SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 18) NHỮNG NHỮNG TỪ THÂN THỂ: NỘI TẠNG.

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 18)

QUA NHỮNG NHỮNG TỪ THÂN THỂ

 

c. NỘI TẠNG.

Nguyễn Xuân Quang

 

.TIM

Đã viết.

.Dạ Dầy

Ấn Âu ngữ

-gastro- (tiền tố Hy Lạp), dạ dầy, bao tử.

gốc Hy Lạp gastro-, của dạng gaster ‘belly, paunch’.

-paunch

Phát từ cổ ngữ Pháp pance, Cổ ngữ Bắc Pháp panche ‘belly, stomach’, Latin panicem ‘belly, bowels, Tây Ban Nha panza, Ý pancia; có lẽ liên hệ với panus ‘swelling’ (phồng, phình).

-maw

Anh ngữ “maw”, một ngăn túi đựng thức ăn trong dạ dầy nhiều túi của loài nhai lại.

Cổ ngữ Anh maga ‘stomach’ (người và vật, Anh ngữ hiện kim chỉ dùng cho loài vật). phát từ gốc Tiền-Germanic *magon ‘bag, stomach’ (họ hàng: Cổ Frisian maga, Cổ Norse magi, Đan Mạch mave, Hòa Lan maag, Đức magen ‘stomach’, có nguồn cội từ PIE *mak- ‘leather bag’ (họ hàng: Cổ Giáo Hội Slavonic mośina ‘bag, pouch’.

Như thế trong Ấn Âu ngữ dạ dầy có nghĩa gốc là túi, bao, dạ.

.Việt ngữ

-Dạ dầy

./dạ biến âm với da. Da là cái bọc kín bao che thân người. Thái Lan ngữ nang, da. Việt ngữ nang là bọc, túi. Hán Việt bì là da. Bì có một nghĩa là bao, bọc ví dụ cân trừ bì là cân trừ bao, trừ bọc. Vũ trụ hư không là một cái bọc, cái túi vì thế mà chúng ta cũng dùng từ da cho bầu trời ví dụ như màu xanh da trời.

Dạ cũng có nghĩa túi đẻ con, dạ co như chuyển dạ là chuyển bụng đẻ; con dạ là con đẻ sau con so; Mường ngữ dạ chỉ đàn bà có con, mẹ. Dạ Dần là Mẹ Người, Mẹ Tổ của Mường Việt.

./Gốc gastro -, gaster, tính từ gastric phát từ gốc Phạn ngữ ja-, đẻ ví dụ saroja là “đẻ dưới nước” chỉ hoa sen. Saroja có sa- ruột thịt với sả có nghĩa là nước, liên hệ tới nước ví dụ cỏ sả (lemon grass) là “cỏ nước”, thứ cỏ dùng nấu nước uống (trà sả), gội đầu, tắm. Ta có ja = dạ.

Ta cũng có ja- = ga- như garbha ‘the womb’, dạ con. Như thế gastro-, (dạ dầy) có ga- = ja- = dạ.

./Anh ngữ maw, như đã nói ở trên, có nguồn cội từ PIE *mak- ‘túi da’ (theo m =b, mak- = bag) liên hệ với Việt ngữ mo là cái bọc, cái bao như mo nang là cái bọc hoa cau (Mường ngữ nang là cau). Rõ nhất như đã thấy ở trên Cổ Giáo Hội Slavonic mośina ‘bag, pouch’ có mo- = Việt ngữ mo.

./Pháp ngữ peau, da đọc là /pô/ biến âm với “mô” (p=m). Peau là “mô”, là mo, là bọc, bao. Mo nang là cái bao, cái bọc hoa cau. Peau là mo, là nang, là da (bọc túi nang).

Dạ dầy là túi đựng thức ăn. Dầy ở đây không phải là dầy mỏng. Dạ dầy không phải là cái túi dầy túi mỏng. Dầy nói trại của từ đẫy là cái túi, bọc bằng vải. Dạ dầy là dạ đẫy, chỗ ruột như túi, đẫy chứa thức ăn. Ta có một loài chim có cái bìu rất lớn gọi là chim già đẩy, thật ra tên nó là chim dạ đẫy tức chim có cái túi bìu như cái đẫy.

Ta thấy rõ như hai năm là mười là dạ dầy là cái túi đựng thức ăn, là dạ đẫy = gốc Hy Lạp gastro- (dạ dầy) = gốc Phạn ja-, gar-.

-Biều, bìu (dái), bườu.

Biều, bườu là túi đựng thức ăn của loài chim, bìu là túi, bọc đựng trứng dái (bìu dái).

Ta có biều, bườu, bìu = bao, bầu, bào có một nghĩa là bao, bọc, túi.

Theo b=p, ta có biều, bườu = paunch ‘belly, stomach’.

Ta cũng thấy rõ pau- = bầu, bao.

Một lần nữa ở đây Việt ngữ cho thấy rõ nguyên nghĩa chính xác của paunch là bao, bọc túi trong khi theo các nhà tâm nguyên ngữ học Tây phương cho là paunch có lẽ liên hệ với panus là ‘swelling’.

.Gan

Đã viết.

.Mật

mật (gan) ở đây là mật đắng do gan tiết ra.

Đã viết một phần ở từ Liver (gan) (xem thêm Liver).

Ấn Âu ngữ

-bile

phát từ Pháp ngữ bile ‘mật, cũng có nghĩa là tức giận’, Latin bilis ‘fluid secreted by the liver’ và cũng có nghĩa ‘anger (tức giậ), peevishness’ (nóng giận) (đặc biệt là ‘mật đen’).

-choler

‘bile’, một trong các tạng dịch được cho là gây ra irascibility (tính hay dễ giận) hay temper (phẫn nộ), phát từ Cổ Pháp colère ‘bile, anger’, Latin Muộn cholera ‘bile’.

-gall

‘bile’, Cổ Anh ngữ galla (Anglian), gealla (West Saxon), phát từ Proto-Germanic *gallon- ‘bile’ (cùng huyết tộc: Cổ Norse gall, Cổ Saxon, Old High German galla, Đức galle), có gốc PIE* ghel ‘to shine’ , sáng, óng ánh (với các từ chuyển hóa chỉ các chất, vàng và  mật). Nghĩa không chính thức ‘impudence’ (trơ trẽn, mặt dầy mày dạn), boldness (can đảm, gan dạ) (1882) nhưng với nghĩa ‘embittered spirit’ (cay đắng, đau lòng, tức bực), ‘rancor’ (oán hờn, thù hận) (từ năm 1200) dựa theo lý thuyết trung cổ về tạng dịch (humors). Chỉ túi mật vào năm 1670.

-choler

Phát từ Hy Lạp ngữ khole ‘gall, bile’, kholos ‘bile’, khloazein ‘to be green, từ khoros ‘greenish-yellow’.

(chlorophyll, lục diệp tố), khloe ‘chồi non xanh’, có gốc PIE *ghlo-, biến dạng của *ghel- như đã nói ở trên chỉ chất và vàng (Đức ngữ gelb ‘yellow’). Latin galbus ‘greenish-yellow’…

Cũng xin nhắc lại trong Ấn Âu ngữ theo Buck có sự hoán đổi từ ngữ giữa vàng và xanh lá cây ‘có lẽ vì chúng chỉ thực vật như cỏ, mễ cóc… chúng thay đổi từ mầu xanh lá cây qua mầu vàng’.

-cholera

‘bile, melancholy’, có cùng gốc với choler, phát từ Trung Cổ Pháp ngữ cholera hoặc trực tiếp tứ Latin Muộn cholera, từ Hy Lạp ngữ kholera ‘chứng bệnh tiêu chảy’, lúc đó cho là do choler gây ra. Tuy nhiên khole còn có một nghĩa là ống cống, ống máng. Với nghĩa này chỉ chứng tiêu chẩy xối xả như nước trong người chẩy ra cống rãnh, Việt ngữ có từ ‘tháo dạ’. Cholera Việt ngữ gọi là bệnh thổ tả, hay dịch tả.

-melancholy

Năm 1300 chỉ trường hợp ‘sullenness (buồn rầu, phiền muộn), gloom (u sầu, ảm đạm), irritabily (tính dễ nổi giận, nổi xung)’, phát từ Cổ ngữ Pháp melancolie ‘black bile, ill disposition, anger, annoyance’ (thế kỷ13), từ Latin Muộn melancholia, Hy Lạp ngữ melancholia ‘saddness’ (buồn, buồn bã)  nghĩa đen là do quá thặng dư mật đen (melas, melanos là đen). Sinh lý học thời Trung Cổ cho rằng chứng trầm cảm (depression) là do thặng dư mật đen tiết ra từ lá lách (spleen) và là một trong bốn tạng dịch của thân thể con người.

Việt ngữ dịch là ưu sầu, u uất, sầu muộn, buồn man man mác, buồn vu vơ….

-cholesterol

chỉ chất đặc trắng trong các mô thân thể (1894), phát từ Pháp ngữ cholestrine (Chevreul 1827), từ Hy Lạp ngữ khole, mật và steros ‘đặc, cứng). Sở dĩ gọi như vậy vì nguyên thủy chất này thấy trong sạn mật. Tên đổi qua dạng hiện kim là cholesterol với tiếp vĩ ngữ -ol chỉ chất thuộc nhóm rượu.

Việt ngữ

-mật

Việt ngữ mật có hai thứ:

.mật ngọt

như mật mía, đường mật, mật ong. Mường ngữ mệch ngoch (mật ngọt), Khmer mâdhu, Thái mâdhu, Malay madu, mật ngọt…

Quả mít có múi ngọt cũng có một nghĩa là quả mật, Hán Việt ba la mật.

Mật với nghĩa ngọt ruột thịt với mứt, thức ăn ngọt.

Mật ngọt ruột thịt với Cổ ngữ Anh medu, Pháp ngữ mielle, Latin mel, Hy Lạp ngữ méli, Gothic miliþ, Anh ngữ molasse (mật mía), milk (sữa), Đức met ‘mead’ (nước mật ong lên men), Cổ Irish mid, Welsh medd, Breton mez ‘mead’, PIE *melith, *med[h]ww/u, *medhu- ‘honey’, Phạn ngữ mádhu, ‘mead, honey’.

Ta có mật (ngọt) = Phạn ngữ mád(hu), mật ong = PIE *medhu- mật ong.

Lưu ý

Ta thấy rất rõ Khmer mâdhu, Thái mâdhu, Malay madu, mật ngọt, Cổ ngữ Anh medu … giống nguyên con Phạn ngữ mádhu, PIE*medhu-, cho thấy các ngôn ngữ Mon-Khmer, Tày Thái, Mã-Nam Dương là những ngôn ngữ liên hệ ruột thịt với Việt ngữ cũng có thể liên hệ mật thiết với Phạn, Ấn- Âu ngữ. Điều này xác thực Việt ngữ liên hệ với Ấn-Âu ngữ qua Phạn ngữ là chuyện hợp lý.

.mật đắng là mật gan.

Mật cũng có một nghĩa đắng. Mật (đắng) ruột thịt với Pháp ngữ amer, Tây Ban Nha ngữ amargo, Ý amaro, Bồ amargo là đắng; có mer-, mar- = mật. Theo m=b, mật = bitter, đắng.

Tại sao hai loại mật có vị ngọt đắng trái ngược nhau lại có cùng tên như nhau? Xin thưa cả hai loại mật đều gọi theo mầu sắc vàng. Anh ngữ honey mật ong gọi theo mầu vàng. Honey có dạng cổ là hunig, phát từ Tiền-Germanic *hunagam, Hoà Lan, Đức honig ‘honey’, có gốc PIE*k(e)neko- ‘yellow, golden’ (Phạn ngữ kancanum, Welsh canecon ‘gold’).

Biến âm theo kiểu hôn hoàng, hoàng hôn ta có hon(ey), hun(ig), *huna(gam) = Hán Việt hoàng (vàng).

Việt ngữ mật biến âm với mít có nghĩa là vàng (cây mít có gỗ mầu vàng và múi mầu vàng); theo p=m, mít = Phạn ngữ pita, mầu vàng; với mai là vàng. Hoa mai gọi tên theo mầu vàng. Thành phố cổ Maio ở Lưỡng Hà và ở Nam Mỹ là thành phố Vàng (Golden City). Chàm ngữ mah, Thượng maah, Cao Miên mia, Mã Lai ảma là vàng (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tõc Việt Nam tr.631); với mạ (cây lúa non có mầu vàng xanh, mầu lá mạ), với , sông Mã được cho là sông có vàng, người Mường ở đó gọi là sông ‘gai ảma’ (Bình Nguyên Lộc) (sông gai là sông cái).

Như thế mật gan và mật ong đều được gọi tên theo mầu vàng.

Ở đây chủ đích nói về mật gan.

1. mật gan với nghĩa gọi theo mầu sắc.

Mật gan có mầu vàng, xanh-vàng. Mầu mật gan cũng như mầu lá cây khi vàng, khi xanh, khi xanh-vàng, tùy thuộc vào giai đoạn tăng trưởng của lá cây. Tùy theo nồng độ đậm đặc và tùy theo lúc bao tử có đầy thức ăn hay trống rỗng, mật gan có mầu green, yellow và yellow green. Ta cũng thường nói mửa ra mật xanh mật vàng.

Về sinh lý học có hai loại mật vàng và mật xanh, xanh vàng.

a. mật vàng

chưa đánh được người mặt đỏ như vang (tức giận máu căng đầu mặt nên đỏ như rượu vang), đánh được người, mặt vàng như nghệ (sợ quá mật đổ ra nhiều mật vàng nên có mặt vàng như nghệ) (xem green).

.theo m = b, ta có bile, /bai/ = mai = mật. Ta thấy bile (/bai/) có mầu mai là mầu vàng.

.theo m=p, mật =Phạn Ngữ paitta ‘bilious, biliary’ (thuộc về mật gan), có pait- = mai = mật. Ta thấy paitta, mật gan ruột thịt với Phạn ngữ pita, mầu vàng.

Mật và gan hoán đổi tên cho nhau (xem dưới) nên qua từ đôi gan vàng ta cũng thấy mật cũng có mầu vàng hay đúng hơn gan vàng là gọi theo mầu mật. Ta có gan = gall (mật) = IE *ghel = yellow.

b. mầu xanh, xanh-vàng.

Mật gan có mầu xanh, xanh vàng, xanh lá cây thấy rõ qua Anh ngữ gall (mật) liên hệ với green.

Ta có gan = geen = green và theo g = y (như garden = yard), gan = yellow = IE * ghel (yellow, green). Như thế

mật gall gọi theo mầu vàng, mầu lá cây của mật.

Việt ngữ mái, mai mái, mét, men mét, xanh mét là xanh vàng do mầu mật vì đau gan, hay thiếu máu.

Theo m=v, ta có mét = Pháp ngữ vert = Tây Ban Nha, Ý, Bồ verde = Latin viridis (xanh).

Ta thấy mai, mái, mét biến âm với mật, với Phạn ngữ paitta, với bile.

c. mật đen

Như đã nói ở trên, thời Trung Cổ, Âu châu cho rằng mật đen do lá lách (spleen) tiết ra gây ra chứng melancholy.

Dân dã Việt Nam gọi lá lách là quả tối (có lẽ spleen khi nấu chín có mầu đậm đen). Như thế Âu-châu thời Trung Cổ cho rằng mật đen tiết ra từ quả tối rất chí lý!

2. mật ruột thịt với gan, hoán đổi tên với gan.

Mật và gan coi như cùng một cơ quan nên mật ruột thịt với gan, thường đi đôi với nhau như thấy qua từ đôi Hán Việt can đảm (gan mật) và Việt ngữ có từ đôi gan lì tức gan = lì. Lì ruột thịt với liver (xem Liver).

Như đã biết trong Việt ngữ và Ấn Âu ngữ có hiện tượng hoán đổi tên và nghĩa với nhau, có biến âm chéo với nghĩa lệch, nghĩa hoán đổi, nghĩa chéo nhau. Giữa Việt ngữ và Anh ngữ gan và mật cũng vậy. Ta có gan = gall, mật (động vật), gall bladder, túi mật. Ngược lại chole (mật) = cốn (phát âm gan của người Trung Quốc) = can (Hán Việt) = gan. Gan là mật và mật là gan.

3. với nghĩa liên hệ với tính khí.

Cũng như trong Ấn Âu ngữ như đã nói ở trên, mật và gan thường cho là liên hệ tới tính khí và tâm thần của con người, trong Việt ngữ ta thường nói to gan lớn mật, can đảm (gan mật), thất đảm kinh hồn, cả gan, gan dạ, can trường (gan ruột). Ở loài vật, Đông phương nhận thấy loài gầu khi bắt được phải tìm cách lấy ngay mật, gấu khi tức giận hay sợ hãi, mổ ra túi mật thấy trống không.

.Phổi

Ấn Âu ngữ

-lung, phổi, phế (Hán Việt).

Cổ ngữ Anh lungen (số nhiều), phát từ Tiền-Germanic *lungw- (hộ hàng huyết tộc: Cổ Norse lunge, Old Frisian lungen, Hòa Lan long, Đức lunge lung’ có nghĩa đen là ‘the light organ’ có gốc PIE *legwh- ‘not heavy, have little weight,’ (họ hàng: Ba Lan lekki ‘light’, Nga le(:)gkoje ‘lung’. Có lẽ gọi theo sự kiện là khi ném vào thùng nước phổi của con thú làm thịt nhẹ nổi trong khi tim gan chìm.

Như thế lung có nghĩa gốc là nhẹ, điểm này thấy rõ qua Bồ ngữ leve ‘lung’ phát từ Latin levis ‘light’, Irish scaman ‘lung’ phát gốc từ scaman ‘light’.

-pulmonary, poumon (Pháp ngữ), phổi.

Pulmonary (tính từ), phát từ Pháp ngữ pulmonaire và trực tiếp từ Latin pulmonarius ‘of the lung’, họ hàng với Hy Lạp pleumon ‘lung’, Cổ Church Slavonic plusta, Lithuanian plauciai ‘lung’, tất cả có gốc từ PIE *pleu- ‘to flow, to float, to swim’ (pleura, màng phổi).

-pulmonic

giống như chữ pulmonary

-pneu-, pneum-, pneumo- (gốc chữ Hy Lạp), khí, hơi, thở, phổi.

pneumatic (tính từ), thuộc về khí hơi, pneumatic (danh từ), bơm hơi (vỏ xe), pneumatics, khí học, pneumococcus, phế cầu trùng, –pneumonia, sưng phổi, viêm phổi… có gốc IE * pneu- (puff, pant, breathe).

.theo p=ph, có peu- = phù, phà, phì, phèo, phì phà phì phèo, phổi, phế, phùng, phồng (hơi) xem chữ puff, pulmonary.

.theo n=d=th, có –neu- = thở, thổi.

-fume, hơi, khói, khói hơi bốc, xông (ra, lên); cơn giận, nổi đóa, nổi giận (như bốc lửa, bốc khói); xông khói, xông hương, hơ khói, đốt trầm hương, bốc hơi, lên hơi.

theo f=ph, fu- = phù như thổi phù phù, phì, phà (khói), phì phà phì phèo (thở ra khói, hút thuốc) liên hệ với fumer (Pháp ngữ), fumar (Tây Ban Nha ngữ), hút thuốc.

-puff

hơi thở, thở, hơi thổi ra, puff away, thổi cho bay đi, puff out, phùng (má), làm phùng, phồng (như tay áo).

Cổ ngữ Anh puf, puffe ‘short, quick blast’ có puff = phù (thở phù phù), phì phà, phì phèo liên hệ với thở, với phổi (xem pulmonary).

.phồng, phùng, phình, thổi phồng (quảng cáo láo, tin láo) = puff.

.phun, xịt hơi ra như thuốc xịt vào mũi (trị nghẹt mũi), vào họng (trị hen suyễn), phun, phà (ra) = puff.

.phì phà, phì phèo (hút thuốc kéo từng hơi ngắn) = puff.

Việt ngữ

.phổi

1. với nghĩa nhẹ

.Việt ngữ phổi cũng có nghĩa là nhẹ ví dụ như thằng đó phổi bò chỉ thằng đó nhẹ dạ, bồng bột.

Phổi biến âm mẹ con với phèo (phèo phổi xem Ruột) với phào (phì phà phì phèo, phì phà phì phào) liên hệ với khí, thở có nghĩa là nhẹ như thở phào nhẹ nhõm.

.Anh ngữ lung với nghĩa nhẹ ruột thịt với Việt ngữ:

-lâng lâng có nghĩa là nhè nhẹ như cảm thấy lòng lâng lâng’ Rõ như ban ngày Anh ngữ lung (nhẹ) phát âm /lâng/, Tiền Germanic *lunge, PIE * legwh- = Việt ngữ lâng lâng.

-lẹ, nhẹ

Theo niến âm l=nh như nhẹ nhàng = lẹ làng, ta có nhẹ = lẹ.

Ta thấy rõ Anh ngữ lung = PIE * legwh- ‘have little weigh’, Bồ ngữ leve, phổi = lẹ, nhẹ.

-lông

lông hàm nghĩa nhẹ như hạng lông (quyền Anh), nhẹ như lông hồng ‘Gieo Thái Sơn’ nhẹ tựa hồng mao’

Anh ngữ lung ruột thịt với lông với nghĩa nhẹ.

-lồng

Ta cũng thấy Anh ngữ lung (phổi) biến âm với lồng hàm mghĩa nhẹ như thấy qua từ lồng lộng liên hệ với gió (gió hàm nghĩa nhẹ), lồng bồng.

2. với nghĩa liên hệ với phồng.

phồng, phình vì có hơi, căng hơi vì có không khí nên có thêm nghĩa nhẹ.

Ta thấy rõ poumon, pulmo- có pou-, pu- = phồng, phù (heo p=ph).

Người tiền cổ khi mổ một con thú chưa chết thấy phổi phồng lên xẹp xuống.

Với nghĩa này, phổi = phế = phồng, phù = poumon, pulmo-.

3. với nghĩa khí gió, hơi, thở.

Pháp ngữ poumon liên hệ với = puff = phù, phồng (thở phập phồng), phà, phì, phèo… liên hệ tới hơi, thở như thở phù phù, thở phì phà phì phạc, phì phà, phì phèo điếu thuốc. Phổi là cơn quan thở phù phù.

-thở

phổi là cơ quan để thở. Hiển nhiên thở liên hệ với phổi.

theo th = d, ta có thở liên hệ ruột thịt với Lettic ngữ duša, Balan ngữ dech, Nga ngữ dyšat, dychanie, thở, IE *dhwes-, *dhus-, *dheu-, thở ( rõ nhất là thở = *dheu-).

Threo th=d = n, thở = *dheu- = IE *pneu- ‘breathe, puff’.

-thổi

biến âm với thở, theo ph =th như phết = thết = thiếp, ta có phổi = thồi. Thổi liên hệ với *pneu- với nghĩa puff.

-hơi

liên hệ với Cổ ngữ Anh hwida ‘air’, có hwi- = hơi.

-hít

thở vào, hít thở, hít hơi vào. Việt ngữ hít là hút hơi vào vì thế hít thuốc = hút thuốc.

Ta có từ đôi hôn hít nghĩa là hôn = hít. Nguyên thủy hôn là hít hơi nhau thấy từ loài vật hít hơi nhau, các bà mẹ hít hơi con, hôn bằng cách hít hơn nhau còn thấy trong nhiều tộc thổ dân Mỹ châu. Theo h=k (hết = kết), ta có hít = Anh ngữ kiss (hôn) = Phạn ngữ kus ’to embrace’ ôm hôn (biến âm kus với kiss theo kiểu cút kít trong Việt ngữ).

-hà

phà hơi ra như hà hơi, hít hà. Ăn cay hít hà là hít hơi vào phà hơi ra cho hết cay.

Cung Điện Gió Hawa Mahal (Palace of Winds) ở Jaipur, Ấn Độ. Ấn ngữ Hawa có Ha- = Việt ngữ Hà (hơi, khí). Hawaii thuộc Đa Đảo (Polynesia) nên ngôn ngữ có nhánh liên hệ với Nam Đảo ngữ nghĩa là liên hệ với Việt ngữ (xem bài Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Hawaii ngữ, sẽ đăng). Tên Hawaii có Ha- = hà và = waii = vai = gốc Việt ngữ va- là nước (xem Water). Như Thế Hawaii nguyên nghĩa là khí gió- nước, Trời Nước. Theo Vũ Trụ giáo thuộc ngành nòng Khôn (thiếu âm Khí gió-thái âm Nước), thuộc ngành nòng Thần Nông. Hawaii là một thứ Lạc Việt Hải Đảo (xem Sự Tương Đồng Giữa Hawaii và Việt Nam, sẽ đăng).

Anh ngữ inhale (hít vào), exhale (thở ra) gốc từ Latin halare ‘breathe’ có ha- = Việt ngữ hà.

Theo h = w như Việt ngữ hoa = Mường ngữ wa, ta có hà (hơi) = Phạn ngữ wa (thở).

3. với nghĩa nổi, trôi

Từ nghĩa nhẹ và liên hệ với khí gió đẻ ra nghĩa nổi trôi.

Ta thấy

.theo p=b, ta có pul(mo-) = bồng, bồng bềnh, đầu bồng;

.theo p=ph, ta có pul = phồng = phồng phềnh = bồng bềnh.

Hy Lạp ngữ pleumon, phổi lirên hệ với PIE *pleu- ‘to flow, to float, to swim’ , ta thấy có leu- = lội, nổi và peu- = bơi.

-phèo

phèo liên hệ với phổi như thấy qua từ đôi phèo phổi. Ngày nay từ phèo chỉ ruột, thật sự chỉ phần ruột non trong có hơi phồng căng, lềnh bềnh như phèo heo, lòi phèo. Phèo có hơi như phổi thấy qua từ đôi phì phèo (điếu thuốc).

Dĩ nhiên phèo liên hệ với các từ Ấn Âu ngữ chỉ phổi với nghĩa phồng căng hơi, nổi trôi. Ta thấy phèo, phồng liên hệ với PIE *bhogh-, phồng, căng.

-bễ

Bễ liên hệ với Anh ngữ bellows, bễ thổi lửa, phổi, với Cổ Norse belgr, bọc, túi, bễ thổi lửa.

Theo b=ph (bành = phành), ta có bễ = phế (phổi).

Ta có bễ = phế = phổi = phì phèo = phì phà (hàm nghĩa thở, thổi). = Phạn ngữ bhasman, thổi. Bhasman có bha- = phà (phì phà).

-ho

Ho là một thứ phản xạ đường hô hấp.

với h câm ho = o. Việt ngữ cổ o là họng heo.

Ho liên hệ với Old High German hvosta, Anh ngữ hiện kim cough (h=c).

Việt ngữ khạc, Quảng Đông khách (ho) ruột thịt với Phạn ngữ kâs ‘to cough, kâsa ‘cough’, Pháp ngữ cracher, khạc nhổ.

-ngáp

Liên hệ với Phạn ngữ jabh, jṛmbh- ‘yawn’. Theo j=d=nag ta có jab- = ngáp.

Theo ng = g như ngẫm = gẫm, ngáp cũng liên hệ với Anh ngữ gape, Thụy điển gapa, Hòa Lan gapen, ngáp.

.Ruột

Ấn Âu ngữ

Trong Ấn-Âu ngữ, những từ chỉ ruột mang ý nghĩa:

1-‘string’, ‘rope’, ‘cord’ (có nghĩa chung chỉ dây).

chord ‘structure in animals resembling a string’, biến thể của cord, Hy Lạp khorde ‘gut-string, tripe’ từ gốc PIE*ghere- ‘gut, entrail’.

Cổ ngữ Anh hropp, nghĩa đen la rope.

– tripe

Cổ ngữ Anh tripe ‘guts, intestines, entrails used for food’, có nguồn gốc không rõ, có lẽ qua Tây Ban Nha Ngữ tripa có gốc từ Ả Rập ngữ therb ‘suet’ (mỡ bò, cừu) (Klein, Barnhart).

2-‘winding band’ (dải uốn khúc).

Đức ngữ wurst, Hòa Lan worst, dồi, xúc xích có gốc từ OHG werdan, quanh co liên hệ với winding, uốn khúc (Buck trang 367).

3. trong

intestine, entero-, entrail liên hệ với intero-, enter, Pháp ngữ entrer.

Intestine ‘bowel’, phát từ Latin intestina, số nhiều trung tính của intestinus (tính từ) ‘internal, inward, intestine’, từ intus ‘within, on the inside’. Phạn ngữ antastyam, Hy Lạp entosthia ‘bowel’.

4. với nghĩa dồi

bowel

cổ ngữ Pháp boele ‘intestine, bowels, innatrd’, Pháp ngữ hiện kim boyau, Latin Trung Cổ botellus ‘small intestine’, nguyên gốc là dồi, giảm thiểu là botulus , ‘sausage’ có gốc từ PIE *gwet-/*geut- ‘intestine’ (họ hàng Latin guttur ‘throat’).

Cũng xin nói thêm một chút dồi botulus có thể gây ra chứng ngộ độc dồi botulism do độc tố của trùng

Clostridium botulinum gây ra làm liệt dây thần kinh gây ra tê liệt các bắp thịt ở khắp nơi. Trong thẩm mỹ dùng độc tố này, chích độc tố Botox vào vết nhăn làm tê liệt bắp thịt không co rút nữa làm hết vết nhăn.

Việt ng

1. với nghĩa là dây, dải.

Ruột có một nghĩa là một dải, một sợi dây thấy rõ qua câu ca dao ví với dây bầu, dây bí:

Ba cô đội gạo lên chùa,

Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư,

Sư về sư ốm tương tư,

Ốm lăn ốm lóc cho sư tr ọc đầu,

Ai làm cho dạ sư sầu,

Cho ruột sư héo như bầu đứt dây.

Phụ nữ miền Bắc có dây thắt lưng gọi là ruột tượng.

Mường ngữ r= n, ta có ruột = nuột và theo r=l, ruột = luột = nuột, nuộc (dây cột) = nạt, lạt (dây tre) = nịt (dây thắt lưng) = nerf (dây thần kinh).

Ta cũng thấy ruột = rope.

Ruột liên hệ với IE *reu-to-, intestine.

Anh ngữ tripe, tripes, ruột lòng thú vật, như đã biết, được cho là có nguồn gốc không rõ. Ta lại phải nhờ tới Việt ngữ để tìm nguồn cội. Ta thấy tripe phát âm /trai/ biến âm mẹ con với trãi, theo tr = d như tràn = dàn, ta có trãi = dải. Lạc Long Quân, Vua Rồng Nước có cốt là con rắn nước còn có tên là con dải, có từ Lạc viết với bộ trãi. Bộ trãi hay trĩ có nghĩa là ‘con sâu không chân’ cùng họ nhà rắn. Rắn có hình như dải dây nên còn gọi là con dải.

Vậy trãi có nghĩa là dải dây (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Ta có tripe = /trai/ = trãi = dải. Rõ như ban ngày tripe lòng ruột gọi theo hình dải dây.

2. với nghĩa uốn khúc, vòng vèo.

Ruột uốn vòng vèo nên những vật hình xoắn gọi là ruột gà. Ruột uốn vòng vèo nên gọi là khúc. Thấy rõ qua từ đôi uốn khúc, ta có khúc = uốn. Khúc là khủy thấy qua từ đôi khúc khuỷu. Khủy là kheo, là oeo, eo, là éo là uốn. Theo Đông Y ruột chia ra làm chín khúc. Kim Trọng ngồi nghe Kiều đánh đàn:

Khi tựa gối, khi cúi đầu,

Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.

Vò chín khúc là chín khúc ruột bị vò nát, vo tròn bóp lại. Ruột vo tròn lại làm quặn đau khiến cho Kim Trọng “khi tựa gối” nghĩa là chàng ta ép bụng vào đầu gối cho bớt đau, “khi cúi đầu”, Kim Trọng cúi đầu thấp xuống, thu người nhỏ lại cho bớt đau và “khi cau đôi mày”, rõ ràng là vì đau quá nên phải nhăn mặt cau mày. Hiển nhiên Kim Trọng có những triệu chứng “nát lòng”, “nát dạ”, “nẫu lòng”, “não lòng”, tức rầu thúi ruột, tức đau bao tử. Tiếng đàn của Kiều là tiếng đàn đoạn trường, đứt ruột (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).

Đức ngữ wurst, dồi, xúc xích có gốc từ OHG werdan, quanh co liên hệ với winding, uốn khúc (Buck trang 367).

Theo w=uu và u = o, wurst có wur- = uốn, uốn khúc liên hệ với Việt ngữ khúc (ruột).

Theo v=d, wurst = duột, ruột.

Với nghĩa uốn khúc, ruột = wurst.

2. với nghĩa là trong.

Từ ruột có nghĩa là trong như ruột quả bí và lòng cũng có nghĩa là ở trong như lòng trái đất. Theo biến âm kiểu lòng trừng = tròng trừng ta có lòng = trong. Lòng đôi khi cũng có nghĩa là tim như lòng mẹ = tim mẹ (vì tim cũng có một nghĩa là ở trong, ở giữa như tâm điểm, trung tâm).

3. với nghĩa là dài.

Lòng có một nghĩa là dài. Qua các từ đôi lòng thòng, dài thòng, dài thoòng ta có lòng = thòng = dài.

Lòng biến âm với long có nghĩa là dài như đi long rong là đi rông đi dài. Việt ngữ long (dài) chính là Anh ngữ long (dài). Long biến âm với lang cũng hàm nghĩa dài như như đi lang thang là đi rông dài. Lang với nghĩa dài chính là Đức ngữ lang (dài).

Wurst với nghĩa uốn khúc, lòng vòng cũng hàm nghĩa dài.

.Cật

cơ quan lọc máu làm nước tiểu, liên hệ với nước.

Hán Việt thận.

Ấn Âu ngữ

-kidney (Scand.), quả cật, thận.

Không rõ nguồn gốc nguyên thủy, Trung cổ Anh ngữ kidnere có lẽ là từ ghép Cồ ngữ Anh cwið ‘womb’ và -ey là egg gọi theo hình dáng quả cật có hình bọc như quả trứng. Về sau gọi theo hình hạt đậu kidney bean.

-renal

thuộc về cật, thận.

phát từ Pháp ngữ renal và trực tiếp từ Latin muộn renalis ‘of or belonging to kidneys’, từ Latin rein (số nhiều renes) ‘kidney’.

-nephron

Đức ngữ nephron, Hy Lạp ngữ nephros ‘kidney’, có gốc PIE *negwhro- ‘kidney’ (họ hàng với Latin nefrones, Cổ Norse nyra, Hòa Lan nier, Đức niere ‘kidney’).

Việt ngữ

-cật

1. với nghĩa ‘womb’ (dạ, bọc con, tử cung).

Với nghĩa dạ, dạ con có thể Ấn Âu cho là thận có giữ nột vai trò quan trọng trong sự sinh sản như Đông phương cũng cho là vậy (bại thận không thể có con).

Tuy nhiên theo quy luật hoán đổi tên trong Ấn Âu ngữ thì thận, cật có thể gọi theo vị trí cơ thể học ở chỗ thắt lưng, liên hệ với kích là chỗ eo thắt lưng, chỗ có hai quả thận: “dài lưng hẹp kích” có nghĩa là dài lưng mà hẹp chỗ eo lưng. Cật liên hệ với Phạn ngữ kata ‘the hip’ (hông), kati, karta (from krit+a), ‘the hip’, ‘the buttocks’ (mông). Rõ như ban ngày cật = kat- = kích và krit- – k(r)it = kid- = kích = cật.

Như thế theo các nhà tâm nguyên ngữ học Tây phương kidney ‘không rõ nguồn gốc nguyên thủy, Trung cổ Anh ngữ kidnere có lẽ là từ ghép Cồ ngữ Anh cwið ‘womb’ thì womb có thể là từ hoán đổi tên theo vị trí, phải hiểu thêm theo nghĩa bụng dưới, eo bụng, thắt lưng.

tóm lại kidney có kid- = Phạn ngữ kata, krita = kích = cật.

2. với nghĩa liên hệ với nước.

-cật

là cơ quan lọc máu làm nước tiểu (to make water, đi tiểu). Cật liên hệ với Phạn ngữ kat, mưa. Ta cũng thấy renal, Pháp ngữ rein, Tây Ban Nha ngữ rinon biến âm với rain, mưa. Cũng có thể cật biến âm mẹ con với cất (chưng cất làm tinh ròng nước).

Cần phân biệt với cật là phần vỏ cứng như cật tre, cật nứa. Cật với nghĩa này liên hệ ruột thịt với Anh ngữ crust (vỏ cứng, vẩy cứng), Pháp ngữ croûte, phần vỏ cứng bánh mì, Latin crusta ‘crust, ring, bark, hard shell’, crustaceus (animalia), loài giáp xác, có vỏ cứng như tôm, cua và với Phạn ngữ krud-‘make hard’ (làm cho cứng), ‘thicken’ (làm cho đặc lại).

-thận

Hán Việt thận, quan thoại shen củng hàm nghĩa nước. Shen ruột thịt với Việt ngữ sen con ở gái lo việc nước nôi, hầu trà và sen là loài hoa mọc dưới nước. Phạn ngữ hoa sen là seroja có sero- là sera, nước và ja là dạ, là đẻ. Hoa sen là loài đẻ (mọc) dưới nước (xem Dạ dầy).

Thận hàm nghĩa nước thấy rõ qua sự liên hệ với:

.thận con sò lớn, rắn nước lớn.

.Mường ngữ thắn là rắn.

.Hán Việt thẩn là con giao long (có cốt là con cá sấu). Cá sấu là loài bò sát như thằn lằn, rắn.

sò, trăn, rắn liên hệ, biểu tượng cho nước, ngành nòng âm nước.

.thần

thần là tổ, bậc siêu phàm dòng nước, ngược với thánh, dòng lửa, mặt trời. Theo th = s như thẹo = sẹo, ta có thánh = saint, Latin sanctus, Tây Ban Nha santo, santa, Ý san…

Thần tổ phía nòng âm không gian của Bách Việt tên là Thần Nông có Thần hàm nghĩa Nước. Nông biến âm với Không (Pháp ngữ non = Việt ngữ không (n=kh như; nỏ = khỏ = khô) là không khí, gió. Thần Nông thuộc ngành nòng Khôn có hai khuôn mặt: thái âm (Khôn âm) Nước-Thần và thiếu âm khí gió Nông. Với h câm thần = tần, loài rau mọc dưới nước (rau cần có thể là một loại rau tần). Tần tảo là rau và rong ở dưới nước. Người tần tảo có nghĩa gốc chỉ người phải lội xuống nước vớt rau, rong về bán lấy tiền hay dùng làm thực phẩm nuôi gia đình.

Thần Nông chuyển qua Anh ngữ là Shen Nung và thận là shen. Rõ ràng thận shen liên hệ với Thần (Nước) Shen-Nông.

Tóm lại thận biến âm thận (con sò lớn), thẩn, thần, thắn (trăn, rắn) liên hệ với nước. Thận là cơ quan lọc máu làm nước tiểu, liên hệ với nước.

-Ấn Âu ngữ nephron, gốc Hy Lạp nephros, Latin nefrones. Hoà Lan nier, Đức niere, PIE *negwhro-, trong Ấn Âu ngữ không nói rõ nguồn gốc nghĩa ngữ nhưng qua Việt ngữ ta thấy tất cả có gốc na-, ne- là nước (xem Water).

Ta thấy rất rõ nep-, nef-, *neg- liên nhệ với Việt ngữ nếp (thứ gạo có nhiều nhựa, nhiều nước), nhẹp (ướt nhẹp), nhép (nhép nhẹp là ướt đẫm; nhem nhép là dính vì có nhựa, nước).

.Bọng Đái

Ấn Âu ngữ

-bladder, bóng, bọng tiểu

Cổ ngữ Anh blœdre ‘bladder’, also ‘blister’ phát từ gốc Tiền-Germanic *blaedron (họ hàng với Cổ Norse blaðra, Đức blatter, Hòa Lan blaar), có nguồn từ PIE *bhe- ‘to blow’.

-cystic (tính từ)

phát từ Latin Tân Thời cysticus, Hy Lạp kystis ‘bladder, pouch’; cystectomy cắt bọng đái.

Việt ngữ

-bọng đái

Ta thấy ngay bladder, bóng, bọng tiểu có badd- = ball = bóng, bọng, bàng (Hán Việt), bàng quang.

-kén

Việt ngữ kén, cái bao, bọc con nhộng, hàm nghĩa bao bọc thấy qua từ y học phimosis là chứng da qui đầu bọc kín, dịch là chứng kén da qui đầu biến âm cyst-.

.Chất Bài Thải

Ấn Âu ngữ

-shit, cứt, phân.

Cổ ngữ Anh scitte ‘purging, diarrhea’.

Mặt khác Cổ Anh ngữ scitan, phát gốc từ Tiền-Germanic *skit- (họ hàng với Bắc Frisian skitj, Hoà Lan schijten, Đức scheissen, có gốc từ PIE *skei ‘to cut, split, divide, separate’ cùng nghĩa với Latin excrementum, từ excernere ‘to separate’; Cổ Anh scearn ‘dung, muck’, từ scieran ‘to cut, shear’. Nguyên gốc có nghĩa là phân tách ra từ thân thể tức chất bài thải.

-feces

Hay faeces, số nhiều của faecis, chất cặn, lắng đọng, cặn bã, nguồn gốc không rõ. Dùng chỉ phân người từ năm 1630.

Việt ngữ

-cứt

1. Với nghĩa chất bài thải.

Với nguyên gốc nghĩa là chất phân tách ra từ thần thể tức chất bài thải, ta thấy cứt biến âm với cắt giống hệt như Cổ Anh scearn ‘dung, muck’, phát từ scieran ‘to cut, shear’, ruột thịt với PIE *skei ‘to cut, split, divide, separate’ và ta cũng thấy Hán Việt phân có nghĩa là cứt và cũng có nghĩa là phân chia như nghĩa split, divide, separate của PIE *skei.

Cứt với nghĩa bài thải liên hệ với Phạn ngữ had ‘to evacuate as faeces’ Với h= c (hủi – cùi), ta có had = cất = cứt.

2. với nghĩa chất hôi thối.

cứt ruột thịt với Phạn ngữ kuth, hôi, kuthita, hối thối, hôi hám: có kut- = cứt.

Ta cũng thấy được cho là loài chim hôi hám như ta nói hôi như cú. Cú liên hệ với Phạn ngữ kut, kuthita và Hán Việt xú (xú uế) cũng vậy.

-xít

Là kít, cứt.

Khôn với dại cá mè một lứa,

Cháu với con mà sửa ông bà.

Con nít ăn xít ông già.

Già chơi trống bỏi nếp nhà suy vi.

(ca dao).

xít = Anh ngữ shit.

xít biến âm với kít, cứt.

Theo x= c= k (xa = car), xít = kít = cứt = shit.

Con bọ xít (stink bug) có mùi hôi, thối như xít, shit.

-xịt

biến âm của xít.

hốc xịt là ăn xít, ăn shit.

-xí

chuồng xí, nhà cầu.

xí là dạng giản lược của xít.

-xi

xi là giúp cho trẻ sơ sinh đi cầu như xi ị.

Xi biến âm mẹ con với xí.

-xì

biến âm của xi, xí.

hốc xì là ăn xi, ăn xí ví dụ làm ăn như thế có mà hốc xì.

-xia

Vô phúc đi xia may vớ được,

Phen này chắc hẳn kiếm ăn to.

(Tú Xương)

xia biến âm của xi, xí.

-sình

Việt ngữ sình (thối) như xác đã sình rồi liên hệ với si- xí, shit, stink. Ta thấy sình = s(t)ink.

-bụp

đánh hơi.

Liên hệ với Anh ngữ poop (đánh hơi), pooh pooh (đi ị), Phạn ngữ pu (foul, smelling, stinking, hôi thối).

-bã (cặn), bẩn

Theo b=ph, ta có bẩn = phẩn = phân, chất căn bã, bài thải.

Bã, bẩn liên hệ với Anh ngữ feces , faeces, faecis (sediment, lees, dregs). Theo f=b, ta có bã, bẩn = fae-.

.Nước Đái

Ấn Âu ngữ

urine

Cổ ngữ Pháp orine, urine, trực tiếp từ Latin urina ‘urine’, phát từ PIE *ur- (họ hàng với Hy Lạp ouron ‘urine’), biến thể của PIE *we-r- ‘water, liquid, milk’ (họ hàng với Phạn ngữ var ‘water’, Avestan var ‘rain’, Cổ ngữ Anh wœr (dính), Cổ ngữ Norse ver ‘sea’ và ur mưa phùn.

Việt ngữ

1. với nghĩa là nước.

-tè

tè là đái. Te cũng có nghĩa là đi tè:

Học thì đã dốt lại lười,

Ăn thì không được hơn người không nghe,

Chửa tối thì đã ngủ nhè,

Mười đêm thì chín đêm te ra quần.

Te có nghĩa là nước như thấy qua câu hát dân chài vùng Thanh Nghệ Tĩnh:

 

Tháng năm te chạy hết ngàn,

Cá trà cũng lắm khơi đàng vào ra.

Te chạynước chạy. Cá trà còn có tên là cá chim.

Biến âm của tè, te là liên hệ với nước như thấy qua các từ “té nước lên người nhau“, “té đái ra quần“.

Te, té, tè liên hệ với Ý, Tây Ban Nha, Hung Gia Lợi, Thụy Điển ngữ te, Anh ngữ tea, Pháp ngữ thé trà, chà, chè, nước uống nấu bằng thực vật; với teal, le le, vịt trời, một loài chim nước (Việt ngữ cổ le là nước, chất lỏng như thấy qua từ đôi lỏng le, lỏng lè, chua lè là chua chẩy nước dãi, chua vãi đái ra quần) và với cổ ngữ Anh tèar, Trung cổ tere, Anh ngữ hiện kim tear, nước mắt.

-đái

Hiểu theo nghĩa nước thì đái biến âm với đãi (gạn rửa như đãi vàng, đãi gạo), với dãi (nước nhớt chẩy từ miệng như dớt dãi), với đà (nước) như thất qua từ sông Đà, Đà Rằng, Đà Lạt, Đà Nẵng…, phát từ gốc đác, nác (nước). Theo đ = n như đây = này, ta có đái = Hán Việt nãi, nại là sữa như ngầu nại là sữa bò.

Đái hiểu theo nghĩa nước liên hệ với Ba Tư ngữ dara, biển, với Anh ngữ dike (/đai/) đê giữ nước, dam, đầm nước, damp, ẩm ướt…

-dải, giải

Miền Bắc còn gọi là dải, giải khiến nghĩ tới giải có nghĩa liện hệ với thải, bài thải. Nước tiểu là chất bài thải. Tuy nhiên nghĩa này đã xa nguồn gốc nước và đã mang tính bác học.

Với nghĩa là nước, urine, Latin urina , phát từ gốc PIE *ur-, e-r- ‘water, liquid, milk’ (họ hàng với Phạn ngữ var ‘water’, Avestan var ‘rain’, Cổ ngữ Anh wœr (dính), Cổ ngữ Norse ver ‘sea’ và ur mưa phùn) liên hệ với Anh ngữ vat (thùng lớn); vatten (Đức ngữ), nước, vodka (Nga ngữ), rượu, Phạn Ngữ vaçâ, bò sữa… và với gốc Việt ngữ va- là nước: (cỏ và là cỏ mọc bên bờ nước); là chẩy ra nước (vã mồ hôi), hất nước lên (vã nước lên mặt); vại, vật đựng nước; vàm, vùng đầm nước; vắt (vặn nước ra), rõ hơn với ứa (chẩy ra nước), ùa (chẩy), ụa, ú, uống…

Ta thấy urine và tè, đái dù không biến âm theo dạng ngữ với urine, PIE *ur-e-r- nhưng có cùng nghĩa gốc nước và biến âm với ứa (chẩy ra nước), ùa (chẩy), ụa, ú, uống…

Tóm lại

Qua các từ nội tạng ngoài những từ căn bản ổn định như Tim, các từ Việt ngữ và Ấn Âu ngữ còn lại có nhiều từ liên hệ qua biến âm như phổi với poumon hay đều có cùng nghĩa ngữ. Trong nhiều trường hợp các từ Ấn Âu ngữ có nghĩa gốc nghĩa không rõ ta có thể dùng Việt ngữ truy tìm ra đươc và ngược lại.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: