SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 16) QUA NHỮNG NHỮNG TỪ THÂN THỂ: a. ĐẦU

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 16)

QUA NHỮNG NHỮNG TỪ THÂN THỂ

a. ĐẦU

Nguyễn Xuân Quang

 

Qua 100 từ căn bản quân bằng bền hay ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh và 15 từ căn bản ổn định nhất đề nghị bởi Dolgopolsky để chẩn đoán sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ, ta đã thấy rất rõ có sự LIÊN HỆ (nói một ­cách tổng quát) giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ. Phần lớn các từ này nằm trong các nhóm từ được cho là căn bản quân bằng bền như nhân xưng đại danh từ (đã viết), từ phủ định (đã viết), các số đếm (đã viết), các từ về bộ phận thân người…
Trong 100 từ đề nghị bởi Morris Swadesh và trong 15 từ đề nghị bởi Dolgopolsky, có nhiều từ căn bản ổn định về thân thể con người.
Để cho chắc chắn thêm nữa, để thuyết phục hơn nữa, tôi sẽ đi sâu vào so sánh tất cả các từ về thân thể con người từ đầu tới chân dù là căn bản ổn định hay không ổn định. Những từ đã có trong danh sách của Morris Swadesh và Dolgopolsky xin không viết lại.

Tổng quát

Trong Ấn Âu ngữ có nhiều từ chỉ các phần thân thể thuộc vào những nhóm di truyền phản ánh rõ rệt chỉ các phần thân thể về cả bên ngoài lẫn bên trong thân thể. Những từ chỉ các phần bên trong được gọi tên do sự cắt xẻ thú vật dùng làm thực phẩm hay để hiến tế thường thấy ở xã hội con người thời thái cổ. Ngoài một số từ có gốc và nghĩa ngữ còn mù mờ, phần còn lại các từ chỉ các phần thân thể phần nhiều mang ý niệm thường liên hệ với vị trí, vị thế hay hình dạng hơn là với chức vụ. Ví dụ Anh ngữ eye (mắt) không liên hệ gì tới nhìn (to see).

Chỉ một phần nhỏ mới liên hệ tới chức vụ như Latin dens, Pháp ngữ dent , Old Indic dant-, Phạn ngữ dant, IE *dont-, *dnt, răng. IE *don’t-, *dnt chính là quá khứ phân từ của động từ *ed, eat (ăn); hand (tay) liên hệ với take (lấy, cầm), grasp (nắm), gather (lượm, hái).

Một đặc điểm cần phải ghi nhớ là thường có sự chuyển đổi tên theo chỗ, vị trí giữa những từ chỉ các phần thân thể kế cận nhau, có vị trí như nhau, liên kết chức vụ với nhau ví dụ ‘horn’ với ‘head’ (‘sừng’ với ‘đầu’,

‘belly’ (bụng) với ‘womb’ (dạ con), ‘chest’ (ngực) với ‘breast’ (vú))…

Không những thế sự hoán đổi tên này còn xẩy ra giữa hai ngôn ngữ mẹ con hay chị em ví dụ Anh ngữ jaw (hàm) hoán đổi với Pháp ngữ joue (má).

Tất cả những điều nêu trên đều thấy trong Việt ngữ, y hệt như Ấn-Âu ngữ.

Ví dụ

-Những từ chỉ các liên hệ tới mổ xẻ thú vật dùng làm thực phẩm như miếng chỉ phần thịt cắt ra dùng làm

bữa ăn (meal) như thấy qua ‘một miếng giữa làng bằng một xàng xó bếp’ (xem thịt)…

-Những từ chỉ những phần thân thể dùng vào việc hiến tế, thờ cúng trong Việt ngữ như thịt giết để hiến tế.

-Việt ngữ cũng có hiện tượng hoán đổi tên theo vị trí giữa những từ chỉ các phần thân thể kế cận nhau, liên kết chức vụ với nhau ví dụ Việt ngữ có ‘đầu sừng’ hay ‘sừng sỏ’(đầu = sỏ = sừng), ‘bụng dạ’ (bụng = dạ), vú ngực (vú = ngực), chân cẳng (chân foot = cẳng leg), ‘cổ họng’ (cổ neck = họng throat)…

Cũng như trong Ấn Âu ngữ sự hoán đổi tên cũng xẩy ra giữa hai ngôn ngữ mẹ con hay chị em như đã thấy ở trên qua Anh ngữ jaw với Pháp ngữ joe, Việt ngữ cũng có hiện tượng này với các tộc trong Ấn Âu ngữ ví dụ như Việt ngữ cấmrăng hàm hoán đổi tên theo vị trí với cầm, cằm, với Anh ngữ chin, Việt ngữ hoán đổi tên với Anh ngữ mandible (hàm dưới), Pháp ngữ maxillaire (hàm trên)…

-Ngoài ra, một số từ cũng gọi theo chứ vụ như dăng (răng) gọi theo ăn. Dăng ruột thịt với phương ngữ Huế đẫn là đớp, ăn tạp, Mường ngữ đểnh, cắn, doch là nuốt (doch biến âm với nốc là ăn tạp, uống tạp như nốc nấy nốc để, nốc rượu ừng ực). Với d câm như dẩy = ẩy, ta có dăng = ăng = eng (phát âm Bình Định) = ăn.

….

Theo sách cách trí sơ học, học hồi nhỏ thì thân thể người ta chia ra làm ba phần: đầu, mìnhtay chân. Tôi sẽ viết theo bố cục này.

A. ĐẦU

 

.Đầu

Đã viết.

.Óc

.Ấn-Âu ngữ.

cerebral, thuộc về óc, phát gốc từ Pháp ngữ cérébral, Latin cerebrum ‘the brain’ có nguồn gốc PIE *keres, từ gốc *ker- ‘top of the head’ (‘đỉnh đầu’).

Thật sự *ker- có một nghĩa gốc là sừng. Sừng hoán đổi tên với sọ thấy qua từ đôi sừng sỏ vì thế mà *ker- có thêm nghĩa là ‘top of the head’. Ta thấy sừng là vật cứng: theo s=c, ta có sừng = cứng. Việt ngữ có từ ‘sửng cồ lên’ có nghĩa gốc là ‘cứng cu lên’. *Ker- ruột thịt với gốc Phạn ngữ kar, to be hard (cứng). Gốc Hy Lạp keras (sừng) như keratitis là sưng màng sừng mắt, Pháp ngữ cerf (hươu) là con thú đực có sừng… (xem Horn).

Ta cũng thấy ceramic là đồ sành có gốc kera-, sừng, cứng. Đồ sành cứng hơn đồ đất nung thường (terra cotta). Việt ngữ sành biến âm với sạn (đá nhỏ như sỏi, ta có từ đôi sạn sỏi) cũng có nghĩa là cứng. Ta thấy sành cứng đi đôi với đá cứng (cứng như đá) qua câu “L… sành, da đá, đít mảnh cong” chỉ phụ nữ đanh đá’. Sành biến âm sạn, với sand (cát, một thứ bụi đá), calculus (sạn).

Theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ “most of the words for ‘horn’ belong to a single group of cognates which includes words for horn, head, summit, etc” (tr.208).

Tóm lại cerebral, cerebrum, óc có một nghĩa là đầu, sọ là vật nằm trong đầu sọ. Việt ngữ cũng vậy, qua từ đôi đầu óc ta có óc = đầu.

.Với nghĩa là ‘top of the head (nóc đầu) thì óc có thể là dạng giản lược của nóc: với n câm (như nõ = õ là không, neo = eo là ít như neo người), ta có nóc = óc. Qua từ đôi óc nóc đầy vun (Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị), đầy tới ngọn, tới nóc, ta có óc = nóc. Óc có nghĩa là đỉnh, chỗ cao, chỗ nóc đầu thấy rõ qua câu ví chán lên tới tận óc rồi và cùng nghĩa với nóc: dột từ dột nóc dột xuống. Với nghĩa óc là ‘top of the head’, nóc đầu, óc có thể liên hệ với occiput có một nghĩa là chỏm sau đầu. Danh từ y khoa occiput là chẩm biến âm với chỏm (xem ót ở dưới).

.Với nghĩa là sừng, cứng, óc có thể liên hệ với os có một nghĩa là xương. Xương là phần cứng trong cơ thể. Theo x = c, ta có xương = cương = cứng. Óc là phần nằm trong sọ cứng.

Con hào oyster là loài thân mềm (nhuyễn thể) nằm trong vỏ cứng, Hy Lạp ngữ ostrakon, vỏ sò liên hệ với xương os (xem bone). Ta cũng thấy óc biến âm với ốc (một thứ hào, sò oyster) giống như biến âm với sọ, sỏ. Như đã nói ở trên qua từ đôi sừng sỏ ta có sỏ = sừng = cứng. Ta cũng thấy sọ, sỏ biến âm với sậu, sẩu có nghĩa là cứng như sáo sậu là sáo đá (đá có một nghĩa là cứng, cứng như đá). Sậu ruột thịt với Mường ngữ khũ là đá, núi đá (kh Mường = Việt ngữ s như Mường ngữ khú, thuồng luồng có cốt cá sấu = cá sấu). Sáo sậu là sáo khũ, sáo đá. Ngô sậungô cứng. Xin nhắc lại ngô, bắp là hột cứng tựa sừng như thấy qua Anh ngữ corn (ngô, bắp và cũng chỉ chỗ lớp sừng da nổi cộm lên thành chai cứng) ruột thịt với Latin cornus, Ý ngữ corno, Pháp ngữ corne có nghĩa là sừng. Hột ngô gọi là kernel có gốc PIE * ker-, *keres.

Corn nói chung là hột cứng như acorn, hột cây sồi, dẻ rừng và cũng có nghĩa là sọ như tiêu hột peppercorn còn gọi là tiêu sọ. Mường ngữ khãu là ngô. Khãu biến âm khũ (đá), với sậu (cứng) liên hệ với New Persian surù, horn, Avestan. srù, horn.

Sẩu, xẩu là cứng là xương (xương xẩu): là sỏ, sọ (‘xin khúc đầu những xương cùng sẩu’) là sừng, là cerebrum (với nghĩa cứng và óc).

Tóm lại

Với nghĩa liên hệ với đầu theo nghĩa ‘top of the head’, óc là phần nằm trong nóc đầu, là đầu (đầu óc). Với nghĩa nằm trong sọ, sỏ cứng như sừng theo nghĩa cerebrum thì óc biến âm với ốc, oyster, Hy Lạp ngữ ostrakon, vỏ sò và với xương os.

.Não

Hán Việt não là óc.

.Ấn-Âu ngữ.

Cổ ngữ Anh brægen “brain” phát từ gốc Tiền-Germanic *bragnam (họ hàng với Middle Low German bregen, Cổ Frisian và Hòa Lan brein), có gốc từ gốc PIE * mregh-m(n)o- ‘skull, brain’.

Như thế brain cũng có một nghĩa là sọ, đầu (hàm nghĩa nằm trong sọ, đầu).

Cổ Pháp ngữ nerf, Latin Trung cổ nervus ‘nerve’, Latin nervus ‘sinew’ (gân cơ, gân thịt), ‘tendon’ (gân), ‘cord’ (dây, dợ), ‘bowstring’ (dây cung) biến dạng của Tiền-Latin *neuros, có gốc PIE *(s)neu- ‘tendon, sinew’ (họ hàng với Phạn ngữ snavan- ‘band, sinew’, Mỹ neard ‘sinew’, Hy Lạp neuron ‘sinew, tendon’. Dùng với nghĩa là ‘sợi dây chuyên chở xung động thần kinh từ não ra cơ thể’ từ năm 1.600. Việt ngữ dịch là ‘dây thần kinh’.

.Việt ngữ

1.với nghĩa sọ, đầu.

Giống như brain, Hán Việt não cũng hàm nghĩa là đầu. Qua từ đôi đầu não ta có đầu = não. Theo n= đ như này = đây, ta có não = đầu.

Não biến âm với gốc Hy Lạp neuros hiểu theo nghĩa chung là hệ thống thần kinh gồm não bộ và dây thần kinh như neurology là khoa thần kinh học. Thật ra như đã biết, neuro có nghĩa gốc là dây thần kinh.

.Với nghĩa dây thần kinh.

Theo ao = êu như ngao = nghêu, ta có não = gốc Hy Lạp neuros= Anh, Pháp nerf, thần kinh. Theo biến biến âm kiểu não nuột, ta có não = nuộc. Nuộc là sợi dây cột như thấy qua từ đôi nuộc lạt (lạt là dây cột thường làm từ tre). Nuộc là vòng dây (Lê Ngọc Trụ, ViệtNgữ Chánh Tả Tự Vị). Như thế Hán Việt não gốc có một nghĩa liên hệ với Việt ngữ nuộc (dây), nghĩa là với Ấn Âu ngữ PIE *(s)neu-, ‘tendon, sinew’, với nerf, nervus, neuro-…

Như vậy não hiểu theo bộ óc có một nghĩa là đầu nếu hiểu theo dây nuộc có nghĩa là dây thần kinh.

Cũng nên biết thần kinh với kinh có một nghĩa là kinh mạch. Thần kinh là ‘mạch tâm thần’

Ta có não = neuros (có một nghĩa tổng quát là hệ thần kinh) = nuộc = nervus = nerf = PIE *(s)neu (dây thần kinh).

.Tóc

Đã viết.

.Trán

phần mặt ở giữa chân tóc và lông mày.

. Ấn-Âu ngữ

Forehead phát từ Cổ Pháp ngữ front ‘forehead, brow’, Latin frontem (frons)‘forehead, brow, front, forepart’ có lẽ có nghĩa đen ‘that which projects’ có nguồn cội từ PIE *bhront-, từ gốc *bhren- ‘to project, stand out’.

.Việt ngữ

Với nghĩa phần phía trước mặt, trước đầu, Việt ngữ trán, chán biến âm với lán chán, láng cháng là lẩn quẩn trước mặt.

Trán liên hệ với Cổ ngữ Irish taul ‘forehead’, Welsh tal ‘forehead, front, end’, Cổ ngữ Breton tal ‘forehead’.

Theo x= ch = (xếp = chef), ta có chán, trán = *IE *xant- ‘front’.

.Mặt

Đã viết.

.Mắt

Đã viết.

.Mày

Lông che trên mắt.

.Ấn-Âu ngữ.

eyebrow

Cổ ngữ Anh brœw (Tây Saxon), *brew (Anglian) từ gốc Tiền-Germanic *brœwi- ‘blinker, twinkler’ (họ hàng với Cổ Frisian bre, Old High German brawa ‘eyebrow’, Cổ Norse bra ‘eyebrow’, Gothic brahw ‘twinkle, blink’). Phạn ngữ bhrus ‘eyebrow’, Cổ Irish bru ‘edge’.

Những từ ‘eyelid’, ‘eyelash’ (lông mi) và ‘eyebrow’ (lông mày) thay đổi hỗn độn trong Cổ và Trung Anh ngữ và trong tất cả nhóm ngôn ngữ Tây Germanic.

Cổ ngữ Anh brœw, bru có thể có nghĩa gốc là eyebrow nhưng dùng rộng ra cho cả ‘eyelash’ (lông mi) rồi ‘eyelid’ (mí mắt) bằng cách liên kết với lông của lông mày với lông của mí mắt.

.Việt ngữ

mày (lông).

Mày biến âm mẹ con với mài là vật che như mài ốc là vẩy che miệng ốc, mài ghẻ là vẩy ghẻ. Cũng giống Việt ngữ, Tây Ban Nha ngữ ceja ‘eyebrow’ ruột thịt với Latin celare ‘hide’ (che, ẩn).

Với nghĩa là che, Việt ngữ mày = Phạn ngữ bhrus, lông mày. Theo m = b (mồ hôi = bồ hôi), ta có mày = mài = mai (mai rùa, tóc mai là tóc che mang tai) = mu = b(hr) u-.

Như đã nói ở trên, trong Ấn Âu ngữ lông mày dùng rộng ra cho lông mi, mí mắt, trong Việt ngữ ta thấy lông mi mọc ở mí mắt cũng che mắt và từ mi có một nghĩa cùng nghĩa với mày như chúng mi = chúng mày. Trường hợp này giống Cổ ngữ Anh bru, eyebrow = Cổ Irish bru ‘edge’ (mé, mí). Nếu hiểu theo nghĩa này ta cũng thấy l ông mày dùng rộng ra với lông mi. Tuy nhiên, mặt khác mi là biến âm mẹ con với (mắt) nên có thể mi chỉ lông che mắt mọc ở mí mắt phân biệt hẳn với lông mày.

Ta thấy ở đây Việt ngữ cho thấy nguyên nghĩa rất rành mạch, chí lý của lông mày là lông che chở mắt giống như tây Ban Nha ngữ ceja ‘eye brow’ ruột thịt với Latin celare ‘hide’. Nếu hiểu theo nghĩa che thì ta có Cổ ngữ Anh bru = mu = mai = mài = mày. Còn những giải nghĩa khác của eyebrow trong Ấn Âu ngữ như bru là twinkle, blink đều nhìn theo chiều hướng khác và có thể xa vời, lệch lạc.

Mày liên hệ với Ái Nhĩ Lan ngữ mala, brai (lông mày).

.Mũi

Đã viết.

.Mồm

Đã viết.

.Môi

.Ấn-Âu ngữ

lip

Trong Ấn Âu ngữ môi thường có nghĩa là ‘hanging down’ (thòng xuống), ‘projecting’ đưa ra, một vài từ khác liên hệ với miệng, lưỡi. Việt ngữ cũng có những nghĩa này nhưng còn có thêm nghĩa khác chí lý hơn (xem dưới).

Cổ ngữ Anh lippa, từ gốc Tiền-Germanic *lepjon (họ hàng với Cổ Frisian lippa, Middle Dutch lippe, Hòa Lan lip, Old High German lefs, Đức lefze, Thụy Điển läpp, Đan Mạch læbe, Latin babium có gốc từ PIE*leb- ‘to lick; lip’.

Như đã biết, trong Ấn-Âu ngữ có hiện tượng hoán đổi tên theo vị trí của những phần thân thể hay có hiện tượng nghĩa lệch trong một ngôn ngữ hoặc giữa các ngôn ngữ với nhau. Ví dụ trong Ấn Âu ngữ môi hoán đổi với miệng như Phạn ngữ oṣṭha-, môi, hoán đổi tên theo vị trí với Latin os là miệng; Pháp ngữ bouche, Tây Ban Nha ngữ boca, miệng hoán đổi với Latin bucca (má phình, má phính). Việt ngữ cũng vậy, môi hoán đổi với mouth, muzzle, mug của Anh ngữ.

.Việt ngữ

-với nghĩa che.

Môi là phần che (miệng, bộ phận sinh dục nữ). Môi biến âm với mai, vật che (như mai rùa, mai cua), mái (nóc nhà che mưa nắng, mái tóc che đầu), mài (vẩy che như mài ốc che miệng ốc), mày (lông che mắt), mui (mái che thuyền, xe như mui thuyền, mui xe…).

Trong khi đó, như đã nói ở trên, Anh ngữ lip được các nhà tầm nguyên ngữ học Tây phương cho là có nguồn gốc từ PIE * leb ‘to lick’ (liếm) có nghĩa là có gốc từ lưỡi. Đây có thể là nhìn theo diện hoán đổi tên theo vị trí giữa lip (môi) và *leb (liếm, lưỡi). Việt ngữ cũng có nghĩa môi đi đôi với lưỡi như thấy qua từ đôi mối lái. Mối là biến âm của môilái là biến âm của Mường ngữ lãi là lưỡi. Mối lái là giới trung gian dùng môi lưỡi, đầu môi chót lưỡi.

Tuy nhiên nếu nhìn theo nghĩa môi của Việt ngữ là vật che đậy thì lip cũng phải có nghĩa là vật che đậy. Thật vậy ta thấy ngay lip = lấp (che) = liếp (vật che, phên che). Lip ruột thịt với Việt ngữ liếp (vật che). Và rõ ràng Anh ngữ lip (môi), biến âm với lid (vật che đậy), Latin labrum, labia với Việt ngữ lắp (nắp), lấp (che). Hy Lạp ngữ cheilos, lip hiểu theo nghĩa che ta có che– = che.

Tóm lại lip = lid (vậi che, nắp đậy) = Việt liếp (phên che) cùng nghĩa với Việt ngữ môi là vật che giống như Hy Lạp ngữ cheilos có che- = Việt ngữ che.

Ở đây một lần nữa Việt ngữ giúp tìm thêm được một nguồn gốc nghĩa có thể là đích thực của Ấn Âu ngữ.

-với nghĩa liên hệ với miệng, mép.

Ta có từ lép nhép (môi miệng lép nhép cả ngày). Theo l=nh, lép = nhép (môi). Ta cũng thấy Anh ngữ lip = lép. Hát nhép là hát nhép môi theo bài hát đã thâu sẵn rồi phát ra. Hát nhép = lip sing. Rõ ràng lip = lép = nhép.

Theo nghĩa hoán đổi vị trí, ta có môi liên hệ với miệng, mồm, mõm, mouth, mug, muzzle, Pháp ngữ museau, Ý ngữ muso…

-với nghĩa thòng xuống (hanging down), đưa ra (projecting).

chề, trề (môi)

liên hệ với cheilos hiểu theo nghĩa môi là vật đưa ra.

bĩu (môi)

bĩu môi có những biến âm phìu, phều, vều, vêu, vao, vêu vao (b=ph =v như bành = phành = vành) liên hệ với Anh ngữ pursee, pout (bĩu môi), với Ái Nhĩ Lan ngữ bèl (môi), Rumania ngữ buză (môi), Bohemian ngữ (Tiệp Khắc) vel, Ba Lan ngữ warga (môi)…

.Lưỡi

Đã viết.

.Răng

Đã viết,

.Má

.Ấn-Âu ngữ.

cheek, má.

Cổ ngữ Anh ceace, cece ‘jaw, jawbone’ (hàm, xương hàm), Cổ ngữ Anh muộn thêm nghĩa ‘the fleshy wall ot the mouth’(‘vách thịt của miệng’), có lẽ phát từ gốc cổ Anh ngữ ceowan ‘chew’ (nhai) phát từ gốc Tiền-Germanic *kaukon (họ hàng với Middle Low German kake ‘jaw, jawbone’, Midlle Dutch kake ‘jaw’, Hòa Lan kaak).

Buck nhận thấy rằng “there is considerable interchange between ‘jaw’, ‘cheek’ and ‘chin’ notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheek và chin, đáng để ý là trong nhóm các chữ họ hàng có liện hệ rộng lớn). Như đã thấy ở trên cheek hoán đổi tên với jaw và cheek cũng hoán đổi với chin, cằm, cầm. Pháp ngữ joue (má) hoán đổi với Anh ngữ jaw (hàm)…

.Việt ngữ

má biến âm của . Má là mé bên của mặt. Mường ngữ mả là mé. Kiểm chứng lại với Phạn ngữ. Ta thấy rất rõ Phạn ngữ , ‘on the one side’, trên một mé, một bên, ta cũng thấy rõ như ban ngày vâ = vệ (đường), ven, bên. Theo v=m (váng = màng), ta có vâ = má, mả, mé. Lettic ngữ mala ‘edge’, mé.

Ngoài ra trong Việt ngữ cũng có hiện tượng má hoán vị với Ấn Âu ngữ như Việt ngữ liên hệ với Anh ngữ maxillary, mandibule, Latin màla, Ý mascella, Pháp ngữ mâchoir, hàm.

Việt ngữ má ruột thịt với Anh ngữ malar, thuộc về má. Malar có ma- = má, mé.

Má hoán đổi với cằm, cầm như với Ái Nhĩ Lan ngữ smech, Tân Islandic smeig, smig, Lithuanian smakras, Letiic smakrs có nghĩa là cằm.

Ở đây ta cũng có thể dùng Việt ngữ tìm ra nghĩa gốc đích thực của cheek. Như đã nói ở trên má trong Việt ngữ có nghĩa là của mặt. Như thế cheek cũng phải có nghĩa là mé, bên (của mặt) như Việt ngữ. Theo ch=s (chữa = sửa), ta có cheek = sít, sát (bên), theo ch=k (chết = kết), cheek có chee- = kế, kề (bên), ta cũng thấy theo ch=s, cheek = side, bên, mé.

.Hàm

 

.Ấn-Âu ngữ.

jaw, hàm

cuối thế kỷ 14 chỉ ‘xương miệng’có lẽ từ gốc Pháp joue ‘cheek’, từ Gaulish *gauta, má hoặc có lẽ là biến dạng của Germanic liên hệ với ‘chew’ (nhai).

Thay thế Cổ ngữ Anh ceace, ceafl.

.Việt ngữ

.hàm

ruột thịt với Phạn ngữ hanu, hàm.

.cấm

cấm là hàm, theo c=h như cùi = hủi , cấm = hàm: răng cấm là răng hàm. Theo j=ch, jaw = chàm, với h câm chàm = cấm. Phạn ngữ jambha (jabh+a), jaw, có jam- = chàm = cấm.

.cằm, cầm

hàm cũng hoán đổi tên với cằm, cầm như trong Việt ngữ ta thấy theo h=c, hàm = cằm, cầm và hàm = cấm = cầm, cằm.

Ta có có hàm = cấm = cằm, cầm = cin = chin (xem dưới).

.chệu, chệu chạo

hàm gọi theo chức vụ là nhai như “tay làm hàm nhai”, ta có jaw = chew = chệu, chệu chạo (nhai chệu chạo).

.gặm, gậm

theo h=g như hóa = góa (chồng), ta có hàm = gặm, gậm. Theo j = g như jardin = garden, ta có jaw = gặm, gậm.

.nhá, nhấm

nhá là gậm, ăn; nhấm biến âm với gậm.

Việt ngữ nhá = Anh ngữ gnaw, gậm, nhấm = gnash, nghiến (răng).

Hàm dưới

.Ấn-Âu ngữ

mandible

cuối thế kỷ 14 mandible có nghĩa là ‘jaw, jawbone’, phát từ Trung Cổ Pháp mandible và trực tiếp từ Latin muộn mandibula ‘jaw’, từ Latin mandere ‘to chew’, có gốc từ PIE* mendh- ‘to chew’ (họ hàng với Hy Lạp mastax ‘the mouth, that with which one chews; morsel, that which is chewed’, masasthai ‘to chew’, mastikhan ‘to gnash the teeth’).

.Việt ngữ

Mường ngữ màng là ăn, nhai (trầu).

Em có dạ lòng thương,

Thì em lấy trầu mà màng.

(Hoàng Anh Nhân, Tuyển Tập Thơ Mường, t. II, tr.227)

màng là nhai ruột thịt với mandible, hàm hiểu theo nghĩa chức vụ của hàm là nhai, ăn. Tục ngữ có câu “Tay làm hàm nhai”, “Ăn có nhai, nói có nghĩ”. Màng, nhai liên hệ với Pháp ngữ manger, ăn. Hiển hiên màng ruột thịt với mandible, Latin mandere ‘chew’, với PIE *mendh- ‘to chew’, Pháp ngữ manger, ăn.

Ta cũng thấy rõ màng với nghĩa (nhai) miếng (trầu) ruột thịt với Hy Lạp masteax với nghĩa miệng, (nhai), miếng morsel.

Hàm trên

.Ấn-Âu ngữ

maxilla

là ‘jaw, jawbone’, từ Latin maxilla ‘upper jaw’, dạng giảm thiểu là mala ‘jaw, cheekbone’.

.Việt ngữ

má rõ ràng ruột thịt với maxilla với nghĩa hàm trên theo hoán đổi vị trí và rõ hơn với mala với nghĩa xương gò má cheekbone.

.Cằm, Cầm

.Ấn-Âu ngữ.

Cổ ngữ Anh cin, cinn ‘chin’ (nhưng vài từ ghép có nghĩa rộng hơn tới xương hàm) là một từ Germanic tổng quát (so sánh với Cổ Saxon và Old High Germa kinni; Cổ Norse kinn; Đức kinn ‘chin’; Gothic kinnus ‘cheek’) có nguồn gốc PIE *genu- ‘chin, jawbone’ (họ hàng với Phạn ngữ hanuh, Avestan zanu- ‘chin’, Armenian cnawt ‘jawbone, cheek’, Hy Lạp genus ‘lower jaw’, geneion ‘chin’, Cổ Irish gin ‘mouth’, Welsh gen ‘jawbone, chin’

Ta thấy rõ trong Ấn-Âu ngữ có hiện tượng hoán đổi tên theo vị trí kề cận nhau giữa chin cằm, cầm với hàm, xương hàm, má, miệng.

.Việt ngữ

cằm, cầm, Mường ngữ cảng là cằm.

ruột thịt với cổ ngữ Anh cin, cinn, O High Germa kinni, Cổ Norse kinn, Đức kinn, Phạn ngữ civuka, cằm và dĩ nhiên với Anh ngữ hiện kim chin.

Như đã nói ở trên, trong Việt ngữ cũng có hiện tượng hoán đổi tên giữa cằm, cầm với hàm qua từ răng hàm = răng cấm. Cầm biến âm mẹ con với cầm, cằm. Hiểu theo nghĩa hoán đổi vị trí ta có cằm, cầm hoán đổi với Phạn ngữ hanu, hàm, với Thụy Điển kak, Hòa Lan ngữ kaak, Đức kiefer, hàm.

.Họng

.Ấn-Âu ngữ.

Trong Ấn Âu ngữ phần lớn chỉ ‘throat’, chỉ cả phần trong lẫn bên ngoài cổ. Thường có nghĩa nuốt, ống tròn, khe hẹp như họng sông, hố sâu và đôi khi còn nới rộng ra chỉ cổ (Buck 4.29).

gorge

giữa thế kỷ 14 có nghĩa là ‘throat’, phát từ Cổ ngữ Pháp gorge ‘throat’, từ Latin muộn gurges ‘gullet, throat, jaws’ không rõ nguồn gốc, có lẽ liên hệ với Latin gurgulio ‘gullet’ (Cổ ngữ Pháp golet cổ chai, col là cổ, ta có co(l) = cổ), ‘windpipe’ (khí quản) có nguồn gốc PIE * gwere- ‘to swallow’.

.Việt ngữ

.họng

chỗ thon hẹp rỗng hình ống ở cổ (như họng chai, cổ chai, cuống họng. Họng biến âm với hổng là rỗng chỉ phần rỗng hình ống, rãnh trong cổ. Họng chỉ cả cổ thấy qua từ đôi cổ họng (họng đổi tên với cổ).

Theo h=g như góa = hóa (bà), Tây Ban Nha ngữ G đọc thành H như George đọc là /Heorhe/ ta có họng = Pháp ngữ gorge (họng) = Anh ngữ gorge (họng sông), Phạn ngữ gala, Latin gula, Ý gola (họng).

.o

Cổ ngữ Việt ohọng heo (Huỳnh Tịnh Paulus Của) hoán đổi vị trí với Latin os, oris, miệng, lỗ, với Anh Pháp oral, gốc oro-, ori-, miệng, orifice, lỗ và với Phạn ngữ oṣṭha-, môi.

.chộng, trộng, chửng

Là nuốt như nuốt chộng, nuốt chửng. Với c câm, ta có chộng = họng.

Ở đây cho thấy họng có nghĩa liên hệ với nuốt như Ấn Âu ngữ PIE * gwere-, nuốt.

Một vài từ liên hệ với họng:

.các từ do âm thanh từ họng phát ra.

Trong họng có cơ quan phát âm thanh quản, có hộp phát âm vì thế có nhiều từ diễn tả âm thanh như hò, hát, hò hét, hô (hô hào, hô hoán, hô hố), hú… liên hệ tới họng. Điểm lý thú là Việt ngữ họng khởi đầu bằng chữ h là âm họng và các từ nêu trên đều có âm h họng.

-hô, hò, hét, hú liên hệ với Anh ngữ hoot (tiếng la, tiếng phản đối, tiếng cú kêu), với howl (la hét, tru, rú…), với hue and cry (tiếng hò hét trong lúc đuổi bắt), hurrah (hô, hoan hô), yo-ho (dô hò), hallow (reo hò đuổi con thú trong khi đi săn), hallo, hello (ô!, ê!, dú hu)…

-ho

Ho là một thứ phản xạ hô hấp, để khạc vật gì vướng trong họng, trong đường thở ra. Ho liên hệ ruột thịt với họng, với cổ. Theo h = c, ta có ho = họng = cổ.

Ho liên hệ với Old High German huosto, Anh ngữ cổ hvosta. Theo c = h, Anh ngữ cough (ho) = ho.

Ho để làm cho thông cổ họng nên liên hệ mật thiết với khạc. Quảng Đông ngữ khách là ho. Ta có từ ghép ho khanh khách. Như vậy ho = khách = khạc (xem dưới). Khạc, khách ruột thịt với Phạn ngữ kâs, to cough và kâsa, ho.

-khạc

Làm cho hết vướng đàm trong cổ, tạo ra tiếng khẹc khẹc, khọc khọc.

Khạc liên hệ với Pháp ngữ crâcher (khạc nhổ), với cổ ngữ Anh hrace, hracu (throat), Cổ ngữ Anh hròecan (spit, nhổ), Anh ngữ hoarse (khan cổ) (k=h), Phạn ngữ kharj (tiếng kêu khọc khọc, khẹc khẹc trong cổ), gốc PIE *k[h]er- ‘to make a rasping sound, to be hoarse, to caw (tiếng kêu như quạ kêu), to croak (tiếng ếch nhái)’.

-hóc

bị hóc thức ăn hay vật lạ; theo ch= h (như cháng, chạng = háng) hay c câm, ta có choke (hóc, nghẹt, ngạt) = /chốc/ = hóc.

-sặc

Theo s =ch (sửa = chữa) sặc = choke.

.Tai

Đã viết.

.Cổ

Đã viết.

.Gáy

.Ấn-Âu ngữ.

nape, gáy, ót.

Nape là ‘back of the neck’, không rõ nguồn gốc, có lẽ từ Cổ ngữ Pháp hanap ‘a goblet’ (ly uống rượu có chân) dựa theo khoảng hổng, rỗng ở đáy sọ.

Tuy nhiên nape hoán đổi tên theo vị trí với neck là cổ như Buck đã nhận xét “some words for neck originally denoted only the back (nape) of the neck” (4.28) (vài từ chỉ neck gốc chỉ nói về gáy) như thấy rõ qua Phạn ngữ givà chỉ neck và cũng chỉ nape. Như thế nape có một nghĩa là neck.

.Việt ngữ

gáy

Việtngữ gáy cũng giống Ấn-Âu ngữ có tên cũng hoán đổi với cổ. Như đã biết Việt ngữ cổ biến âm với cột, cọc. Cồ là cột, cọc, là phần nối dài của cột sống lưng. Neck là cây cột, cây nọc cắm đầu vào thân người. Neck = nọc. (xem neck).

Từ gáy cùng âm với gậy (một thứ cọc). Gáy liên hệ Phạn ngữ grivà (neck, nape), trong Vedic grìvà chỉ xương sống cổ, đầu cột sống, với Prakit ngữ gìvà là cổ với Tân Persian gardan (neck),

ót

Trung Nam gọi gáy là ót.

Ót ruột thịt với Anh, Pháp occipital, phát gốc từ Latin Trung Cổ occipitalis, Latin hiện kim occiput ‘back of the skull’ (phần sau sọ) có oc- = ob ‘against, behind’ và -ciput = caput, đầu. Rõ như hai năm là mười ót = oc(ciput) ‘back of the neck’ tức gáy.

Một điểm hết sức lý thú là Ainu ngữ (thổ dân Hà Di ở Nhật) có từ ok ‘back of the neck’chỉ ót giống y chang Việt ngữ ót. Ngôn ngữ Ainu có một gốc thuộc nhóm ngôn ngữ cổ đại Á châu.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: