SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 20) NHỮNG TỪ TÌNH DỤC.

 

 

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 20)

NHỮNG TỪ TÌNH DỤC

Nguyễn Xuân Quang

Tôi đã viết một bài tỉ mỷ giải thích Ý Nghĩa Những Từ Thô Tục Trong Việt Ngữ ( xem Ý NGHĨA NHỮNG TỪ THÔ TỤC TRONG VIỆT NGỮ ở categories Tiếng Việt Huyền Diệu này), ở đây chỉ giới hạn vào chủ đề so sánh các từ Tình Dục Việt Ngữ với Ấn Âu Ngữ.

NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NỮ

Anh ngữ

.vagina

âm đ ạo

chỉ ‘khoảng đường từ âm môn tới cổ dạ con’, Latin vagina ‘bao, vỏ bọc (gươm, dao, hạt)’, có gốc *wag-ina (họ hàng huyết tộc: Lithuanian vožiu ‘to cover with hollow thing’, ‘che, đậy với vật rỗng’).

.vulva

cửa mình, âm môn

Latin vulva, volva ‘womb, female sexual organ, có lẽ có nghĩa đen là vật bao, bọc gói, quấn, cuốn phát sinh từ volvere ‘to turn, twist, roll, revolve’, có gốc *wel- ‘to turn, revolve’ , có các chuyển hóa chỉ vật khép đóng lại.

.yoni

Phạn ngữ yoni là ‘vulva, womb’.

.slit

‘vết cắt, rạch, xẻ, chẻ ra’ , tiếng lóng chỉ vulva.

.pussy

tiếng lóng chỉ ‘female pundenda’ (cửa mình), có lẽ cổ hơn phát sinh từ Cổ Norse puss ‘pocket, pouch’ (túi, bao, bọc) (ruột thịt với purse là ví tiền, hầu bao, Latin bursa, Pháp ngữ bourse), tuy nhiên cũng có giải thích là gọi theo ý niệm ‘soft, warm, furry thing’ (vật lông mềm, ấm), so sánh với Pháp ngữ ‘le chat, which also has a double meaning, feline and genital’ (le chat, ‘con mèo cũng có hai nghĩa, họ mèo và bộ phận sinh dục).

.cunt

‘female intercrural foramen’ (lỗ giữa háng phái nữ), Trung Cổ Anh ngữ cunte ‘female genitalia’, phát sinh từ Tiền-Germanic *kunton (Cổ Norse kunta), nguồn gốc không rõ. Một vài tác giả cho rằng liên hệ với PIE *geu- ‘hollow place’ (‘chỗ hổng’) và người khác lại cho là liên hệ với PIE *gwen- (gốc của queen và Hy Lạp gyné- ‘woman, wife’, Phạn ngữ Janis ‘women’, gná ‘wife of god, goddess’).

Việt ngữ

Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ như nường, lồn, dánh, ke, ghe, nốc, dốc, đốc, bẹn v. v…

1.với nghĩa túi, nang, bao bọc.

.lồn

Lồn có nghĩa là gì?

Ta thấy lồn biến âm với lồng.

Lồng là vật hình bao bọc để nhốt chim, gà như lồng chim, lồng gà [ở một diện, chim, gà biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam (xem dưới)], vật rỗng để che đậy như lồng bàn che thức ăn. Lồn là lồng với nghĩa vật rỗng để che đậy, bao đựng này chính là nghĩa của Lithuania vošziu ‘to cover with hollow thing’.

.lòng

Lồn biến âm vói lòng (bao, túi, xoang, bụng chứa nội tạng).

với nghĩa này giống Ấn Âu ngữ đôi khi liên hệ với hay mang nghĩa dạ con, bụng. Ví dụ như Việt ngữ bẹn.

Xin nhắc lại tiếng Bắc bẹn ngày nay cũng chỉ háng nhưng tiếng cổ bẹn chỉ bộ phận sinh dục nữ, “bện: cơ quan sinh dục của đàn bà” (Alexandre de Rhode, Từ Điển Việt Bồ La); bẹn: khuôn viên cái âm hộ; bẹn lồn: hình tích cái âm môn, hình xéo xéo giống hình ba góc (Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị). Ta thấy rõ tiếng cổ bẹn chỉ háng với nghĩa ‘ngã ba đời’ (cuộc đời như cái ngã ba...) của cháng, chạng thân người.

Bẹn liên hệ với Phạn ngữ vanshana ‘the groin’ có van- = bẹn.

Ta thấy bẹn liên hệ với Cổ ngữ Anh belg, với belly có bel- = bẹn và với Pháp ngữ ventre, có ven = bẹn (v=b). Xin nhắc lại bụng là một thứ bao, bọc, túi, xoang chứa nội tạng (xem belly). Bộ phận sinh dục nữ cũng là một thứ túi, nang vì thế bẹn với nghĩa bộ phận sinh dụng nữ là hiểu theo nghĩa bụng, belg, belly là vậy. Việt ngữ bẹn và Anh ngữ belg cũng là một trường hợp hoán đổi tên theo vị trí sát bên.

Lồn hiểu theo nghĩa lồng tương ứng với Anh ngữ, Latin vagina có nghĩa bao, túi.

Ta cũng thấy lồn biến âm với luồn là xỏ cho vật gì qua một cái lỗ (xe chỉ luồn kim), một đường ống (luồn ống thông ruột, thông bọng tiểu) với luồng là đường, khe hẹp như đường luồng. Với nghĩa đường ống, hẹp này, lồn tương ứng với Hán Việt âm đạo(‘đường âm’).

.nòng

Lồn biến âm với nòng. Nòng là vòng tròn, lỗ tròn, nguyên thủy con người chỉ bộ phận sinh dục nữ và ký hiệu bằng vòng tròn nòng O (Chữ Nòng Nọc). Nòng biến âm thành:

-nường là tiếng cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua từ kép “nõ nường”. Các nương có nường.

Nường là nòng, là nang có nghĩa là cái bao, cái túi, cái bọc. Nường là nòng, nõ là nọc. Nõ nường là nọc nòng dương âm là càn khôn.

Lồn, lồng coi như là dạng nam hóa, hiện kim của nòng, nường (l là dạng nam hóa, hiện kim của n).

Nường đẻ ra nương (con gái, cô nương, Mỵ Nương). Nang đẻ ra nàng.

Các nương, các nàng có nường, có nòng, có nang, có lòng, có lồng, có lồn. Các nữ (phái), các nanny (vú em), nana (bà), các nun (dì phước), các nurse (nữ y tá)… có nang, có nòng, có nường.

Với nghĩa là túi, bao, bọc, lồn tương ứng với Pháp ngữ vagin, Anh ngữ vagina (âm đạo). Theo v=b như víu = bíu, vagin, vagina có gốc vag- = bag (túi, bao).

Ta cũng thấy Việt ngữ lồng liên hệ với vagina qua các từ Anh ngữ vaginate có nghĩa là có bao, có túi; invagination (lồng vào nhau) như intestinal invagination (chứng ruột lồng) còn có tên là intestinal intussusception;

clip_image002

Chứng ruột lồng (nguồn: fotosearch.com)

evaginate (các vật hình túi, ống lộn trong ra ngoài). Đối chiếu, ta thấy rõ như ban ngày vaginate, invagination, evaginate cùng gốc với Anh ngữ vagina y hệt như lồn cùng gốc với lồng, lộn. Lồn là nang là túi. Thành túi có thể lồng vào nhau, túi có thể lộn ngược ra. Điểm này xác thực lồn là biến âm ruột thịt với lồng, lòng, nòng, nường.

Với nghĩa là lồng, lòng, dạ, lồn liên hệ với Ba Lan ngữ lono (‘bosom’, ngực, lòng; lap, đùi, chỗ trũng, chỗ lõm), với Phạn ngữ yoni (vulva, âm hộ) (theo qui luật l=d=y, ta có yon = lồn).

Phạn ngữ yoni liên hệ với yauna (dạ con), yauna chính là yoni + a. Ta thấy rõ trong tiếng Việt, phái nữ nàng, nương, nường gọi theo bộ phận sinh dục nữ nường, lồn giống hệt như các tộc khác của Ấn Âu ngữ như Phạn ngữ yoshana, yosha, yoshit (đàn bà) là gọi theo yoni. Ý ngữ donna, Tây Ban Nha dona (n có dấu ngã), Bồ Đào Nha dona, v. v… có nghĩa là lady (bà, đàn bà, phái nữ) tất cả có gốc don– ruột thịt với yoni (d=y). Ta cũng thấy theo d=l như dần dần = lần lần, don- = lồn. Ở Thái Bình có loài sò hến gọi là con don. Món canh don ở Thái Bình rất nổi tiếng. Sò hến có một nghĩa dùng chỉ bộ phận sinh dục phái nữ (như người Nam gọi con mussel con lồn tiên). Con don là con yoni, con lồn.

.v í

Ví là túi, bao bọc để đựng như ví tiền (còn gọi là hầu bao; hầu cũng có nghĩa là bao như con hầu, con hào thuộc loài bào ngư nghĩa đen là ‘cá bao’).  Theo biến âm v=b, ta có ví = bí. Bí cùng họ với bầu: ‘Bầu ơi thương lấy bí cùng, Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn’. Bầu là bào, là bao là bọc. Quả bầu hình bao, bọc túi. Bí biến âm mẹ con với Hán Việt bì là bao bọc (cân trừ bì là cân trừ bao), bì là da (bì phu). Da là túi bọc thân người…

Tiếng lóng ví chỉ bộ phận sinh dục nữ. Với nghĩa này,  ví = vagina.

Ta cũng thấy purse, ví cầm tay ruột thịt với pussy (có một nghĩa lóng là pussy cat, chỉ cửa mình), như đã nói ở trên, nguyên thủy có nghĩa gốc là bao, bọc, túi ruột thịt với Cổ ngữ Anh pursa, Latin bursa, Pháp ngữ bourse.

Có một điểm thú vị xin nói thêm là phái nữ có ví nên thích ví. Vì ví thiên nhiên bị che kỹ nên các bà các cô thích ‘khoe’, trưng diện ví cầm tay! (trường hợp này giống các ông có cọc, có cược, cóc cặc nên các vua chúa, các ông lãnh tụ thích cầm gậy lệnh, cầm quyền trượng!).

2. với nghĩa kẽ, khe.

.ke

Trong Từ Điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes có từ ke chỉ “chỉ bộ phận sinh dục đàn ông hay đàn bà”. Đây là một từ lưỡng tính phái (xem Dịch Lý và Việt ngữ). Theo duy âm, về phía phái nữ, ke chính là kẽ như kẽ nứt, kẽ hở, kẽ tay, đọc thêm hơi vào ke thành khe. Ke, kẽ, khe là những từ tượng hình chỉ bộ phận sinh dục nữ, Anh ngữ bình dân gọi là slit, xẻ, chẻ, tách ra. Theo s=k (đen sịt = đen kịt) và theo biến âm kiểu kẽo kịt, kẽo kẹt, ta có s(l)it = sit = kịt = kẹt. Kẹt là khe, góc nhỏ như trong kẹt.

Ke, khe biến âm với chẻ, xẻ, ruột thịt với PIE * sker- ‘to cut’, cắt, xẻ.

Cũng trong Từ Điển Việt Bồ La có tứ dánh, dắnh chỉ lồn. Đây chính là từ dãnh, rãnh chỉ khe, mương, máng. Anh ngữ drain (rãnh, dãnh) có dain, rain = dãnh, rãnh.

.ghe

Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

        Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

        Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn ghe, ăn đồ.

                                        (ca dao).

Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua cách biếu xén quà cáp. Muốn chửi rủa ai, vào dịp giỗ tết đem biếu hai quả cau và ba chén chè. Hai quả cau “nang” chỉ hai cái “trứng” của phái nam và ba (chén) chè nói lái lại là ghe bà. Theo chuyển hóa k= gh như ké = ghé, kê = ghế (cái đòn kê để ngồi là dạng nguyên thủy của cái ghế ngày nay), ta có ke = ghe. Ghe là ke là kẽ, là khe.  Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ nên ta có từ “ghế” tiếng nói trại đi của từ “gái”. Con ghế có ghe. Nguyên thủy cái ghe làm từ một thân cây khoét rỗng (dug-out) có hình cái khe, cái xẻ (slit). Vì thế mà thuyền độc mộc gọi là cái ghe. Phi Luật Tân Tagalog ngữ gay là ghe biến âm với gái, theo g = c, gay = cây. Rõ ràng ghe, gay là thuyền độc mộc khoét từ một khúc cây và liên hệ đến gái, bộ phận sinh dục nữ.

Điều rất thú vị là không những các từ cổ Việt chỉ bộ phận sinh dục nữ còn có nghĩa là ghe, nốc mà trong ngôn ngữ của người Ainu (Hà Di), thổ dân sống ở Nhật Bản có từ chỉ bộ phận sinh dục nữ cũng có nghĩa là ghe thuyền. Ainu ngữ chip chỉ ghe thuyền. Ta thấy rất rõ chip liên hệ ruột thịt với Anh ngữ ship (ghe thuyền, theo c=s). Ngoài ra Ainu ngữ chip cũng dùng như một tiếng lóng chỉ âm đạo: chip, a slang word for the vagina (Rev. John Batchelor, Aini-English-Japanese Dictionary, Tokyo, 1905).

Ang ngữ ship phát sinh từ Tiền-Germanic *skipam (họ hàng huyết tộc: Cổ Norse, Cổ Saxon, Cổ Frisian, Gothic skip, Đan Mạch skib, Thủy Điển skepp, Hòa Lan schip, Đức schiff). Được cho là có nguồn gốc có lẽ là ‘tree cut out or hollow out’ có gốc từ PIE *skei- ‘to cut, split’(cắt, xẻ). Như đã nói ở trên, theo s = k = ch, ta *skei-’ = chẻ, xẻ. Rõ như ‘con cua tám cẳng hai càng một mai hai mắt rõ ràng con cua’ là ship có gốc nghĩa là xẻ, chẻ, khoét ra từ thân cây, là nốc, là đốc, là ghe, là khe, là Ainu ngữ chip (ghe, nốc, bộ phận sinh dục nữ). Ta thấy rất rõ ship = *skei- = chẻ, xẻ = ghe.

Vì thế mà ship có giống cái ‘she’.

Ta cũng thấy ‘she’(nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba, giống cái) có ke, có khe, có kẽ, có ghe. Trong khi theo h=k như hết = kết, thì Anh ngữ he (nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba, giống đực) có ke, có kẻ, có que.

.nốc, dốc, đốc, đóc

Nốc là cổ ngữ Việt chỉ thuyền, ghe. Ngày nay chỉ thuyền nhỏ, còn dùng ở miền bắc Trung Việt:

        Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

                                (Tục ngữ).

Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Hay

        Một trăm chiếc nốc chèo xuôi,

        Không có chiếc mô chèo ngược, để tôi gởi lời viếng thăm.

(Hát đò đưa Nghệ Tĩnh).

Hay

        Đêm khuya thắp ngọn đèn chai,

        Quen o nốc đáy, ăn hoài cá tươi.

(ca dao).

Nguyên thủy nốc cũng làm từ một thân cây khoét rỗng. Nốc liên hệ với Anh ngữ nog (cái chốt bằng khúc cây), log (thân cây). Nốc là ghe cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nữ. Theo n=l, nốc = lốc, lốc cũng chỉ bộ phận sinh dục như thấy qua câu ca dao:

Cô lô cô lốc,

Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.

Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng nghĩa gốc. Từ hiện kim lốc là dạng nam hóa của nốc (giống như của ). Ta cũng thấy Anh ngữ nog (nọc, chốt cài bằng khúc cây) biến âm với log (thân cây) giống như Việt ngữ nốc với lốc.

Như thế nguyên thủy nốc là một loại thuyền độc mộc. Cổ ngữ Việt cũng có từ dốc, đốc chỉ thuyền. Trong Từ Điển Việt Bồ La có từ dốc chỉ cơ quan sinh dục đàn bà. Theo n = d như này = đây, ta có nốc = dốc, đốc. Đốc cũng chỉ cơ quan sinh dục đàn bà thấy rõ qua từ mồng đốc chỉ hạt tình (clitoris).  Mồng đốc là cái mồng thịt ở cái đốc, cái nốc phái nữ.

.tè he, tè hẻ

Ta nói ngồi tè he, tè hẻ ra. Tè biến âm của thè là lòi ra, đưa ra như thè lưỡi. Ngôì tè he, tè hẻ là ngôi phơi cái he cái hẻ ra. Theo h= k (hết = kết), ta có he = ke = khe = kẽ. Theo h=c =ch, ta có hẻ = chẻ, xẻ. Ngồi te he, tè hẻ ngôi phơi cái ke, cái khe, cái kẽ, cái ghe, cái chẻ, cái xẻ (slit) ra.

3. Những từ với nghĩa khác

.trôn

Nói chung chỉ phần cuối (trôn ốc), kể cả phần cuối của thân người, chỗ để ngồi tương tự như đít ví dụ nước đến trôn mới nhẩy nên cũng có một nghĩa bao gồm cả bộ phận sinh dục nữ như bán trôn nuôi miệng, lỗ trôn.

Ta có trôn = throne, chỗ ngồi của thần thánh ở cõi trời, của vua chúa, phát sinh từ Latin thronus, Hy Lạp thronos ‘chỗ ngồi cao, ghế, ngai’ = Pháp ngữ trône = Nga ngữ tron .

Theo tr = d như trúng = đúng, ta có trôn = đòn, cái đòn kê để ngồi, nguyên thủy là một khúc cây dùng để ngồi = Hán Việt đôn, vật để ngồi, thường bằng sành, sứ.

.củng

Cái váy của phụ nữ miền Bắc còn gọi là cái củng. Củng biến âm với cunt (lỗ háng phái nữ, hang hố, con gái, đàn bà). Củng là cái váy, cái vây, cái quây, cái quấn che cunt.

NHỮNG TỪ CHỈ BỘ PHẬN SINH DỤC NAM

Anh ngữ

.penis

Có lẽ từ Pháp nữ pénis hay trực tiếp từ Latin penis, có nghĩa sớm là ‘tail’ (đuôi), phát gốc từ PIE *pes- ‘penis’ (họ hàng huyết tộc: Phạn ngữ pasas-, Hy Lạp peos, posthe ‘penis’.

Penis ruột thịt với pen, viết, bút, với pencil, cây cọ lông, Cổ ngữ Pháp pincel, Pháp hiện kim pinceau, từ Latin penicillus, nghĩa đen ‘cái đuôi nhỏ’, cha đẻ ra bút chì hiện nay.

.rod

Cổ ngữ Anh rodd, cọc, sào, có lẽ họ hàng với Cổ Norse rudda ‘chùy’, phát từ Tiền-Germanic *rudd-, gậy, chùy. Có một nghĩa chỉ penis.

.verge

Cổ ngữ Pháp verge ‘cành, nhánh cây, que thước đo, roi, bộ phận sinh dục nam’; Latin (chồi mầm, roi, vọt, gậy, cành) nguồn gốc không rõ.

.cock

Gà trống, Cổ ngữ Anh cocc, chim trống, Cổ ngữ Pháp coc, hiện kim coq, Cổ Norse kokkr. Có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam.

.queue

Có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nam, phát sinh từ Pháp ngữ queue, đuôi, Cổ ngữ Pháp cue, coe, đuôi, Latin coda, cauda đuôi, nguồn gốc không rõ.

.choad

Penis , tiếng lóng của thanh thiếu niên Mỹ, có nguồn gốc không rõ, có tác giả cho là do Navajo chodis ‘penis’ (Cassell’s Dictionary of Slang 2005) hoặc từ Hindi, Bengali hoặc Gujarati có nghĩa là giao hợp (New Hacker’s Dictionary, 1996).

Việt ngữ

Việt ngữ có những từ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ, lõ, ke, que, buồi, cặc, chông, chim, cò, cu… Nhìn chung những từ chỉ bộ phận sinh dục nam có nghĩa là “vật nhọn” như nọc, cọc, que, roi, dùi…

 

1. với nghĩa nọc, cọc, que

.nõ                                

Tiếng cổ Việt nõ chỉ bộ phận sinh dục nam như nõ nường (nọc nòng). Nõ là cây cọc, cây nọc như đóng cọc mít cho mau chín gọi là đóng nõ mít. Nõ nam hóa thành lõ. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ “lõ”: ‘làm dương vật cương lên như khi con vật giao cấu. Blỏ cùng một nghĩa’ và có từ “lô”, “con lô”: ‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Hiển nhiên lõ, lô là biến âm của nõ. Lõ trong tiếng Việt hiện kim chỉ vật gì đâm ra như cây cọc nhọn ví dụ mũi lõ, cặc lõ hay lõ cặc. Có phương ngữ nói là cặc lỏ (dấu hỏi). Theo l=n, lỏ = nỏ, vật bắn mũi tên (một thứ nọc, cọc nhọn). Thời cổ con người dùng cây nõ, cây cọc nhọn đâm thú vật mãi về sau mới phát minh ra cây nỏ, cây ná bắn mũi tên. Ta thấy cây nõ đẻ ra cây nỏ, cây ná.

Ở đây ta thấy lõ (dấu ngã) và lỏ (dấu hỏi) theo hai cách nói và viết với hỏi ngã khác nhau của hai phương ngữ khác nhau đều đúng cả, chỉ có từ này cổ hơn từ khác mà thôi. Theo tôi, tôi chọn cách viết theo dấu ngã dựa vào các lý lẽ sau đây:

./ gốc nõ (cây cọc) cổ hơn nỏ (vật bắn cọc nhọn), cây nõ đẻ ra cây nỏ.

./ theo cách giúp trí nhớ về hỏi ngã mà chúng ta thường nghe nói tới là “(Chị) Huyền ngã nặng, hỏi sắc (thuốc) không?” thì dấu ngã (lõ) đi với dấu nặng (cặc).

./ta thường viết mũi lõ rồi thì viết cặc lõ cho nó  thuận chiều với nhau.

.nọc

Heo nọc là heo đực.

.cọc

Cọc chỉ bộ phận sinh dục nam như thấy qua thơ Hồ Xuân Hương:

        Quân tử có thương thì đóng cọc,

        Xin đừng mân mó nhựa ra tay.

                (vịnh Quả Mít).

Hay

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

                        (vịnh Cái Đu).

Như đã biết, Anh ngữ cock gà sống, Cổ ngữ Anh cocc, Pháp ngữ coc, coq cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam, có coc– chính là cọc. Gà sống coc, cock là gà cọc, gà nọc.

Albanian kotsh (rod, stalk, que, roi, cọng cây, Berneker 536).

Như đã nói ở trên , Anh ngữ choad ‘penis’, tiếng lóng của thanh thiếu niên Mỹ, có nguồn gốc không rõ, có tác giả cho là do Navajo chodis ‘penis’ hoặc từ Hindi, Bengali hoặc Gujarati có nghĩa là giao hợp.

Ngoài ra, ta c ũng thấy Mã Lai ngữ (bang Riau Johor) chok chỉ bộ phận sinh dục nam. Ta thấy choad, chodis, chok = chóc (chim) có một nghĩa chỉ giống phái nam (cả Việt và Ấn Âu ngữ), với h câm, choad, chodis = cọc.

Với nghĩa giao hợp choad biến âm với Việt ngữ chọc (thọc).

Cũng nên biết Navajo liên hệ mật thiết với Cổ Việt (sẽ có bài viết riêng) và Hindi, Bengali liên hệ nhiều với Phạn nên dĩ nhiên liên hệ với Ấn Âu ngữ và với Việt ngữ.

.cặc

Trung Nam gọi bộ phận sinh dục nam là cặc. Cặc là biến âm của cược, cọc như tiền đặt cọc là tiền đặt cược (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị).

Từ cặc liên hệ với những từ chỉ bộ phận sinh dục nam của Tây Ban Nha carajo, Latin dân dã caracium, Hy Lạp karas (pointed stake, cọc nhọn, REW. 1862) có car– là cặc; với Bretonkalc’h, Cornish cal, Welsh col (sting, ngòi, nọc), Ái Nhĩ Lan colg (sword, gươm, kiếm, Pederson 1.105), giáo hội Slavic kocanu (c và u có dấu ă), Phạn ngữ kaprt(h)– (r có chấm ở dưới) (Walde –P. 1.348, 2.49).

.chông

Chông là cái cọc nhọn cũng chỉ bộ phận sinh dục nam:

. . . .

Thịt chó tiểu đánh tì tì,

Bao nhiêu lỗ tội tiểu thỉ cắm chông.

Nam mô xứ Bắc xứ Đông,

Con gái chưa chồng thì lấy tiểu tôi.

(ca dao).

Chông cùng vần với chống là cái que, cái nọc để đỡ vật gì, với trống là đực với chồng là người có chông, có chống là người trống. Trong khi đó vợ biến âm với vỏ là cái bao, cái bọc, cái túi. Vợ biến âm với vở. Nguyên thủy giấy vở làm bằng vỏ cây. Vợ biến âm với vớ (sock) là cái bao, cái túi bọc chân. Vợ biến âm với vờ (Mayfly, éphemère) là loài phù du chỉ sống trong một khoảnh khắc vào lúc bình minh. Tục ngữ có câu “xác như vờ” là vậy. Vờ là vỏ là xác. Tóm lại vợ là cái bao, cái bọc, cái túi, cái nang, cái nàng, cái nường tức nòng. Còn chồng là cái chông, cái chống, cái nọc, cái cọc, cái nọc. Vợ chồng là nòng nọc âm dương (xem Dịch Lý và Việt Ngữ).

. ke, que

Như đã nói. trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ ke mang lưỡng tính phái chỉ bộ phận sinh dục nữ và nam. Theo duy dương, ke biến âm với kẻ (kèo nhỏ, thước kẻ), với que chỉ bộ phận sinh dục nam. Ta có từ gà qué. Qué là biến âm mẹ con của que. Con qué là con que, con cọc, con gà sống, gà trống. Trống biến âm của chống là que, nọc đỡ vật gì. Sống cũng có một khuôn mặt biến âm của chống. Theo s =ch như sửa chữa, ta có sống = chống. Với nghĩa chống ta thấy rõ qua từ xương sốngxương chống thân người. Xương chống giữ vai trò của cây cột chống đỡ vì thế còn gọi là cột sống. Gà sống, gà trống là gà chống, gà chông, là gà qué, gà que gà nọc, gà cọc, gà cock.

.roi

Là một thứ que, vọt, Anh nhữ rod (que, vọt), Hòa Lan ngữ roed (penis) có một nghĩa là penis. Ta có rod, roed = roi.

.vọt

Cùng nghĩa với roi. Roi vọt. Pháp ngữ verge, Latin virga, vọt có một nghĩa là penis, có ver-, vir– = vọt.

2. với nghĩa vật nhọn

.buồi

Miền Bắc dùng từ buồi chỉ bộ phận sinh dục nam không dùng từ cặc. Buồi biến âm với bổ, búa (búa đây là búa có mỏ nhọn tức búa chim) cũng là vật nhọn.

Buồi liên hệ với Anh ngữ bur (mũi khoan), ebur (ngà voi), spur (mấu nhọn như cựa gà, mấu nhọn ở gót giầy để thúc ngựa). Buồi nói trại thành ‘bòi’: trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ bòi:‘cơ quan sinh dục của đàn ông’. Buồi ngày nay cũng nói trại đi thành ‘bòi’ như “Đứa nào cười tớ nó ăn bòi”. Buồi, bòi liên hệ với Anh ngữ boy (con trai). Thằng “boy” có bòi, có buồi.

Nhìn chung buồi là bổ, búa, vật nhọn liên hệ với gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ *pes-, *pesos– ?(Walde-P. 2.68, Ernout-M 7520) chỉ penis.

3. với nghĩa chim, cò, cu.

Dưới một góc cạnh, chim cò, cu có mỏ nhọn biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam. Anh ngữ có từ lóng pecker (‘cái mổ’) chỉ penis ruột thịt với Anh ngữ beak, Pháp nhgữ bec là mỏ. Theo biến âm ch= k như chặt = cắt, chim = kim (vật nhọn). Ta có từ ghép đồng nghĩa chim chóc. Chóc là chim. Tày-Thái ngữ chốc là chim. Với h câm chóc = cóc = cọc. Thái Lan ngữ nok là chim. Nok là nọc. Cò biến âm với cồ là đực. Đực biến âm với đục (chisel), vật nhọn. Đực là nọc như heo đực là heo nọc. Tục ngữ có câu:

    Cơm no, cò đói.

Câu này cùng nghĩa với câu:

No cơm, ấm cật,

Rậm rật tối ngày.

Cu biến âm với cò, cồ. Chim cu biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam:

                Mù u, ba lá mù u,

                Vợ chồng cãi lộn, con cu giải hòa.

(ca dao).

Con trai nhỏ thường gọi là thằng cu. Như thế chim, cò, cu có gốc từ vật nhọn, kim, nọc, cọc nên biểu tượng cho dương, bộ phận sinh dục nam.

Tóm lại, qua những từ chỉ bộ phận nam nữ ta thấy có những điểm quan trọng cầm lưu tâm như sau:

-Lồn hiện kim có gốc từ cổ ngữ nường, nòng là cái bao cái túi, cái bọc liên hệ tới Nòng. Mặt khác buồi và cặc tuy là hai từ khác nhau nhưng đều có nghĩa gốc là vật nhọn, nọc. Như thế những từ chỉ bộ phận sinh dục nữ, nam phổ thông hiện nay đều mang nghĩa nòng nọc (âm dương). Điểm này cho thấy Dịch lý giữ một vai trò cốt yếu trong tiếng Việt nói riêng và trong văn hóa Việt nói chung. Ta thấy rõ bai chữ cái nòng (O) và nọc (I) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có gốc từ bộ phận sinh dục nữ và nam.

. đuôi

Anh ngữ penis phát sinh từ pencil có nghĩa gốc là  đuôi, sau có nghĩa cây cọ, cây bút, viết, viết chì, nguyên thủy làm bằng lông ngựa nên trông giống như một cái đuôi nhỏ. Thuốc penicilline làm từ nấm mốc penicillus, dưới kính hiển vi có hình que trên đầu toả ra như chùm lông. Pencil với nghĩa gốc đuôi trông giống bộ phận sinh dục nam có chùm lông nên dùng chỉ penis.

Bút là bót, vót; viết là vót, vọt, que vót nhọn, nguyên thủy cái que vót nhọn dùng làm viết vạch lên đất sét (chữ nêm Hittite), đá mềm.

Việt ngữ đuôi cũng chỉ bộ phận nam như thấy qua câu ca dao:

Chồng người đi ngược về xuôi,

Chồng em ngồi bếp lòi đuôi ra ngoài.

NHỮNG TỪ CHỈ LÀM TÌNH

Những từ phổ thông chỉ làm tình miền Bắc có những từ như địt, đéo, lẹo (loài vật), phủ…, Trung Nam có từ đụ.

. địt

Miền Bắc dùng từ địt chỉ làm tình, trong khi đó Trung Nam từ địt chỉ đánh hơi (Miền Bắc nói đánh hơi là đánh rắm).

-Địt là làm tình.

Theo biến âm đ=d như đa = da (cây), ta có địt = dịt. Từ dịt có một nghĩa là dính vào nhau, dán dính vào, buộc vào nhau như dịt thuốc vào vết thương. Theo d = r (dăng = răng), dịt = rịt, rít. Rít có nghĩa là dính như rít rịt. Theo d = ch như  giăng = chăng, dịt = chịt, chít. Chằng chịt là cột cứng bằng nhiều dây rợ qua lại nhiều lần. Chít khăn là cột, quấn khăn. Theo d = n như dăm = năm, ta có dịt = nịt. Nịt là dây, đai, thắt lưng; nai nịt là cột người bằng thắt lưng, bằng dây. Như thế địt chỉ làm tình có nghĩa là dính vào nhau, cột vào nhau. Ta thấy rất rõ miền Bắc có từ đi tơ chỉ loài vật (thường là chó) giao hợp với nhau. Tơ là sợi dây. Đi tơ là cột vào nhau như cột bằng sợi tơ, sợi dây.  Địt liên hệ với Mon dit, Chàm dik, làm tình (Nguyễn Hy Vọng), Phi Luật Tân Tagalog dikit, joined, Paiwan d’ekets (e ngược), to stick, gốc Uraustronesisch Dempwolff’s construction *deket (e ngược), to stick (Davidson). Rõ nhất là địt và Tagalogdik-, joined có nghĩa là nối với nhau, giao nhau cùng nghĩa với giao hợp. Địt liên hệ với Phạn ngữ snit, to love, yêu, có -nit là địt (n=đ như này = đây). Phạn ngữ snit biến âm với Phạn ngữ snih, attached, đính vào, cột vào. Rõ như ban ngày địt biến âm với dịt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ snit, snih.  Ngoài ra địt cũng liên hệ với Phạn ngữ nidhuvana, sexual intercourse, làm tình.  Rõ như “Con cua tám cẳng hai càng, Một mai hai mắt rõ ràng con cua” là địt  liên hệ với phần đầu nid- của Phạn ngữ nidhuvana. Nid- = nịt = địt.

-Địt là đánh hơi

. địt, rít

Ta có từ đôi rắm rít. Đánh rắm, đánh rít.

Theo biến âm đ = r như đôm đốp = rôm rốp (tiếng kêu),  ta có địt = rít. Từ rít có một nghĩa là tiếng kêu do hơi thoát qua một ống hay một lỗ nhỏ như ấm nước sôi rít lên, còi tầu hỏa hay tầu thủy (chạy bằng hơi nước) rít lên từng hồi. Rít liên hệ với Phạn ngữ ri là rít, là rú lên. Ta có từ ghép rên rỉ với từ rỉ chính là Phạn Ngữ ri (các nhà ngữ học hiện nay cho rằng rên rỉ là tiếng láy với thành tố láy rỉ vô nghĩa là sai). Như thế đánh địt, đánh hơi là đánh rít.

Rõ nhất là rít, địt liên hệ ruột thịt với Phạn ngữ dhish, to emit sound (phát ra tiếng kêu).

.rắm

Người Bắc nói đánh hơi là đánh rắm, đánh rítrắm rít.

Từ rắm rít là một từ ghép điệp nghĩa, rít có nghĩa là tiếng kêu thì rắm cũng phải có nghĩa là tiếng kêu. Thật vậy, rắm biến âm với rầm chỉ tiếng kêu như rầm rì, rầm rầm. Hiển nhiên đánh hơi cũng kêu thành tiếng. Trong một truyện tiếu lâm ví tiếng đánh hơi như tiếng sấm rầm rầm hay sấm gầm. Theo r = g như  rợn = gợn (sóng) ta có rầm = gầm. Trong một buổi ngự triều, một vị vua đang ngủ gà ngủ gật, một ông quan lỡ đánh “bụp” rầm một tiếng làm vua giật mình thức dậy, hoảng hốt, vua hỏi “Cái gì kêu vậy?” Vị quan lanh miệng đáp: “Bẩm Thượng Hoàng, sấm kêu!”. Vua vặn lại “Sấm kêu sao lại thối?” Vị quan chữa lại “Dạ có con cóc chết!”. Vua thắt mắc: “Cóc chết sao lại kêu?”. Vị quan giải thích: “Sấm kêu làm cóc chết!”. Vua giận “Cóc kêu gọi sấm thì làm sao sấm làm cóc chết được”.  Rồi ra lệnh lôi vị quan ra chém đầu, nghi vị quan này muốn ám sát mình.

Rắm liên hệ với Anh ngữ rap ‘a quick, light blow’ (thổi nhanh và nhẹ) và cũng là ‘a fart’ (đánh hơi), nguyên gốc hay vay mượn từ Scandiavia (Đan Mạch rap, Thụy Điển rapp ‘light blow’). Theo biến âm kiểu rậm rạp, ta có rắm = rap.

Như thế ta thấy rất rõ hai từ địt của miền Bắc và Trung Nam là hai từ đồng âm dị nghĩa.

.phà thối

Anh ngữ đánh hơi gọi là to fart liên hệ với Phạn ngữ pard (to fart), Hy Lạp ngữ là perdo, Old High German là ferzan, PIE *pezd- ‘to fart’. Các từ này có gốc fa-, pa-“ liên hệ với Việt ngữ phà là xì ra hơi, nhả ra hơi như phà ra hơi, phà khói, phì phà điếu thuốc và gốc pe-, fe– liên hệ với Việt ngữ phèo như thấy qua từ ghép phì phèo, với Hán Việt phế là phổi (phổi là cơ quan hô hấp phì, phà ra hơi…). Việt ngữ có từ phá thối nếu hiểu theo nghĩa thô tục thì gần cận với từ phà thối.

. đéo, lẹo.

Miền Bắc cũng thường dùng từ đéo chỉ làm tình như giai thoại “đá bèo” (nói lái lại là ‘đéo bà”) của Trạng Quỳnh và thơ Cao Bá Quát có câu:

        Hai hồi trống giục, đù cha kiếp,

        Một lưỡi gươm đưa, đéo mẹ đời.

Đéo biến âm với đeo, có nghĩa là bám cứng vào nhau, dính chặt vào nhau như “đeo như đỉa đói”. Đéo biến âm với “đèo” là chở nhau, ôm nhau, cõng nhau như đèo bòng tức đèo bồng (bồng là bế, bồng bế”). Đéo cũng biến âm với neo, vật có móc thả xuống nước để giữ tầu thuyền đứng một chỗ, với néo, hai khúc cây nối bằng một khúc dây dùng “neo” bó lúa để đập lúa. Néo hàm nghĩa cột cứng vào nhau (cùng nghĩa với nai, nịt, địt). Néo liên hệ với Anh ngữ nail, vật nhọn dùng đóng chặt hai vật vào nhau. Nguyên thủy neo, nailnêu, cọc nhọn. Như thế từ đéo cũng có nghĩa giống như từ địt làm tình là dính vào nhau, cột vào nhau. Từ đéo biến âm với đeo, đèo, néo nghiêng nhiều về hình ảnh bám chặt vào nhau, ôm nhau, cõng nhau thường thấy nhiều ở loài vật khi giao cấu với nhau như hai con sam khi giao hợp ôm cứng nhau nên tục ngữ có câu “đeo như sam”, cóc ếch khi giao cấu ôm nhau, cõng nhau, đèo nhau… Theo biến âm đ = l như đãng tai = lãng tai, ta có đéo = lẹo. Lẹo cũng có nghĩa là làm tình như con đó với thằng đó lẹo tẹo với nhau. Hai con chó giao cấu với nhau thường nói là “mắc lẹo”.

Đéo, lẹo cùng nghĩa với Pháp ngữ coit, giao hợp, gốc Latin coitus ‘going together’, coire ‘to go together’ (đi cùng nhau, đồng hành).

. đụ

Trung Nam nói làm tình là đụ. Ta thấy có thể:

-Đụ là biến âm với đu có một nghĩa là bám cứng như đeo, với đâu (nối lại như đâu lại với nhau) cũng hàm nghĩa như từ địt của miền Bắc. Theo t = n như túm = núm (nắm, bắt) ta có địt = địn. Địn là từ nói trại đi của địt. Ta có từ đụn địn là từ nói trại đi của hai từ đụ địt. Địa khai ngôn ngữ đụn địnđụ địt còn đào tìm thấy qua bài đồng dao sau đây:

Mười rằm trăng náu,

Mười sáu trăng treo,

Mười bẩy sẩy chiếu,

Mười tám rám trấu,

Mười chín đụn địn,

Hai mươi giấc tốt

. . . . . .

“Mười bẩy sẩy chiếu” là đêm mười bẩy sải chiếu, trải chiếu.“Mười tám rám trấu” là đêm mười tám đốt trấu làm lò sưởi đã cháy rám, đã cháy nám, đã bén cháy. Tất cả đã sửa soạn sẵn sàng xong, “Mười chín đụn địn” là đêm mười chín đụn địn, tức là làm tình đụ-địt. Các tác giả hiện nay thường giải thích “né tránh” cho khỏi thô tục cho đụn địn có nghĩa là “đi ngủ”. Từ ngủ cũng có nghĩa là làm tình như “con đó ngủ với nhiều thằng”. “Hai mươi giấc tốt” là đêm hai mươi ngủ ngon. Rõ ràng đêm mười chín đâu có ngủ, suốt đêm thức lục đục lo “đụn địn” nên đêm hôm sau mới lăn ra ngủ, mới có “giấc tốt”. Ngoài ra làm tình là liều thuốc ngủ thiên nhiên tốt nhất.

-Đụ là dạng giảm thiểu của đục. Từ đục bị đục bỏ chữ “c” cuối còn lại “đụ”. Đục chỉ động tác làm tình. Theo biến âm đ = th (đủng đỉnh = thủng thỉnh), ta có đục = thục, thúc, thọc, thụt, thọt liên hệ với Anh ngữ thrust, chỉ động tác làm tình.

.phủ

phủ là che đậy. Phủ cũng chỉ nghĩa giao cấu, giao hợp với nghĩa người, con vật đực phủ lên trên con cái (vì thế có người cho rằng từ chồng có nghĩa là người ‘chồng’ lên trên người vợ!). Trong truyền thuyết có truyện thuồng luồng “phủ” người (Làng Ngãi ở Bắc Việt có tục thờ bà Phạm Ngọc Dong. Bà đã được thuồng luồng phủ và sinh ra một bọc trứng nở ra Đại Hải Long Vương. Ông này sau làm tướng giúp  vua Hùng đánh thắng quân Thục bằng các quân lính hoàn toàn là loài thủy tộc).

Anh ngữ fuck ‘until recently a difficult word to trace’ (cho tới gần đây là từ khó truy tìm gốc). Ta thấy fuck biến âm với phủ. Theo biến âm kiểu phủ phục, ta có phủ = fuck.

.dập

Dân dã Việt nói dập (rập) là phủ, giao hợp. Việt ngữ cũng có từ vùi dập như vùi dập đời hoa, cô đó bị thằng đó vùi dập. Dập chính là Anh Ngữ tup (cừu đực phủ cừu cái), rõ như ban ngày tup = dập.

Theo d=l, dập = lấp, lắp (vùi dập = vùi lấp). Lắp cũng có nghĩa là làm tình, “lắp là giao cấu với đàn bà” (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode). Hồi thời Tây càn quét, lính đánh thuê Lê Dương hãm hiếp đàn bà con gái, còn đàn ông thì bị “lắp” đít.

…….

Tổng kết về các từ thân người.

Trong nhóm từ về thân thể con người, ngoài những từ căn bản quân bằng bền trong nhóm một trăm từ của Morris Swadesh và 15 từ căn bản ổn định nhất của Dolposky ta đã thấy gần như hầu hết đã liện hệ ruột thịt qua biến âm mẹ con với Việt ngữ, tôi còn so sánh thêm những từ thân người còn lại từ đầu tới chân và cũng thấy có nhiều từ liên hệ qua biến âm mẹ con và phần còn lại đều có cùng nghĩa ngữ hay có thể giải nghĩa bằng một từ Việt ngữ cùng âm cùng nghĩa. Trong nhiều trường hợp các từ Ấn Âu ngữ có nghĩa gốc nghĩa không rõ ta có thể dùng Việt ngữ truy tìm ra được và ngược lại.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: