CẤU TRÚC ĐỀN ẤN GIÁO KHAJURAHO VÀ VŨ TRỤ GIÁO.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

 

CẤU TRÚC ĐỀN ẤN GIÁO KHAJURAHO VÀ VŨ TRỤ GIÁO

Nguyễn Xuân Quang

Khajuraho là một tỉnh nhỏ ở vùng Chhatapur thuộc bang Madhya, là một địa danh du lịch nổi tiếng của Ấn Độ, được thăm viếng đứng hàng thứ hai sau Taj Mahal.

Lý do là tại đây có một quần thể đền đài có những điêu khắc về tình dục, tình thuật, một thứ tương tự như kama sutra có một không hai trên thế giới. Phần nhiều du khách tới đây bị ‘mê mẩn’ vì những điêu khắc nhục tình này mà dưới con mắt nhiều người đây là những hình tượng ‘con heo’ (porno). Thật ra không hoàn toàn chỉ là một thứ con heo thuần túy mà các đền đài này chính thức là những kiến trúc thờ phượng các vị thần Ấn giáo.

Về mặt kiến trúc chúng đánh dấu đỉnh cao nhất của sự phát triển các kiểu kiến trúc Ấn-Aryan tiêu biểu miền Trung Ấn và về mặt nghệ thuật đây là một bảo tàng viện lưu trữ lại cái đẹp diễm kiều của mỹ nhân Ấn giáo từ nghìn xưa. Nghệ thuật ở đây diễn tả cái tinh hoa của mỹ thuật Ấn Độ. Chả thế mà Khajuraho đã được thừa nhận là Một Địa Danh Di Sản Thế Giới UNESCO.

clip_image002

(ảnh của tác giả).

Khajuraho vào thời cổ có tên là Vatsa, thời Trung Cổ tên là Jajakbhukti và vào thế kỷ 14 là Bundelkhand. Khajuraho giữ một vai trò quan trọng trong lịch sử Ấn Độ. Vào đầu thế kỷ thứ 10, vương triều Chandelas lên nắm quyền chọn Khahuraho làm thủ đô. Nơi đây có rất nhiều cây kè vì thế mới có tên là Khajuraho có nghĩa là khu Vườn Cây Kè. Ấn ngữ Khajur là cây Kè (palm). Theo biến âm kiểu cà kê, ta có Kha- = cà = kè.

Khajuraho lúc đó có 85 đền đài (ngày nay còn 25 đền đài với sự toàn vẹn khác nhau), được xây cất trong một khoảng thời gian 200 năm từ 950 đến 1150 STL vào thời triều đại Chandela ở Trung Ấn. Chandela tự nhận mình là con cháu của thần Mặt Trăng. Chandela có chand = Chăng, Trăng. Sau thế kỷ 13 khi triều đại Chandela suy tàn, các đền đài trở thành hoang phế và Khajuro bị che kín bởi rừng cây kè trong nhiều năm.

Năm 1838, một kỹ sư công binh người Anh khám phá ra lại Khajuraho.

Bài viết này giới hạn vào sự so sánh cấu trúc đền Khajuraho, một kiến trúc đặc biệt của miền Bắc và Trung Ấn với Vũ Trụ giáo.

Quần thể đền đài chính Khajuraho chia ra làm ba nhóm: nhóm Tây, nhóm Đông và nhóm Nam. Trong mỗi nhóm tổng quát đều có đền thờ ba vị thần sáng thế Brahma, Vishnu và Shiva. Tùy theo giáo phái, ở mỗi nhóm, đền của vị thần tối thượng của phái đó có khuôn mặt chính còn hai vị kia là phụ. Ngoài ra còn có các đền các vị thần phụ liên hệ và có nhóm có đền thờ Jaina.

Đền Lakshmana là đền quan trọng nhất nằm trong nhóm phía Tây, là nhóm được biết và được thăm viếng nhiều nhất vì là nhóm lớn nhất và đặc biệt nhất.

Vì các vua Chandela tự nhận mình là dòng dõi thần mặt Trăng nên thuộc ngành nòng Khôn âm Vishnu theo giáo phái Vaishnava (Vaishnava dharma thờ Vishnu, coi Vishnu là vị thần tối cao), ứng với Lạc Long Quân-Thần Nông. Lạc Long Quân thuộc ngành Thần Nông cũng có một khuôn mặt là Trăng:

Ông chăng mà lấy bà giời,

Mồng năm dẫn cưới mồng mười rước dâu.

(ca dao).

Ông trăng là Lạc Long Quân và bà trời là Âu Cơ. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Chandela có khuôn mặt ứng với dòng nòng Khôn Thần Nông-Lạc Long Quân Lạc Việt.

Xin nhắc lại nòng âm Khôn có Khôn âm là thái âm, Nước và Khôn dương là thiếu âm, Gió. Ta thấy rõ trăng có hai khuôn mặt: gió trăng, trăng gió (thiếu âm) và trăng nước (thái âm).

Vì thuộc ngành nòng Khôn nên các vua khai sáng triều đại Chandela rất sùng bái thần Vishnu vì thế xây nhiều đền thờ quan trọng theo Vaishnava giáo phái thờ Vishnu ở Khajuraho, trong đó đền đẹp nhất là đền Lakshmana này.

Ta cũng thấy rất rõ tại sao nhóm đền phía Tây này quan trọng nhất, đặc biệt và đặc sắc nhất, bởi vì phía Tây là phía nòng âm, phía mặt trời lặn, hoàng hôn, mặt trời nước, mặt trăng, nước thuộc ngành nòng âm Vishnu, thần chủ của các vua Chandela (giống như Lạc Long Quân thuộc ngành Thần Nông).

Cấu trúc đền Lakshmana và Vũ Trụ giáo

 

clip_image006

Đền Lakshmana.

Hiện nay các học giả nghiên cứu về đền đài Khajuraho nói riêng và về các cấu trúc thờ phượng ở Ân Độ nói chung không nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch lý nên không nhìn thấy và hiểu được thấu đáo hết được.

Các học giả xếp kiến trúc đền đài ở Khajuraho, Trung Ấn này vào kiểu Nagara. Hai kiểu còn lại là Vesara và Dravida. Kiểu Nagara này có hai đặc điểm chính là nền cao vuông chữ thậpchỏm tháp cong tròn.

Tôi xin giải thích cấu trúc một ngôi đền Khajuraho tiêu biểu là đền Lakshmana này dưới lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch lý.

Nói chung các cấu trúc các đền thờ trong các tín ngưỡng, tôn giáo ở khắp nơi trên thế giới là biểu hiện của đại vũ trụ cùng với tiểu vũ trụ. Hai vũ trụ này giao hòa với nhau. Nói một cách khác là cấu trúc dựa vào triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo (Đền Tổ Hùng của chúng ta cũng vậy, xem Cấu Trúc Đền Tổ Hùng).

Các đền Ấn giáo cũng vậy. Nhìn tổng quát cấu trúc của các ngôi đền ở Khajuraho theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Đền thường có một tháp chính ở giữa và bốn tháp phụ. Tháp chính có hình Núi Meru Parvata, Núi Trụ Thế Gian trong có Trục Thế Giới đặc thù của Ấn giáo.

Đền Lakshmana cũng vậy. Chỉ khác là kiến trúc kiểu Naga mang đậm nét âm với đường cong, vòng tròn của ngành nòng âm.

Hư không

Như đã biết đền Lakshmana này có kiến trúc loại Nagara có đỉnh tháp có những nét cong tròn, đặc biệt là hình bầu nước và nền vuông-chữ thập.

Tháp lớn có đường nét cong hình non (núi âm) trụ tròn mang âm tính, đỉnh trụ có chóp có hình bình nước biểu tượng (kalash) trông giống một bầu đựng nước.

clip_image008clip_image010

Kalash, kalas là bình biến âm với Việt keo (bình), có gốc ka-, nước (cá có gốc ka-, cá nước).

Qua chóp bầu nước, ta thấy rõ đền thuộc phái nòng nước Vishnu của dòng vua Mặt Trăng Chandela.

Ta cũng thấy phần bầu to, lớn, cường điệu hơn phần chỏm nọc nhọn cho thấy khuôn mặt âm mang tính trội. Bầu là bào, bọc có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không. Ở đây thuộc dòng nòng nước hư không chuyển qua biển vũ trụ trước, theo Ấn giáo là Biển Sữa.

Thái cực

Bầu có hai phần chóp nắp mũi nọn (stupika, finial) là nọc dương và phần bầu là nòng âm tương đương với hình vòm củ hành tây thấy nhiều trong các đền Hồi giáo và với bầu nậm, hình quả bầu trong các triến trúc theo Vũ Trụ giáo thấy nhiều ở Đông Nam Á (trên nóc lăng Hùng Vương thứ sáu ở Đền Hùng Phú Thọ cũng có hình quả bầu nậm nòng nọc, âm dương).

clip_image012

Trên nóc lăng Hùng Vương VI có quả bầu.

Bầu nước nòng nọc, âm dương này nhìn dưới dạng nhất thể là thái cực.

Lưỡng nghi

Bầu nước thái cực phân tích ra phần vành trắng ở dưới là không gian, cực âm và phần vành tròn malak có những tia cong tròn như xương sườn được cho là hoa sen (đây là nhìn theo duy âm) hay là ‘hào quang’ mặt trời (‘solar halo’) (Rowland, Art and Architecture of India) có tia sáng cong, là mặt trời nọc âm. Đây là nhìn theo duy dương. Mặt trời là cực dương.

Nhìn theo diện tổng quát thì bầu nước ở trên là cực âm và vành ‘hào quang’ mặt trời là cực dương.

Hai phần này diễn tả lưỡng nghi.

Tứ tượng

Như đã biết đền Lakshmana này có kiến trúc loại Nagara có đỉnh tháp có những nét cong tròn, đặc biệt là hình bầu nước và nền vuông-chữ thập.

Nền đền hình vuông ứng với tứ tượng.

Ngoài ra đền có bốn tháp nhỏ bốn góc bên ngoài. Đền có tháp chính lớn và bốn tháp nhỏ gọi là đền panchayatan (panch- là penta-, 5). Điện tháp chính thờ vị thấn chủ mà đền lập ra để thờ và bốn tháp nhỏ thờ các thần còn lại.

Bốn tháp hay đền nhỏ ứng với tứ tượng.

Bên trong đền cũng có các cấu trúc diễn tả tứ tượng ví dụ ở trần một cổng vào có hình tháp Núi Trụ Thế Gian ở giữa và bốn tháp núi nhỏ tứ tượng bốn góc.

clip_image014

Một hình trên trần cổng ở đền Lakshmana có tháp chính diễn tả Núi Trụ Thế Gian và bốn tháp nhỏ ở bốn góc diễn tả tứ tượng (ảnh của tác giả).

Nền đền panchayatan mang hình ảnh của một ma phương 5/15 có số trục là số 5 và tổng sống các nhánh là 15.

clip_image015

Các tháp nhỏ ở bốn đỉnh ứng với các số 6, 8, 4, 2 ứng với Tốn (lửa âm thái dương), 8 Khôn (nước âm thái âm), 4 Cấn (đất âm thiếu dương) và 2 Khảm (gió âm thiếu âm). Tháp trụ lớn với khuôn mặt Trục Thế Giới ở giữa nền vuông là ở tại số trục số 5. Số 5 chính là số Li biểu tượng cho lửa thiếu dương Đất dương thế gian mang hình bóng Núi trụ Thế gian trong có Trục Thế Giới. Hành thổ của ngũ hành nằm ở số 5 ở tâm hình vuông là vậy.

Ta thấy dòng Mặt Trăng Chandela thuộc nòng âm nên bốn đỉnh hình vuông ứng với 4 số chẵn có tứ tượng âm.

Bát quái

Như đã biết đền Lakshmana này có kiến trúc loại Nagara có đỉnh tháp có những nét cong tròn, đặc biệt là hình bầu nước và nền vuông-chữ thập.

Nền có hình chữ thập dấu cộng tạo thành do bốn phần nhô ra ứng với các cấu trúc nhô ra ở bốn mặt (như bốn cổng vào), ở vị trí các số dương 1, 3, 9, 7. Ta có Đoài 3, gió dương thái dương, Càn 7 lửa vũ trụ dương thái dương, còn lại 1 là Chấn tầng 1 và 9 là Chấn tầng 2 (1+8) ứng với đất và nước ngành nòng âm Chấn. Ở đây là ma phương 5/15, ta thấy ngay số 1 Chấn có một khuôn mặt của số 5 Li, lửa Đất thiếu dương như thế còn lại số 9 là Chấn nước thái dương.

Hình chữ thập 1,3,9,7 có một khuôn mặt diễn tả tứ tượng dương.

Như thế tứ tượng âm ứng với bốn góc vuông hợp với tứ tượng dương chữ thập thành tám tượng hay tám quẻ Bát Quái.

Tứ tượng âm và dương của bát quái liên tác sinh ra muôn vật, muôn sinh chia ra làm tam thế.

 

Ta thấy  rất rõ sơ đồ mặt bằng hình vuông-chữ thập chính là một loại mandala ví dụ  như đã thấy qua  sơ đồ mặt bằng hình mandala vuông của ngôi chùa tháp Dhamayangyi Guphaya ở Bagan, Myanmar làm theo hình núi Trụ Thế Gian Meru.

clip_image019

clip_image021

(nguồn Min Bu Aung Kyaing, Guide to Bagan Monuments).

 Nhìn chung chung thì mandala là các đồ hình thể hiện một dạng thức hình học của vũ trụ hay của  bản thể con người (vì con người là tiểu vũ trụ) (xem GIẢI MÃ ‘TẢNG ĐÁ BÙA’ Ở ĐỀN HÙNG, PHÚ THỌ, Phần 2 )

Tam thế

Một cấu trúc ở nóc vòn cổng vào diễn tả vũ trụ chia ra tam thế bằng các vòng tròn.

clip_image017

Một cấu trúc ở đền Lakshmana diễn tả Vũ Trụ Tạo Sinh, vũ trụ tam thế (hình của tác giả).

Nhìn dưới dạng tổng thể, chấm rỗng ở tâm diễn tả hư không, vòng tròn đậm mặt trời và vòng bao quanh là không gian tức nòng nọc, âm dương, vũ trụ, nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương nhất thể là thái cực hay Trứng Vũ Trụ và nhìn dưới diện phân cực là lưỡng nghi. Ba vành ngoài diễn tả tam thế.

Lưu ý theo duy dương, cấu trúc này mang hình ảnh của một mặt trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn của phía nòng âm với mặt trời là một đĩa tròn không có nọc tia sáng. Mặt trời phía âm này thường thấy trên trống đồng như trên trống Đào Xá và trên các chum đá mai táng giống như ở Cánh Đồng Chum tương đượng với thạp đồng thấy ở Nam Dương (xem Lào: Bí Mật Cánh Đồng Chum).

Nhìn theo duy dương của trống đồng, chấm rỗng tí hon nằm trong đĩa tròn ở tâm là chữ nòng nọc vòng tròn-que chấm rỗng-vòng tròn diễn tả mặt trời âm và ba vòng tròn còn lại là ba vòng ánh sáng. Số 3 là số Đoài IIO) tức thái dương của âm. Đây là mặt trời âm thái dương của ngành nòng âm thái dương.

.Trục Vũ Trụ

Tháp lớn như đã nói ở trên có một khuôn mặt là Trục Vũ Trụ thông thương tam thế.

Ngoài ra nền vuông hợp với tháp trụ tròn mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian có một khuôn mặt là Trục Thế Giới.

Như thế tất cả cấu trúc mang hình ảnh của Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống.

Tóm lại cấu trúc đền Lakshmana mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Ở đây chóp hình bình, bầu nước cho biết thuộc ngành nòng nước, âm Vishnu.

Ấn giáo có một khuôn mặt đậm nét của Vũ Trụ giáo.

Như đã nói ở trên, các học giả xếp kiến trúc đền đài ở Khajuraho, Trung Ân này vào kiểu Nagara. Hai kiểu còn lại là Vesara và Dravida. Kiểu Nagara này có hai đặc điểm chính là nền cao vuông-chữ thậpchỏm tháp cong tròn.

Ta thấy chỏm tháp cong tròn hình bầu nước ăn khớp với tên gọi là nagara có nag- là Việt ngữ nác là nước và naga là rắn nước, rồng nước Ấn giáo. Cho dù đây có là một sự trùng hợp đi nữa thì cũng là một bùa nhớ (mnemonic) khi nói tới kiến trúc kiểu Nagara là ta nhớ tới ngay có chỏm tháp có đường cong, có hình bình nước kalash.

Kết luận

Vì các vua Chandela tự nhận mình là dòng dõi thần mặt Trăng nên thuộc ngành nòng Khôn âm Vishnu. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, Chandela có khuôn mặt ứng với dòng nòng Khôn Thần Nông-Lạc Long Quân Lạc Việt.

Vì thuộc ngành nòng Khôn nên các vua khai sáng triều đại Chandela rất sùng bái thần Vishnu theo Vaishnava, giáo phái thờ Vishnu, coi Vishnu là vị thần tối cao, vì thế xây nhiều đền thờ quan trọng theo kiểu Nagara ở Khajuraho, trong đó đền đẹp nhất là đền Lakshmana.

Cấu trúc đền Lakshmana theo kiểu kiến trúc Nagara của ngành nòng âm Vishnu làm theo triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo dựa trên nòng nọc, âm dương nguyên lý căn bản của Dịch. Tháp chímh có hình Núi Trụ Thế Giới Meru Parvati có đường nét cong tròn mang âm tính (tức non) của ngành nòng âm.

Suy ra một cách tổng quát cấu trúc của các đền đài Ân giáo dựa theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo  với tháp chính hình Núi Trụ Thế Giới Meru Parvati  và chỉ khác là hình dạng, đường nét có tính nòng nọc, âm dương khác nhau tùy theo giáo phái, tức theo kiểu kiến trúc.

Hiểu rõ kiến trúc Ấn giáo theo lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương của Dịch sẽ giúp ta hiểu thấu đáo các kiến trúc Tháp Champa ở Việt Nam cũng như kiến trúc các đền đài bị ảnh hưởng của Ấn giáo như ở Campuchia, Nam Dương, Tích Lan…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: