SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 17) NHỮNG TỪ THÂN THỂ: b. THÂN MÌNH.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 17)

QUA NHỮNG TỪ THÂN THỂ

 b. THÂN MÌNH.

Nguyễn Xuân Quang

 

.MÌNH

mình, vóc (ăn vóc học hay), thân, thân thể, thể (water body), xác, vẻ, dáng, tạng…

Ấn-Âu ngữ

.Body

Theo Buck, những từ chỉ body có thể dùng trong Tân Anh ngữ như là body, dead body, corpse (thể xác, thân xác, kể cả xác chết). Nhiều từ chỉ phần bao che, vỏ bọc bên ngoài, nhiều từ chỉ dáng vóc, hình dáng, hình thể

Một vài từ nguyên thủy chỉ phần chính thân thể “trunk” để phân biệt với tay chân và phản ánh quan niệm, ý nghĩ như “swelling’(căng phình, phồng), ‘curved’ (cong), ‘bulging shape” (hình thể lồi ra), vài từ chỉ flesh (xác thịt) (4.11). Điểm này cũng thấy trong Việt ngữ (xem dưới).

Cổ ngữ Anh bodig ‘trunk, chest’ (người hay vật), liên hệ với Old High German botah, nguồn gốc không rõ.

Việt ngữ

1. với ý nghĩa dáng hình, dáng vóc, hình thể, thân thể.

.vóc

vóc có một nghĩa là thân thể như thấy qua câu ngụ ngôn Ăn vóc học hay: Ăn để cho có thận thể khỏe mạnh, học cho đầu óc hiểu hay biết rộng, vóc dáng là hình dáng thân thể.

Theo v=b, ta có vóc = bod ‘a person’ giản lược của body, thân người.

Vóc ruột thịt với Phạn Ngữ vapus là body.

.vẻ

Phạn ngữ veravóc, vẻ như vóc người, như vẻ người (thon gọn) “mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” (Nguyễn Du, Kiều).

Vẻ = Phạn ngữ vera.

.dáng

dạng, dáng liên hệ với Phạn ngữ deha- ‘form, shape, body’.

.tạng

theo d=t, ta có dáng, dạng = tạng. Tạng chỉ hình dáng thân ngưòi như tạng người gầy ốm.

Tạng liên hệ với Phạn ngữ tanu- ‘body’.

2. với ý nghĩa “swelling, bulging shape” (hình thể căng phình, căng phồng).

.mình

Mình là chỗ phình, phồng của thân thể. Theo m Mường ngữ = ph Việt ngữ như mâm = phâm (vật để đồ ăn), ta có mình = phình (swelling). Ta có mình = phình = phồng.

Cổ ngữ của mình là min, mìn, mềnh:

Thôi đà cướp sống chông min đi rồi

(Nguyễn Du, Kiều)

Mường ngữ min cũng có nghĩa là tôi như mo min (mo tôi), lời ông thầy mo xưng hô khi cúng tế. Từ min là một tiếng cổ đẻ ra từ hiện kim mình. Min, mình là những từ liên hệ với dấu ngữ (sign language), người nói chỉ vào thân thể của mình mà xưng hô mình thế này, mình thế kia.

Việt hiện kim mình, cổ ngữ min, mìn, mềnh ruột thịt với PIE *mi-/ *mo-, *IE mi-/m hàm nghĩa thân mình (xem I, t ôi ở 100 từ của Morris Swadesh).

Mình, min, mìn liên hệ với Lettic ngữ miesea, flesh also the usual word for body’ (xác thịt, thân, mình).

.mẩy

Mẩy có một nghĩa là mình, thân mình. Từ đôi mình mẩy có mình = mẩy. Mẩy là mình thấy rõ qua câu tục ngữ đầu chấy mẩy rận (đầu đầy chấy, mình đầy rận), làm mình làm mẩy. Mẩy cũng có nghĩa là căng phồng tức ‘swelling, bulging shape’ như hạt lúa, hạt thóc rất mẩy (ngược với hạt lép), l… mẩy.

Ta thấy rõ mẩy là mình, thân cũng có nghĩa là “swelling, bulging shape”.

Theo biến âm kiểu móc máy ta có móc = mẩy và theo v=m, ta có vóc = móc. Như đã nói ở trên, vóc = bod.

Vậy vóc = móc = mẩy = mình = bod.

Nếu hiểu mẩy theo nghĩa căng phồng vì có nhiều phần mềm thịt, mỡ như l… mẩy và vì có nhiều phần mềm cơm (hột, trái cây) như hạt lúa mẩy thì mình, mẩy liên hệ với Lettic miesa, Anh ngữ meat thịt (xem dưới).

3. với ý nghĩa vỏ che, vỏ bọc, lớp bao.

.xác

Việt ngữ có từ to xác, lột xác (rắn), xác như vờ. Con vờ là loài phù dung chỉ sống một thời gian ngắn ngủi lúc tinh sương. Khi mặt trời mọc, con vờ lột xác biến mất chỉ còn vỏ xác trên mặt sông vì thế mới có câu xác như vờ. Phạn ngữ çarira, covering có çar- = xác. Hy Lạp ngữ kalupto, cover có kal- = xác.

Xác với nghĩa vỏ = Phạn ngữ carira, covering.

4. với ý nghĩa thân xác, thể xác, xác thịt (flesh).

Xác ruột thịt với Phạn ngữ karp (body), liên hệ với Cổ ngữ Pháp cors ‘body’, Pháp ngữ corp, Latin corpus, (ta thấy rõ, xác = kar- = cor-), Pháp ngữ charnu (xác thịt)…

5. với nghĩa xác chết

Xác liên hệ với Anglo-Latin carcosium ‘dead body’, Anh ngữ carcass, corpse, Phạn ngữ cava, xác chết.

Cũng xin nói thêm ta có từ liệm (tẩm liệm) là làm sạch tử thi (tắm rửa, thoa dầu, xông hương, mặc quần áo mới…) liên hệ với Cổ ngữ Anh lic là xác chết, Anh ngữ litch, lych, Đức leich, ‘dead body’ họ hàng với Gothic leik, Đan Mạch ngữ lig, Cổ Frisisn lik, Cổ Norse lik, Tiền-Germanic *likow.

6. với nghĩa thịt

.Xác, cắt, chặt

Thịt để ăn hiển theo nghĩa là cắt, chặt, mổ thịt con thú, con vật, theo c= ch=x, car-, char- = xác. Thịt ở đây có nghĩa là xác, cắt, chặt. Xác với nghĩa thịt để ăn liên hệ với Latin carò, Ý, Tây Ban Nha, Lỗ Ma Ni ngữ carne, Pháp ngữ chair (thịt) và charcuterie, người bán thịt lợn, thịt nguội.

Thịt hiểu theo là miếng, mảnh, phần cắt con thú chia ra làm món ăn, Việt ngữ miếng có nghĩa là thịt liên hệ với Anh ngữ meat, meal và với PIE * mems-ro, từ gốc *mems- ‘flesh, meat’ (Phạn ngữ mamsam ‘flesh’, Gothic minz ‘flesh’), xem Thịt đã viết trong 100 từ của Morrsis Swadesh.

Thân

Ấn Âu ngữ

trunk

Anh ngữ thế kỷ 15 có nghĩa là ‘box’ (hộp), ‘case’ (thùng), Cồ ngữ Pháp tronc có nghĩa là ‘trunk of a tree’ (thân cây), ‘trunk of the human body’ (thân người), ‘wooden block’ (khúc cây), ‘alms box in a church’ (thùng từ thiện, bố thí trong nhà thờ), cũng phát từ Latin truncus ‘trunk of a tree’, có nguồn gốc không chắc chắn, có lẽ là ‘cắt’.

Với nghĩa là box, case có lẽ cho rằng thân người là một thứ thùng đựng các nội tạng. Trunk với nghĩa thùng cũng thấy qua từ trunk of the car là thùng xe.

Việt ngữ

1. Với nghĩa thân người.

Thân có cũng nghĩa với xác (thân xác), thấy qua từ carcass có từ Anglo-French carcois, cổ Pháp charcois ‘trunk of a body, chest, carcass’, như đã nói ở trên, car-, char- = xác.

Theo tr = th như Mường ngữ then = trên và Việt ngữ trăng = tháng (một tháng là một trăng, một month là một moon) ta có trunk = thân.

1. Với nghĩa thân cây.

Thân người với nghĩa là phần thẳng như trụ, nọc của cây, nối liền phần chỏm và gốc cây.

Mường ngữ thân dương vật. Dương vật là nọc, cọc, que, gậy, cây (phần thẳng như cọc của cây tức thân). Rõ ràng thân là dương vật, cặc giống như cọc thân cây. Thân là phần trụ nọc của cây.

Ấn Âu ngữ không hiểu rõ nguồn cội ra sao và cho là có nguồn gốc không chắc chắn, có lẽ là ‘cắt’.

Nếu hiểu theo nghĩa cắt thì theo tr = đ như trúng = đúng, ta có trunk = tronc = đốn. Giải thích này khó lòng thuyết phục được, ta lại phải dùng Việt ngữ để làm sáng tỏ.

Thân người ví như thân cây là theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Người vũ trụ có là hình cây. Theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo thì nòng nọc, âm dương sinh ra muôn sinh, muôn vật, vũ trụ. Vũ trụ chia ra làm Tam Thế: Thượng Thế, Trung Thế và Hạ Thế được diễn tả bằng Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống. Cây này sinh ra con người đầu tiên nguyên khởi, người vũ trụ giống như Mẹ Đời, Mẹ Nguyên Khởi của Mường Việt sinh ra từ Cây Si Vũ Trụ, Kì Dương Vương là người đầu tiên của loài người, vua đầu tiên của Việt Nam với Kì có một nghĩa là Cây (Kì Dương Vương liên hệ với Cây Chiên Đàn đụng tới nóc trời). Con người là tiểu vũ trụ con của đại vũ trụ nên người vũ trụ có hình cây vũ trụ: đầu là Thượng Thế, hai tay dang ra là Trung Thế, chân là Hạ Thế và thân là Trục Thế giới.

Ví dụ điển hình thấy trong vũ trụ quan của Chinh Phục giáo Jainism. Giáo thuyết Jain cho rằng vũ trụ có hình giống hình người.

clip_image001

Theo vũ trụ quan của Jain, hình vũ trụ có hình người vũ trụ (hình chụp từ nghệ thuật Jain, thế kỷ 15-17).

Theo kinh sách Jain, vũ trụ chia ra làm ba phần: trên, giữa và dưới gọi tuần tự là urdhva loka, madhya loka và adho loka. Ta thấy rõ vũ trụ quan của Jain nằm trong thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Vì thế ta thấy rõ ở hình trên của Jain giáo vũ trụ diễn tả bằng hình tháp, phần bầu trên là thể biến dạng của hình bầu nước tương ứng với hình bầu nậm diễn tả nòng nọc, âm dương dưới dạng nhất thể Thái cực hay dưới dạng phân cực là lưỡng nghi. Phần dưới diễn tả tam thế. Hình tháp vũ trụ này nằm trong con người vũ trụ của Jain. Người vũ trụ này tay cầm hình cầu tròn gồm vòng tròn ở tâm diễn tả hư vô, thái cực và lưỡng nghi với ba vòng tròn ngoài diễn tả tam thế (xem Ấn Độ: Nhóm Đền Chinh Phục Giáo Jainism ở Khajuraho).

Rõ ràng thân người ứng với thân Cây Vũ Trụ.

Với nghĩa thân người là cột trụ, ứng với Trục Thế Giới, trunk còn có nghĩa là con đường xe lửa chính coi như là thân cây có các đường phụ tẽ ra giống như cành cây.

Theo tr=th như trăng = tháng, ta có trunk = Pháp ngữ tronc = Latin truncus = thân.

Rõ rnàg hiểu theo nghĩa thân người theo nghĩa thân cây cây là cắt, chặt của Tây phương không chỉnh và hợp lý lắm.

3. Với nghĩa thùng, hòm

Nguyên thủy hòm là quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng như thấy cách chôn người chết trong thân cây của người Mường và một vài sắc tộc ở Trung Nguyên gần đây. Mường Việt có từ săng chỉ hòm, áo quan. Theo s=kh như sáng = Mường ngữ khảng (sáng, trăng, tháng) ta có săng = khăng có nghĩa là cây, khúc cây. Trò chơi đánh khăng gồm có hai khúc cây.

Người Bắc gọi thùng thư là hòm thư. Thùng là một loại rương, hòm. Mường ngữ rương là cái tủ, cái chạn đựng thức ăn.

Ta, cũng thấy trunk có –runk, tronc có –ronc = rương. Theo tr = th như trăng = tháng, ta có trunk = thùng.

.NGỰC, ỨC

Có nghĩa là hộp, tủ, rương, thùng.

 

Ấn Âu ngữ

.chest

Cổ ngữ Anh cest ‘box, coffer, casket’ phát từ gốc Tiền-Germanic *kists (họ hàng với Cổ Norse và Old High German kista, Cổ Frisian, Đức kiste, Hòa Lan kist), Latin cista ‘chest, box’, Hy Lạp kiste ‘box, basket’ có nguồn PIE * kisat ‘woven container’ dùng rộng ra cho thorax, thay thế cho breast (vú).

.kist, cist

‘chest’, Cổ Norse kista ‘chest’, Pháp ngữ caisse, hộp.

.thorax

‘chest of the body’, Latin thorax ‘the breast, chest, breastplate’, Hy lạp thorax ‘breastplate, chest’ có

nguồn gốc không rõ.

Việt ngữ

1. với nghĩa là hòm, hộp, thùng.

.ngực

Ngực là phần trên của thân thể có hình như cái lồng nên còn gọi là lồng ngực, hình như cái hộp, hòm,

tủ, rương. Ta có từ két (thụt két) là phiên âm của Pháp ngữ caisse, thùng liên hệ với Anh ngữ cask, thùng lớn đựng rượu, hàng hóa khô, casket, hộp, tráp nhỏ đựng nữ trang, quan tài. Ta cũng thấy theo k=ch như kết = chết, ta có két = chest. Rõ ràng chest có nghĩa là két, hộp, hòm, thùng.

Nếu hiểu ngực là hộp, khoảng kín như cái hộp, phòng kín thì ngực biến âm với ngục (thất).

Theo h=ch như hết = chết, ta có hộp, hộc (ngăn kéo) = chest. Theo h = c = k, ta có hộp = coffer, hòm, rương, tủ; coffin, hòm, quan tài = Việt ngữ phiên âm cốp như cốp xe.

Anh ngữ thorax có thor- = thùng.

.ức

Ức ruột thịt với Ái Nhĩ Lan ucht, chest, Phạn ngữ uras, uks, chest.

Phạn ngữ uras, ức đi đôi với vú thấy qua từ đôi uras-vaksas (ngực-vú) và vaks-uks (ức) cho thấy ức uras liên hệ mật thiết với vú. Như đã nói ở trên, ngực, vú thường thấy là một trong Ấn Âu ngữ như breast là ngực và cũng là vú. Hiểu theo nghĩa này ta thấy ức có thể biến âm với úc (úc núc là mập, béo phì, béo phình) với ú (mập ú, mập u, mập ù) tức với u (phồng lên) chỉ vú và có nghĩa là mẹ (u là vú là mẹ); Anh ngữ breast cũng có nghĩa là chỗ phồng, u lên. Cổ ngữ breast là bru- là bu là bú, là vú, là u là úc, là ức.

. LƯỜN, SƯỜN.

Ấn Âu ngữ

.rib

Theo Buck, rib có một nghĩa là “cover with a roof” (4.162).

Cổ ngữ Anh rib , từ Gốc Tiền-Germanic *rebja (họ hàng với Cổ Norse, Cổ Saxon ribbi, Cổ Frisian rib, Hòa Lan ribbe, Old High German ribba, Đức rippe) nghĩa đen là ‘a covering’ (of the cavity of the chest), phát từ gốc PIE *rebh- ‘to roof’ (lợp), ‘cover’ (che) (họ hàng với Hy Lạp ereptein ‘to roof’, Old Church Slavonic rebro ‘rib, reef’).

.loin

đầu thế kỷ 14, chỉ ‘side of the body of an animal used for food’ (phần bên cạnh của thân con vật dùng làm thức ăn), từ Cổ ngữ Pháp loigne ‘hip’ (khớp xương đùi-chậu), ‘haunch’ (háng), ‘lumbar region’ (vùng thắt lưng, lưng); Latin thông dụng *lumbea, từ *lumbea caro ‘meat of the loin’, phát từ Latin lumbus ‘loin’.

Cổ ngữ Anh lendenu ‘loin’, từ Tiền-Germanic *landwin- (họ hàng với Đức lende ‘loin’, lenden ‘loins’, Cổ Saxon lendin, Hòa Lan lende, Cổ Norse lend).

Việt ngữ

1. Hiểu theo nghĩa che.

Ta thấy rib = roof (mái che) = rợp (chỗ mát có tàn cây che, mái che, bóng rợp).

Theo r=l, ta có rợp = lợp: to roof là lợp (mái nhà) và rib = liếp (vật che, phên che).

Rõ ràng rib = roof = PIE * rebh-, ‘to roof, cover’ = rợp = lợp = liếp.

2. Hiểu theo nghĩa rương, hòm, hộp, ngực.

Đây là nghĩa hoán đổi tên theo vị trí với chest, rương, hòm, tủ, hộp, lồng ngực.

Ta có rib = rương (hòm, thùng, hộp, ngực). Mường ngữ rương là tủ, chạn đựng thức ăn.

3. Hiểu theo nghĩa chống đỡ, cột trụ.

Sườn nhà, sườn tầu giống như cái khung, cái lồng xương. Mường ngữ rường là giàn như rường pướp = giàn mướp. Với nghĩa này ngoài nghĩa che chở ra, sườn có nghĩa là chống đỡ. Ta thấy rõ qua từ rường cột nghĩa là rường = cột. Nga ngữ kost, Balan ngữ kosc, sườn, có kos- = cột. Rõ ràng rường là khung, dàn, sườn chống đỡ cùng với cột trụ.

. Việt ngữ giường ruột thịt với Mường ngữ rường (giàn). Giường mằm nguyên thủy là một thứ giàn kê cao khỏi mặt dất  để nằm. Hải quân Mỹ gọi giường là rack. Rack là giá thường gồm cái khung có thanh  để vật gì. Rõ ràng giuờng là rường là rack. Ta thấy rack cũng  ruột thịt với rib, sườn, một thứ khung, giàn chống đỡ, che ngực (lồng ngực) như rack of lamb sườn cừu non.

Ta có rường =  lườn = rib = rack.

Ta có rib = rường hiểu theo rường là giàn, cột chống đỡ, là giường, là rack.

4. Hiểu theo nghĩa là bên cạnh.

Ta có từ đôi cạnh sườn nghĩa là sườn = cạnh, bên cạnh, sườn hàm nghĩa hai bên cạnh lồng ngực, sườn đồi, sườn núi; Pháp ngữ côte, sườn, có một nghĩa gần cận với côté, cạnh.

Theo r=l, ra có rường = lườn, có nghĩa là cạnh, mé bên thân. Sườn có nghĩa là lườn thấy rõ qua câu ca dao:

Đàn ông đóng khố đuôi lươn,

Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh.

Lườn với nghĩa cạnh sườn thấy rõ qua sự kiện là thịt lườn khác với thịt xương sườn. Rõ hơn thịt lườn liên hệ với Anh ngữ loin với nghĩa là ‘side of the body of an animal used for food’ như đã nói ở trên.

.VÚ

Đã viết.

.BỤNG

Đã viết.

.NGŨ TẠNG

Có bài viết riêng.

.RỐN

Ấn-Âu ngữ

.navel

Cổ ngữ Anh nafela, nabula, từ gốc Tiên-Germanic *nabalan (họ hàng với Cổ Norse nafli, Đan Mạch và Thụy Điển navle, Hòa Lan navel, Đức nabel, từ nguồn PIE *(o)nobh- ‘navel’ (Phạn ngự nábhi, nabila ‘navel, nave’, Avestan nafa ‘navel’, Ba Tư ngữ naf, Cổ Prussian nabis ‘navel’).

.umbilical

Latin umbilicus ‘navel’, Hy Lạp omphalos, Cổ Irish imbliu, có nguồn từ PIE *ombh-alo-, từ gốc *(o)nobh- ‘navel’. Cổ Pháp lombril có gốc từ l’ombril đẻ ra Pháp ngữ hiện kim nombril.

Ta thấy navel và umbilicus cùng phát gốc từ một gốc PIE *(o)nobh-. (một lấy cả O, một bỏ O).

Các nguồn gốc khác:

Lithuanian bamba, Phạn ngữ bimba- ‘disk, sphere’. Hy Lạp bembis có nghĩa đen là ‘whirpool’ (xoáy nước). Old Church Slavonic papuku, Lithuanian pumpura ‘bud’ (mầm, chồi).

Rốn được coi là trung tâm của tình dục phái nữ và ở Trung Đông, Ấn Độ, Nhật Bản rốn được coi là trung tâm của vũ trụ. Thành pgố Cuzco ở Peru, thủ đô cũ của Đế Quốc Inca, tiếng Quechua Cuzco có nghĩa là ‘rốn’ với nghĩa là trung tâm của vũ trụ hiểu theo nghĩa rốn là trung tâm của con người. Các nơi khác cũng được cho là cái rốn của vũ trụ là Delphi, Jerusalem, Roma, Đảo Phục Sinh (Easter Island) và Núi Kailash (Ngân Sơn) ở Tây Tạng.

Việt ngữ

.rốn

1. với nghĩa lún, lõm, lỗ.

Rốn với nghĩa lõm, điểm trũng nhất thấy qua rốn chỉ là phần lõm của ở đáy hồ nước (để có thể tháo được hết nước ra), rốn biển. Theo r=l =n, rún = lún, rốn = lõm. Ta thấy rốn có nghĩa là lõm sâu rõ nhất qua từ nadir (ngược với thiên đỉnh zenith) chỉ chỗ lõm sâu, thấp nhất của quả đất (rốn đất), của Trục Vũ Trụ (rốn vũ trụ) vì thế nadir cũng được coi là rốn đất, rốn vũ trụ. Rún biến âm với rùnco thâu làm cho thấp xuống’ (Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị).

Rốn có rố- = rỗlỗ như mặt rỗ. Theo r=l, rỗ = lỗ. Lù là lỗ, biến âm của lỗ (đóng lù). Tày ngữ là lỗ.

Rổ là đồ dùng đan bằng tre có lỗ lớn..

Theo l=n, ta có lõm = lúm = núm. Núm với nghĩa lõm thấy qua từ má núm đồng tiền. Chỗ lõm hình tròn như đồng tiền ở má trông giống cái rốn.

Anh ngữ navel cùng gốc nave. Có một nghĩa là trục bánh xe. Anh ngữ xưa nauger, cái khoan lỗ, khoan lỗ trục bánh xe (ngày nay giản lược còn lại auger).

Với nghĩa liên hệ với lỗ, lõm này rốn liên hệ với nauger, nave, PIE * (o)nobh- ‘navel, nave’.

Ta có lỗ = lõm = núm = PIE *(o)nobh.

Một điểm cũng cần nói thêm là Việt dùng rốn với nghĩa cuống nhau như thấy qua từ cắt rốn tức cắt cuống nhau

Nguyễn Khuyến có câu thơ:

Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Thật ra hoa sau khi kết quả, phần còn lại khô teo lại tương đương với cuống nhau, rụng đi để lại cái ‘sẹo’ tròn ở đầu quả gọi là rốn.

Việt ngữ rốn hiểu theo nghĩa cuống nhau, nhau có thể hiểu theo dạng hoán đổi tên theo vị trí kề cận. Nếu hiểu theo cách này Anh ngữ navel, Trung Cổ Anh ngữ naue (v=u), PIE *(o)nobh- có thể liên hệ với Việt ngữ nau, nhau (dĩ nhiên phải hiểu rốn của Ấn Âu ngữ theo nghĩa của nhau của Việt ngữ).

Rốn hiểu theo nghĩa liên hệ với sinh tạo, nguồn gốc của sự sống (liên hệ tới lá nhau, nguồn dinh dưỡng của thai nhi), liên hệ với mẹ sinh tạo nên còn có nghĩa là trung tâm của đất gọi là rốn đất, của vũ trụ gọi là rốn vũ trụ.

Ví dụ rõ nhất rốn liên hệ với Mẹ Sinh Tạo, Tạo hóa là vùng Delphi, Hy Lạp được coi là trung tâm, rốn vũ trụ có nguồn gốc là đất của nữ thần Gaia, Mẹ Tạo Hóa của Hy Lạp (xem Hy Lạp: Delphi, Rốn Vũ Trụ, Trung Tâm Tiên Tri trong số này, Categories Du Lịch).

.BỘ PHẬN SINH DỤC

Có bài viết riêng.

.LƯNG

Ấn Âu ngữ

.back

Theo Buck trong Ấn Âu ngữ, có nhiều trường hợp ‘back’ dựa trên sự nối dài của ‘backbone’ (xương sống), ‘spine’ (sống lưng), ‘shoulder’ (vai), loin… (4.19).

Cổ ngữ Anh bœc ‘back’, phát từ Tiền-Germanic *bakam (họ hàng với Cổ Saxon bak, Cổ Frisian bek)

Việt ngữ

.lưng

Với nghĩa là phần nối dài của sống lưng, cột sống, Việt ngữ lưng biến âm với Mường rương là lưng. Theo l=r, lưng = rương. Rương biến âm của rường là giàn, vật chống. Ta có từ rường cột nghĩa là rường = cột. Theo r=l, rường = Hán Việt  lương (rường cột). Như thế lưng = rương = rường = lương = cột. Lưng là rường, là lương, là cột của thân người. Qua từ cột sống, cột sống lưng ta cũng có sống (lưng) = cột. Qua từ đôi sống lưng nghĩa là lưng = sống. Sống có nghĩa là phần chống đỡ. Sống có nghĩa là nọc, que như gà sống là gà qué, gà que, gà nọc, gà đực. Anh ngữ cock là gà cọc, gà sống và cock cũng có nghĩa là cọc là cược, c…c. Theo s =ch như sửa = chữa, ta có sống = chống. Sống lưng là phần xương chống đỡ thân thể. Như đã nói ở trên, ta có từ đôi cột sống nghĩa là sống = cột. Xương lưng là cột trụ chống đỡ thân thể. Sống là phần gọng như sống dao. Theo s=g như sối = gội, ta có sống = gọng. Sống dao hàm nghĩa gọng là phần cột trụ của dao. Sống dao cũng hàm nghĩa chỉ phía lưng dao đối diện với phía trước lưỡi dao.

Lưng hiểu theo Mường ngữ rương liên hệ với Cổ ngữ Anh hrycg, Hòa lan ngữ rug, Đan Mạch ryg, lưng.

Lưng hiểu theo nghĩa là phần nối dài của sống lưng như trong Ấn Âu ngữ liên hệ với loin, lumbar. Latin lambae

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: