‘nếm’ đủ thể loại nhạc đồng quê Mỹ. Mỗi show một loại nhạc, một vẻ, một thời. Phải mất một tuần mới có thể xem hết các show chính mà mình thích (có chỗ một ngày có hai show sáng và tối).

Thường chỉ có đủ thì giờ để chọn được vài loại show mình thích nhất.

Buổi tối hôm đầu, chúng tôi chọn đi xem show ăn tối Dixie Stampede (‘Dậm Chân Dixie’, nếu thích văn hoa hơn có thể dịch là ‘Vó Câu Dixie’) do Dolly Parton làm chủ. Dixie chỉ các tiểu bang Miền Nam.

clip_image002[4]

Dolly Parton là nữ danh ca nổi tiếng về viết và hát nhạc đồng quê Hoa Kỳ và cũng nổi tiếng khắp thế giới về bộ ngực ‘cả vú lấp miệng … anh’.

clip_image009

(nguồn: Hollywoodvision.com).

Bộ ngực của Dolly Parton nổi tiếng thế giới đến độ con cừu nhân tạo bằng phương pháp sinh sản nhân bào (chuyển ghép nhân tế bào, cloning; hiện nay thường dùng từ nhân bản. Tôi thấy từ nhân bản dễ làm hiểu lầm với nghĩa ‘gốc con người’). Đây là phương pháp lần đầu tiên tạo ra một sinh vật lấy từ các tế bào trưởng thành thân thể. Con cừu cái tạo ra bằng phương pháp sinh sản nhân bào lấy từ tế bào của một con cừu cái, được đặt tên là Dolly, gọi theo tên Dolly Parton. Bộ ngực của Dolly đã đi vào lịch sử y học nhân loại. Cơ sở truyền thông BBC cho rằng Dolly là con cừu cái nổi tiếng nhất thế giới. Sau khi chết, cừu Dolly được nhồi bông và đem trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia Scottland, Vương Quốc Anh.

clip_image011

Tác giả và cừu Dolly tại Bảo Tàng Viện Quốc Gia Scottland, U.K.

Khán giả được chia ra hai phía Nam Bắc ngồi ở hai bên sân khấu cát trình diễn.

clip_image013

Show Dixie Stampede (ảnh của tác giả).

Lưu ý người nữ hầu ăn mặc quân phục lính Miền Nam (theo chính sách dùng nô lệ).

 Sân cát đã được làm ẩm nước ở mức không làm tung cát bụi lên nhưng không sũng nước tới độ làm trở ngại những đường chân, bước chân điệu nghệ của ngựa trình diễn.

Chương trình mang chủ đề chính nhắc lại cuộc sống của các người tiên phong Tây Tiến pha sắc thái hài hước qua sự cạnh tranh Nam Bắc trong các cuộc đua, trình diễn ngựa, đua heo, gà và các trò chơi khác. Đầu óc khôi hài này cũng thấy qua các phòng vệ sinh cũng phân chia ra những phòng Nam Bắc riêng rẽ.

clip_image015

Phòng vệ sinh Nam Bắc riêng rẽ (ảnh của tác giả).

Lưu ý show Dixie Stampede này là ‘của’ Miền Nam (Dixie chỉ các tiểu bang Miền Nam theo chính sách giữ nô lệ) và chúng ta là dân Á châu. Lúc này người Mỹ, nhất là giới trẻ ‘cô hồn’ rất ghét Tầu. Coi chừng họ tưởng mình là Chệt, bước vào phòng vệ sinh Miền Bắc, không khéo có thể bị stampede!

Điểm đáng yêu ở đây là trong Nội Chiến Nam Bắc Hoa Kỳ, Miền Nam đã thua, vậy mà giờ đây ở ngay đất theo Miền Nam này, họ chỉ coi thắng bại như một trò đùa. Khác với người Việt Nam, chiến tranh Quốc Cộng chấm dứt gần 40 năm rồi mà vẫn còn thù hận, giết nhau, mà cuộc chiến lại là do các cường quốc ngoại bang tạo ra.

Bữa ăn tối gồm có nguyên con gà rô ti, lườn heo BBQ xông khói gỗ hickory, súp kem thực vật, bánh bích qui (biscuits của Mỹ tương tự như bánh scone của Anh khác với loại bánh ‘bích quy’ hay bánh ‘quy’ là loại bánh ngọt ‘nướng hai lần’; bis- là hai, cuit là chín, nướng) làm tại chỗ, ngô hấp bơ, khoai tây nướng, bánh nướng nhân táo, nước ngọt, trà, cà phê. Ăn uống thả cửa. Ông hàng xóm bên cạnh nặng trên 200 pounds ăn hết hai con gà như chơi. Ăn theo kiểu ‘Tây Tiến’ là ăn bốc, cầm tay (không có muỗng nĩa). Cũng nên biết là từ steak (bíp tếch) có gốc từ stick (cây que). Ngoài hoang dã, rừng núi, thịt bò xuyên vào que đem nướng trên đống lửa gọi là steak. Vì ăn tay cầm nên khán giả mỗi khi tán thưởng hay cổ võ phải dậm chân xuống sàn gỗ. Từ stampede vì thế có nhiều nghĩa. Một là chỉ show có chủ đề là các bước chân, dậm chân tuyệt vời của ngựa. Hai là khán giả phải dậm chân. Ba là dẫm đạp chết người. Từ stampede, stamp (chiếc dầm, dậm, đầm; dậm chân) có tam- = Việt ngữ dậm, dẫm (chân). Người Việt miền Trung, Nam nói đâm ớt tỏi, từ đâm cũng có nghĩa gốc ở đây (Cổ ngữ Anh stempan có nghĩa là ‘to pound in a mortar’).

Rất tiếc không được chụp ảnh.

Parton hát bài hát thổ dân Mỹ châu nổi tiếng ‘Sha-Kon-O-Hey’ trong lúc trình diễn và hát bài ‘Color Me America’ khi chấm dứt. Dĩ nhiên là hát ‘ảo’.

Lúc tan ‘tuồng’ khán giả có thể thăm viếng các ‘ngôi sao ngựa’ ưa thích và các nhân viên trình diễn yêu chuộng.

clip_image017

Một ‘kỵ nữ’: ‘ngựa đã sẵn rồi, mời… cụ lên’!

Trên lối về có một hành lang chuồng ngựa trưng bầy các con ngựa trình diễn quí hiếm cho khán giả thăm viếng, tán dương.

clip_image019

Một ‘ngôi sao ngựa’ và một‘kỵ nữ’ (ảnh của tác giả).

Tối hôm sau, chúng tôi đi xem Dutton show do gia đình Dutton trình diễn. Gia đình gồm bố mẹ và 7 người con chơi vĩ cầm, fiddler, guitar, bass, viola, cello, banjo, mandoline, keyboard, khẩu cầm, trống và hát nhạc đồng quê, bluegrass, pop thời 50, swing, rock và nhiều nữa, cộng thêm nhẩy múa và hài hước.

Show thật sự mang tính cách gia đình. Cậu cháu chín mười tuổi làm người hướng dẫn xếp chỗ ngồi. Ngay cả đứa cháu bị ung thư đang trị liệu cũng xuất hiện trên sân khấu.

clip_image021

Cậu cháu bị ung thư hát sau mặt nạ che miệng mũi (ảnh của tác giả).

Tài đánh vĩ cầm, fiddler của gia đình Dutton siêu đẳng. Trong khi hợp tấu, đổi nhau, người này kéo đàn của người khác.

clip_image023

Người này kéo đàn của người kia (ảnh của tác giả).

Chúng tôi dự định tối hôm sau đi xem show Shoji Tabuchi, một dân Mỹ gốc Nhật, chơi fiddler nhạc đồng quê Mỹ và đủ các thể loại kể cả Trống Cái, Đại Cổ (Taico) của Nhật.

5. Mua Sắm

Dĩ nhiên mua sắm không phải là một chuyện thứ yếu của một trung tâm du lịch vào hàng đầu. Con đường Cái, Main ở phố dưới có đủ mọi cửa hàng từ đầu cao (high end) sang trọng tới đầu thấp bình dân.

Một trong các cửa hàng bán tặng phẩm du lịch bình dân mà giới du khách nhất là phái nữ khó có thể bỏ qua là tiệm Dick’s 5 & 10 (Nickel & Dime, 5 và 10 xu).

clip_image025

Tiệm đã mở từ thời Old Times, 50 năm trước, lúc đó các món thường dùng chỉ có 5, 10 xu. Tiệm có hơn 50.000 món hàng. Các người già Mỹ đến đây tìm lại cái vui của thời thơ ấu qua các món hàng, kỷ vật, đồ chơi… của một thời xa xưa.

Một khu mua sắm, ăn uống, giải trí hiện đại là khu Branson Landing (Bến Branson) với hàng trăm cửa hàng, quán ăn, chung cư, khách sạn Hilton…

Nơi đây theo giờ có những màn trình diễn nước và lửa.

clip_image027

(ảnh của tác giả).

clip_image029

Màn trình diễn nước và lửa ở Branson Landing (ảnh của tác giả).

6. Hồ và Đập Đá Bàn (Table Rock Lake and Dam).

Hồ Đá Bàn là một hồ nhân tạo hay bồn chứa nước ở Ozark nằm ở tây nam MO và tây bắc Arkansas. Hồ do Đập Đá Bàn chặn nước trên sông White, xây bởi Công Binh Mỹ năm 1954-1958. Trong thời chiến tranh Việt Nam, Công Binh Mỹ đã xây nhiều đường xá, cầu cống, xa lộ tổng cộng dài 900 dậm Anh cho Việt Nam. Đặc biệt nhất là chế ra loại xe cầy ủi đất ‘Rome plow’ phía trước có lưỡi cưa cắt cây để dọn đường cho quân đội Mỹ năm 1967.

clip_image031

(ảnh của tác giả).

Tại Dewey Short Visitor Center có trình bầy lịch sử thiên nhiên và các chi tiết xây Đập Đá Bàn.

clip_image033

Trung Tâm Khách Viếng Thăm Dewey Short.

clip_image035

Đập Đá Bàn.

Hình Lâu Đài trên tường là huy hiệu của Công Binh Mỹ (ảnh của tác giả).

 

clip_image037

 

Tại hồ này có nói tới một loài cá rất nguy hại cho môi trường nuôi cá do người Tầu mang vào Mỹ. Đó là loại cá miền Bắc Việt Nam gọi là cá quả, cá chuối, cá sộp, Trung Nam gọi là cá tràu, cá lóc. Người Mỹ gọi theo tên khoa học là ‘cá đầu rắn’.

clip_image039

Cá chuối hoa (ảnh của tác giả).

 Cá nhẩy ra ngoài nước có thể sống được ba ngày. Cá ‘đi’ bằng cách dùng vây ngực ‘lóc’ đi (nên gọi là cá lóc). Cá sinh sản nhiều lần trong năm. Không bị loài khác giết nổi và ăn hầu hết mọi thứ, kể cả các, trứng, cá con của các loài cá khác.

Luật qui định nếu câu hay bắt được phải báo ngay cho nhà chức trách.

7. Trung Tâm Nuôi Cá Giống

Phía cuối dòng nước từ Đập Đá Bàn có Sở Nuôi Cá Con Shepherd of the Hill. Nước lạnh xả ra từ đập là một môi trường thích hợp cho việc nuôi cá hương (trout) làm giống.

clip_image041

(ảnh của tác giả).

Trung tâm cung cấp trứng, cá hương cầu vồng (rainbow trout), cá hương nâu cho vùng hồ Taneycomo và các nơi khác. Cá con thả xuống sông hồ lớn lên để đem lại thú tiêu khiển, niềm vui cho các người đi câu của Missouri và các du khách từ khắp nơi.

Trung tâm có hồ cá và các bể trưng bầy từng chu kỳ sinh trưởng và cách nuôi cá.

clip_image043

Cá hương hồ Taneycomo, Branson. Con đực hàm dưới có móc câu, con cái không có (theo đúng luật nòng nọc, âm dương của thiên nhiên, trời đất, con đực có nõ, có nọc, có cọc, có móc).

(ảnh của tác giả).

8. Showboat Branson Bell.

Ở Hồ Đá Bàn có những cuộc du ngoạn trên hồ bằng thuyền có show và ăn uống. Nổi tiếng nhất là Showboat Branson Bell. Thuyền có show trưa và tối.

clip_image045

Bến Showboat (ảnh của tác giả).

clip_image046

Showboat Branson Bell năm 2012 (Wikipedia).

Con thuyền này được hạ thủy xuống Hồ Đá Bàn ngày 12 tháng 8, 1994 trên một đường rầy được làm trơn bằng hai tấn chuối. Dùng chuối thay cho dầu nhớt để tránh làm ô nhiễm nước hồ.

9. Công Viên Tiểu Bang Marina.

Dọc theo hồ có vài marina tiểu bang và thương mại.

 

clip_image048

Công Viên Tiểu Bang Marina (ảnh của tác giả).

Có lối mòn ven hồ đi từ Marina Tiểu Bang tới Trung Tâm Khách Viếng Thăm Dewey Short thật thơ mộng. Mùa thu có mầu lá thu quyến rũ. Mùa xuân có hoa cây dương đào (dogwood) và cây nụ thắm (redbud trees) rực rỡ. Cây dogwood là biểu tượng thực vật của MO. Lá bắc (bract) dưới đế hoa giống hình thánh giá có dấu đóng đinh. Lá mầu đỏ về mùa thu được liên kết với máu của Chúa Cứu Thế. Vì liên tưởng đến Chúa nên có truyền thuyết cho rằng trước kia cây dogwood mọc rất lớn và thẳng, thường bị chặt dùng là thánh giá. Đức Jesus động lòng làm cho cây mọc nhỏ lại để khỏi bị chặt.

clip_image050

Cây dương đào dogwood đỏ (nguồn: imgarcade.com).

 10. Thành Phố Dollar Bạc

 

clip_image052

Thành Phố Dollar Bạc (Silver Dollar City) là một công viên chủ đề về hoạt cảnh một ngôi làng của dân khai phá vùng núi Ozark vào thời 1880.

clip_image054

Ngôi mộ tên Ma chôn người lòi hai chân đi giầy ra ngoài mặt đất. Đôi giầy quí mới mua không nỡ chôn đi! (ảnh của tác giả).

Ngày nay có các trò chơi ‘lạnh người’ của thế kỷ 21.

Lúc này đang có lễ hội Star Spangled Summer (Mùa Hè Cờ Sao Lấp Lánh).

 

clip_image056

 

clip_image058

(ảnh của tác giả).

 

clip_image060

Một thôn nữ căng đầy nhựa sống vùng đồng ruộng phì nhiêu Trung Mỹ ngả mũ đón chào trong một điệu vũ dân tộc (ảnh của tác giả).

Ở đây dân chúng có đầu óc bảo thủ còn giữ truyền thống xưa, rất đạo hạnh, đầy lòng ái quốc, tôn vinh quân đội, cựu chiến binh và các người đã bỏ mình cho lý tưởng tự do.

Chúng tôi sau khi mua đồ ăn trưa xong, đi tìm một chỗ ngồi ngoài trời. Bàn nào cũng có người. Thấy vậy, một gia đình ngồi xích gần vào nhau nhường chỗ cho chúng tôi. Họ ăn uống xong, đứng dậy, đề nghị dọn đổ rác bớt cho chúng tôi. Đây là lần đầu tiên ở Mỹ, một người da trắng không quen biết đề nghị đổ rác cho mình.

10. Hang Marvel

Như đã biết, MO là vùng đất đá vôi có hơn 6.000 hang động, nên có biệt danh là ‘The Cave State’ (Tiểu Bang của Hang Hốc).

Hang Marvel nằm ngay dưới Silver Dollar City.

 

clip_image002[6]

Bản đồ Hang Marvel.

Sâu 500 bộ với hơn 300 bậc thang đi xuống đáy hang. Đây là một hang đá vôi dài 3 dậm và có Phòng Giáo Đường dài 400 bộ và cao 20 tầng. Buổi tối có Tour Ánh Đèn (Lantern Light Tour).

clip_image002[8]

clip_image064

Thạch nhũ (ảnh của tác giả).

 

clip_image066

Hang Pha Lê (Crystal Cave) (ảnh của tác giả).

Xuống thăm hang cần phải có một thể lực dẻo dai.

Lúc công viên Silver Dollar City đóng cửa, chúng tôi mới biết có buổi trình diễn Đêm Đại Ca Nhạc Đồng Quê Hoa Kỳ Great American Country Night ở sân khấu lộ thiên Echo Hollow Amphitheater có 4.000 chỗ ngồi. Chúng tôi quyết định ở lại xem thay vì đi dự show Shoji Tabuchi như đã dự định.

clip_image068

Đêm Đại Ca Nhạc Đồng Quê Hoa Kỳ

Great American Country Night (ảnh của tác giả).

11. Ẩm Thực

Dĩ nhiên Branson có đủ các món ăn cao lương mỹ vị hạng sang của Mỹ và thế giới. Món thịt nướng của miền đồng ruộng Trung Mỹ với lượng gia súc, heo, gà đông hơn người, thấy khắp nơi.

 

clip_image070

Tiệm BBQ Heavenly Ribs (ảnh của tác giả).

Tuy nhiên chúng tôi đi tìm ăn những món nhà quê, sơn trại đặc thù nổi tiếng nhất của Branson. Một trong các tiệm có món ăn thuần túy Miền Nam kiểu mẹ nấu ở nhà nổi tiếng của Branson là Farmhouse Restaurant.

clip_image072

(ảnh của tác giả).

Dĩ nhiên phải chờ đợi cả tiếng đồng hồ. Cái tên Farmhouse cho thấy tiệm có cảnh trí của một ngôi nhà ‘chân quê’ ở nông trại Hoa Kỳ. Đồ dùng ăn uống thôn dã. Uống nước trong các bình đựng mứt, sốt… (large mason jars).

clip_image074

Chicken-fried steak (ảnh của tác giả).

Tôi chọn món Chichen-Fried Steak nổi tiếng của nhà hàng, ăn với bánh tương tự như bánh biscuits hay khoai tây nghiền và sốt, kèm theo đậu ve hay ngô. Mùa này có bắp ngô đầu mùa. Ngô mới hái, nấu ngay, ăn thơm ngọt như hương vị ngô ăn ở bãi sông làng Phượng Lâu quê hương tác giả bên dòng sông Hồng, Hưng Yên ngày còn nhỏ.

Sốt ‘nhà quê’ này thơm ngon béo, ngậy khác hẳn các loại sốt khác ở thành phố. Sốt làm bằng mỡ heo một trăm phần trăm. Các món ăn cổ truyền đặc thù vùng quê Trung Mỹ thường vẫn nấu ăn bằng mỡ heo. Giờ đây, dân thành thị sợ cholesterol kiêng ăn mỡ heo. Các tiệm ăn Việt Nam cũng theo trào lưu ‘sợ mỡ’ giờ bán bún chả Hà Nội bằng toàn thịt nạc, không còn có thịt ba chỉ nữa (một lý do nữa là vì thịt ba chỉ đắt hơn thịt nạc). Thịt nạc nướng cũ cả tuần, cả tháng rồi (vì không có khách ăn, bỏ tủ lạnh), đem bỏ lò vi ba (microwave) hâm lại, ăn dai nhách như ăn thịt plastic made in China.

Tráng miệng với Blackberry cobbler (bánh nướng bọc trái ‘cơm xôi’) đặc biệt của nhà hàng.

Ngày mai rời Branson, trên đường về Kansas City, chúng tôi sẽ ghé qua tỉnh Springfield.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: