SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 14) QUA NHỮNG TỪ PHỦ ĐỊNH CĂN BẢN ỔN ĐỊNH.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 14)

QUA NHỮNG TỪ PHỦ ĐỊNH CĂN BẢN ỔN ĐỊNH.

Nguyễn Xuân Quang

Qua 100 từ căn bản quân bằng bền hay ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh và 15 từ căn bản ổn định nhất đề nghị bởi Dolgopolsky để chẩn đoán sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ, ta đã thấy rất rõ có sự LIÊN HỆ (nói một

cách tổng quát) giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ. Phần lớn các từ này nằm trong các nhóm từ được cho là căn bản quân bằng bền như nhân xưng đại danh từ, từ phủ định, các từ về bộ phận thân người và các số đếm

Trong 100 từ đề nghị bởi Morris Swadesh và trong 15 từ đề nghị bởi Dolgopolsky, về các từ phủ định chỉ mới so sánh một từ ổn định No/Not… Để cho chắc chắn thêm nữa, để thuyết phục hơn nữa, tôi sẽ đi sâu vào cả nhóm từ phụ định và ngăn cấm.

Bài viết này nói về tất cả các từ của nhóm từ Phủ Định căn bản ổn định và không ổn định .

Nhà ngôn ngữ học Hòa Lan Holger Pedersen đã coi các từ phủ định rất quan trọng và xếp vào hàng thứ nhì sau các nhân xưng đại danh từ. Các từ phủ định được cho là căn bản ổn định vì ngay khi ở loài vật, loài đười, sự từ chối đã được thể hiện bằng những âm thanh, tiếng kêu: ví dụ một con đười cái chưa tới mùa động đực, ‘không chịu đực’, không muốn sự đòi tình của con đực đã có những tiếng kêu (một thứ ngôn ngữ loài vật) diễn tả sự từ khước. Do đó những từ phủ định của loài người phải là những từ căn bản riêng của ngôn ngữ của những tộc người riêng biệt không phải là chờ tiếp xúc với một tộc khác mới vay mượn mà dùng. Nói một cách khác hai ngôn ngữ có những từ phủ định căn bản ổn định giống nhau phải liên hệ với nhau.

Việt ngữ có:

.những từ phủ định no, nỏ, nọ, nả, nào (phủ định: nào biết), o, ỏ…, mựa, mỡ, mà, màng, mô…, không, khỏi, chẳng, chỉn, chả.

.những từ ngăn cản, ngăn cấm (verbal negator and prohibitive) là đừng, đâu (đâu được), nà, này, này này, nè, nè nè…

1. Những từ phủ định

-Theo loại N.

no, nọ, nỏ, nả, nào… đã viết rất rõ trong 100 từ đề nghị bởi Morris Swadesh và trong 15 từ đề nghị bởi Dolgopolsky, chỉ xin tóm tắt:

No, nọ, nỏ, nả, nào… biến âm mẹ con với Anh ngữ no, not, none, nor, nothing, nought, nay, nil, neither; với Pháp ngữ non, ne (pas); với Đức ngữ nein; với Ý ngữ no, với Bồ ngữ não, Tây Ban Nha ngữ nada; với Phạn ngữ na, , ; với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *ne, *n, PIE *ne, *n-, *ney.

-Theo loại M

Việt ngữ mựa, mỡ, mô, mặc… có nghĩa là không là những từ đã viết rất rõ trong 100 từ đề nghị bởi Morris Swadesh và trong 15 từ đề nghị bởi Dolgopolsky, chỉ xin tóm tắt:

Mựa, mỡ, mô, mặc biến âm mẹ con với Ấn Âu phủ định *me, Nostratic *.

-Theo loại O

Việt ngữ o,

.ỏ là không. Theo Lê Ngọc Trụ trong Việt Ngữ Chính TảTự Vị là tiếng nôm có nghĩa là chẳng cần: ‘ỏ bao, vào… Ỏ là tiếng xưa, ít dùng’.

Ỏ có thể coi là dạng giảm thiểu của nỏ. Với n câm, ta có nỏ = ỏ.

Ỏ hiển nhiên biến âm với O là không. Ta cũng thấy rất rõ với n câm, no = o. O có một nghĩa là số không 0 (O tròn như quả trứng gà, học trò bị ăn trứng là bị số không).

ruột thịt mẹ con với Anh ngữ ought có một nghĩa là số không 0.

-Theo loại Ch

.chẳng, chả, chỉn

Từ chẳng dùng như một tiếng phủ định như:

.chẳng cần: chẳng cần phải mặc áo lạnh.

.chẳng được đâu: nó chẳng làm được đâu.

.chẳng có (ai): chẳng có ai đến cả.

. . .

Theo biến âm ch = s như chữa = sửa, ta có Việt ngữ chẳng = Pháp ngữ sans, Ý ngữ senza, Bồ ngữ sem là không.

Dạng giản lược của chẳng là chả như chả thèm ăn

Chẳng biến âm mẹ con với chỉn như thấy qua câu thơ trong Bạch Viên Tôn Các của một tác giả vô danh:

Đoái lời nguyện ước, càng chua xót,

Tưởng nỗi sinh ly, chỉn ngại ngùng.

Chỉn biến âm mẹ con với Latin sine ‘without’ như sine qua non ‘an indispensable condition’, với Tây Ban Nha sin là không.

Từ chỉn ngày nay gần như không còn dùng nên có thể mang tính cách cổ hơn từ chẳng thường dùng hiện nay.

Ta thấy chỉn cổ hơn liên hệ với Latin sine, Tây Ban Nha ngữ sin, còn chẳng liên hệ với Pháp ngữ sans. Ta thấy rõ ràng chỉn cổ hơn qua sự kiện Latin cổ hơn Tây Ban Nha và Pháp ngữ.

Ở đây ta cũng thấy chỉn, chẳng liên hệ với nhiều nhánh (Latin, Tây Ban Nha, Pháp…) trong Ấn Âu ngữ cho thấy ngôn ngữ Việt ở một cành lớn.

-Theo loại Kh

.không

Từ phủ định dùng phổ thông nhất hiện nay là từ không như không có, không cần, không được

Không biến âm ruột thịt với chẳng, với k = c, ta có không = chẳng.

Từ không so với chẳng là một từ khá hiện kim. Émile Gaspardone khi nghiên cứu An Nam Dịch Ngữ của người Trung Hoa viết vào đời nhà Minh nhận thấy trong đó không có nói tới từ không: ‘La negation le plus usuelle không n’est pas registrée’ (Émile Gaspardone, Le Lexique Annamite des Mings, p. 383, phần chú thích).

Trong từ Điển Việt- Bồ La của Alexandre de Rhodes, từ phủ định khoũ chính là từ không viết theo lối cổ với ũ = ng ví dụ noũ = nông, bò noũ = bồ nông.

Theo biến âm kh = n như khô = nỏ, khện = nện, khơm khớp = nơm nớp, ta có Việt ngữ không = Pháp ngữ non (/nông/).

.các thể giản lược của không

Như đã biết trong tiếng Việt có hiện tượng có thể giải phẫu một từ ra nhiều từ nhỏ mà các từ nhỏ này vẫn có cùng nghĩa hay gần nghĩa với từ đem giải phẫu (Tiếng Việt Huyền Diệu). Ta có thể giải phẫu từ không ra những từ nhỏ:

.hông

Cắt bỏ chữ K đầu của không, từ còn lại hông. Hông, hổng, hỏng cũng có nghĩa là không như đi mau mà về nghe hông, hông biết, hỏng biết, hổng thèm, hổng được đâu, hỏng có… Dạng này dùng nhiều ở miền Nam.

Hỏng, hổng là rỗng, trống không như lỗ hổng, Hán Việt khổng là lỗ. Ta có hỏng, hổng, hông = khổng, không.

Ta thấy theo biến âm ông = ang như còng = càng,  hông, hổng liên hệ ruột thịt với Anh ngữ halt ‘stop’, ngưng, ngừng lại hàm ý ngăn cẳn.

Theo h = s như hói = sói và ông = ang, ta có hông = Pháp ngữ sans, không.

.hôn

hôn có nghĩa là không nhưmầy đi mau rồi về nghe hôn?

Theo h=s và o=a như hột = hạt, ta có hôn = sans.

.hô

Cắt bỏ ba chữ K, N, G còn lại hô. Mường ngữ là không.

.kông

Cắt bỏ chữ H còn lại kông. Kông, cong có một nghĩa là tròn, vòng tròn O ruột thịt với không, có một nghĩa là số không 0 như thấy qua từ ghép cong vòng tức cong = vòng, cái cong, cái cóng (gạo) hình tròn vo còn gọi là cái vò, cái còng = cái vòng (đeo tay) có hình vòng tròn O. Kông, công cũng có một nghĩa là cóc, là không như cóc cần = không cần. Qua từ đôi công cóc, ta có công = cóc với nghĩa là không.

Cần phân biệt công cóc với công cốc. Công cốc có nghĩa là công của con cốc, làm đi nữa thì cũng công cốc mà thôi có nghĩa là làm giống như con cốc ra công bắt cá mà chẳng được ăn (vùng Nam Trung Hoa như ở Quế Lâm người đánh cá dùng con cốc bắt cá, cho cốc đeo một cái vòng ở cổ cho chúng không nuốt được cá). Công cóc và công cốc có âm gần giống nhau nên hai từ công cóc và công cốc thường dùng lầm lộn với nhau.

Theo biến âm k = s và ông = ang như còng = càng, ta có k ôn = sans.

.khôn, kôn

Cắt bỏ chữ G cuối cùng còn lại khôn có một nghĩa là không như khôn lường, khôn dò, khôn nguôi. Trong Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm có câu:

Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.

Từ Khôn dùng trong Dịch nòng nọc chính là từ khôn này. Quẻ Khôn viết bằng ba hào âm, viết theo chữ nòng nọc là ba vòng tròn nòng O tức OOO. Khôn là không, có một khuôn mặt là hư không. Dịch Trung Hoa Khôn với nghĩa là Đất, ‘khôn vi địa’ là một thừ Dịch muộn theo duy tục.

Ta thấy khôn = kôn = sans.

.kô

Cắt bỏ H, N, G còn lại .

Theo k=h như kết = hết , ta có kô = Mường ngữ hó .

ở Việt Nam hiện nay có khuynh hướng viết tắt không là ko.

.ông

Cắt bỏ hai chữ đầu Kh còn lại ông. Ông, ống là vật tròn dài trống rỗng, trống không có một nghĩa là rỗng, không. Quảng Đông gọi rau muống là ông xôi với ông có nghĩa là rỗng, rau muống là rau trống rỗng và Hán Việt gọi là không tâm thái là rau có lòng rỗng không. Ông xôi = không tâm thái, rõ ràng ông = không.

Ông biến âm mẹ con với Anh ngữ ought.

.ôn

dạng giản lược của ông.

ôn =  tiền tố Anh ngữ un-không như unfair, không công bằng, undo, ‘không làm’.

Cắt bỏ hết bốn phụ âm còn lại ô. Hiển nhiên ô có gốc o, có một khuôn mặt là chữ nòng O, ruột thịt với số zero 0.

Ô, o, 0 có một nghĩa là không biến âm mẹ con với Anh ngữ ought.

Tóm lại

Không biến âm với Pháp ngữ non và các thể giản lược của không như khôn, kông, kon, kô biến âm với sans, sin

và ông, ôn, ô biến âm với Anh ngữ ought.

.khỏi

Từ khỏi dùng như một tiếng phủ định như

-Anh có đi không?

-Khỏi.

.khỏi cần: khỏi cần thêm nước vào làm gì.

.khỏi phải: khỏi phải đến đó làm gì.

. . . . . .

khỏi biến âm ruột thịt với khô, không.

.đâu

Đâu dùng như một từ nghi vấn (xem Tiếng Nghi Vấn Trong Tiếng Việt) nhưng cũng dùng như một từ phủ định với nghĩa là không như:

.đâu có: Nó đâu có nghe lời.

.đâu được:

-Anh để tôi trả tiền.

-Đâu được.

.đâu dễ…:

-Chắc nó không được nhận.

-Đâu dễ.

. . . . . .

Theo biến âm đ = n như đây = này, ta có đâu = nâu = nào. Nào cũng có nghĩa như đâu ví dụ Đâu có ai = Nào có ai = nào đâu có ai. Nào có nghĩa là không biến âm mẹ con với nà, nả, nò, nọ, no và với Bồ ngữ não (xem nhóm no).

.vo, uô

cổ ngữ vo có nghĩa là không như thấy qua câu tục ngữ:

Đấm đá tay vo.

Tay vo là tay không. Đánh nhau cho lắm rồi cũng tay không.

Trong từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes có từ là không. Theo biến âm u=v như thấy trong từ Điển Việt Bồ La có = (cơm) [trong nhiều ngôn ngữ u là dạng cổ của v như Latin uox = Latin hiện kim vox (vocem),‘voice’(tiếng nói) và u trong ngôn nữ này bằng v của ngôn ngữ kia], ta có = vo.

Vo biến âm chị em với Lào ngữ bọ không (v=b).

Theo biến âm v=m như váng = màng, ta có vo = (đã nói ở trên).

.vô

Hán Việt không biến âm mẹ con với vo.

Ta thấy rõ vô biến âm với vo, với uô và với mô.

2. Những từ ngăn cấm

.Này, này này, nè, nè nè, nì nì…

có nghĩa ngăn cản như này này liệu hồn, nè nè đi chỗ khác.

Này, nè, nì từ biến âm mẹ con với nả, no, nọ, nỏ, nõ…, với Phạn ngữ na, , ; với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *ne, *n, PIE *ne, *n-, *ney.

.chớ

chớ có thò tay vào.

Chớ biến âm mẹ con với chả như đã nói ở trên.

.đừng

đừng, đừng đừng uống.

Theo biến âm đ = ch như đuôi = chuôi (dao), ta có đừng = chẳng.

Theo đ = ng như đoái = ngoái:

Đoái trông theo những mấy ngàn dâu

(Đoàn Thị Điểm, Chinh Phu Ngâm)

Ta có đừng = ngừng, ngưng như đừng đi, hãy đứng lại = ngừng đi, hãy đứng lại.

Kết luận

Ở đây thêm một lần nữa ta thấy các từ phủ định từ chối về phượng diện ổn định quan trọng đứng hàng thứ hai theo nhà ngôn ngữ học Hòa Lan Holger Pederson. Các từ phủ định

-ổn định của Việt ngữ như:

.theo loại N: các từ no, nọ, nỏ, nõ, nả… biến âm mẹ con với Anh ngữ no, not, none, nor, nothing, nought, nay, nil, neither; với Pháp ngữ non, ne (pas); với Đức ngữ nein; với Ý ngữ no, với Bồ ngữ não, Tây Ban Nha ngữ nada; với Phạn ngữ na, , ; với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *ne, *n, PIE *ne, *n-, *ney.

.Theo loại M: Việt ngữ Mựa, mỡ, mô, mặc biến âm mẹ con với Ấn Âu phủ định *me, Nostratic *.

.Theo loại O: Việt ngữ o, ruột thịt mẹ con với Anh ngữ ought có một nghĩa là số không.

-và các từ không ổn định như:

.Theo loại Ch: Việt ngữ chỉn biến chị em con với Latin sine ‘without’, với Tây Ban Nha sin là không.

Việt ngữ chẳng, chả biến chị em với Pháp ngữ sans, Ý ngữ senza, Bồ ngữ sem là không.

.Theo loại Kh, Ch: Việt ngữ không, khoũ biến chị em con với Pháp ngữ non (/nông/), Anh ngữ none….

Các dạng giản lược thấy qua hiện tượng giải phẫu như khôn, kông, kôn, kô, hông, hôn, biến âm chị em với sine, sans, sin;

ông, ôn, ô biến âm mẹ con với Anh ngữ ought.

Qua từ các từ không ổn định chỉn, chẳng, không ta thấy:

– chỉn, chẳng, không liên hệ với nhiều nhánh (Latin, Tây Ban Nha, Pháp…) của Ấn Âu ngữ. Điểm này cho thấy ngôn ngữ Việt liên hệ với một cành lớn Ấn Âu ngữ hay ở trên một cành lớn của cây ngôn ngữ loài người.

-vì có liên hệ với nhiều nhánh Ấn Âu cho thấy sự liên hệ với Ấn Âu ngữ có thêm phần vững chắc hơn.

Các từ ngăn cản và ngăn cấm liện hệ mật thiết với các từ phủ định.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: