SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 13): SO SÁNH NHỮNG NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

 

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 13).

SO SÁNH NHỮNG NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ.

Nguyễn Xuân Quang.

Qua 100 từ căn bản quân bằng bền hay ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh và 15 từ căn bản ổn định nhất đề nghị bởi Dolgopolsky để chẩn đoán sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ, ta đã thấy rất rõ có sự LIÊN HỆ (nói một cách tổng quát) giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ. Phần lớn các từ này nằm trong các nhóm từ được cho là căn bản quân bằng bền như nhân xưng đại danh từ, phủ định từ, các từ về bộ phận thân người và các số đếm

Trong 100 từ đề nghị bởi Morris Swadesh và trong 15 từ đề nghị bởi Dolgopolsky, về nhân xưng đại danh từ mới chỉ so sánh ngôi thứ nhất I/me, weyou; về chữ số mới chỉ so sánh số 2; về các từ về thân thể mới chỉ so sánh một số từ… Để cho chắc chắn thêm nữa, để thuyết phục hơn nữa, tôi sẽ đi sâu vào từng nhóm từ được cho là căn bản ổn định nói trên.

Bài viết này nói về tất cả các từ của nhóm Nhân Xưng Đại Danh Từ.

NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ NGÔI THỨ NHẤT SỐ ÍT

Đã viết rất rõ trong 100 từ đề nghị bởi Morris Swadesh và trong 15 từ đề nghị bởi Dolgopolsky, chỉ xin tóm tắt:

-Việt ngữ cổ min, Việt ngữ hiện kim mình biến âm mẹ con cùng một vần với PIE *mi-/ *mo-, *IE mi-/m và với các đại tộc ngôn ngữ khác trong đó có Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic * mi, *mi-nV.

Từ cổ min là thân mình, chỉ vào thân thể mình khi nói với nghĩa tôi, ta, tớ… hàm nghĩa mình đây.

-Việt ngữ ai chính là âm của Anh ngữ hiện kim I (/ai/), liên hệ với Đức ngữ ich.

Việt ngữ ai là dạng biến âm của đây. Với đ câm như đẩy = ẩy, ta có đây = ây = ai.

Anh ngữ here, Cổ ngữ Anh her ‘in this place’ phát từ gốc Tiền-Germanic *hi, có gốc từ PIE *ki- ‘this’ họ hàng với Cổ Saxon her, Cổ Norse, Gothic her, Thụy Điển har (a 2 chấm), Hòa Lan hier, Đức hier.

Ta thấy Tiền-Germanic *hi, với h câm *hi = i.

Với k câm như Mường ngữ kép (ghép) = Việt ngữ ép, ta có PIE *ki = i. Đức ngữ ich (tôi) liên hệ với Pháp ngữ ici, đây.

Ta có I (/ai/), đây = Việt ngữ ai, dạng giản lược của đây.

-Việt ngữ tôi, tui, tao, tau, tớ, ta phát gốc từ tiếng đây (theo đ = t) liên hệ với Pháp ngữ je, Tây Ban Nha ngữ yo…

T óm l ại những nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít trong Việt ngữ đều mang nghĩa gốc đây và trong Ấn-Âu ngữ cũng mang nghĩa gốc đây.

Các từ min/ mình liên hệ mẹ con với

PIE *mi-/ *mo-, *IE mi-/m và với các đại tộc ngôn ngữ khác trong đó có Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic * mi, *mi-nV.

NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ NGÔI THỨ NHẤT SỐ NHIỀU.

we, chúng tôi, chúng ta, đám tôi, đám ta, bọn tôi, bọn ta, lũ tôi, lũ ta…

Ấn-Âu ngữ

.Theo biến âm loại W.

Cổ ngữ Anh we ‘I and other or others’ từ gốc Tiền-Germanic *wiz (Cổ Saxon wi, Cổ Norse ver, Đan Mạch vi, Cổ Frisian wi, Hòa Lan wij, Old High German và Đức wir, Gothic weis ‘we’), có gốc PIE *we- (Phạn ngữ vayam).

.Theo biến âm loại N.

Ta có Latin nòs (we, us), Pháp ngữ nous, notre, Phạn ngữ nau (số nhiều), nas (us), PIE *ṇe-/*ṇo-/*ṇ-s-.

Việt ngữ

-Theo biến âm W.

.Mường ngữ qua, chúng tôi, chúng tao, chúng tớ như qua tang ăn cơmchúng tôi ăn cơm; qua cỏ pa tửa: chúng tôi có ba đứa (Nguyễn Văn Khang, Từ Điển Mường Việt).

Theo qu = v = w như quấn = vấn, who = quo = qui, ta có qua = we.

.Mường ngữ ha, chúng ta.

theo h = w như Mường ngữ wa = hoa, ta có ha = we.

. đây (bọn, tụi, đám…)

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều trong Việt ngữ dùng những từ của ngôi thứ nhất số ít tôi, tau, tớ, ta… (như đã biết có gốc nghĩa đây), rồi chỉ thêm vào một chỉ định từ cho biết số nhiều người như chúng (quần chúng), đám, bọn… thành ra chúng tôi, chúng ta, đám tôi, đám ta, bọn tôi, bọn ta

Nghĩa của số ít và số nhiều có gốc nghĩa đây.

Điều này thấy rõ qua Mường ngữ qua là chúng tôi cùng nghĩa với phương ngữ Bình Định qua là (tôi) và với phương ngữ Huế choa là tôi (theo ch = qu choàng = quàng, ta có choa = qua).

Ta cũng thấy qua Cổ ngữ Anh we có nghĩa là ‘I and other or others’ Itôi và ‘other’ (người khác) hay others (những người khác) mang nghĩa số nhiều tức tương đương với chúng, đám, bọn, lũ… Như thế we cũng có nghĩa chúng tôi (người khác + tôi), đám tôi (nhiều người khác + tôi)…

-theo biến âm N

Ta thấy rất rõ, theo đ = n như đác = nác (nước) ta có đây = này (ni, nì, nè) = Latin nòs (we, us), Pháp ngữ nous, notre, Phạn ngữ nau (số nhiều), nas (us), PIE *ṇe-/*ṇo-/*ṇ-s-.

Điều này cho thấy các danh xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều của Ấn-Âu ngữ theo vần N cũng có nghĩa gốc là đây cùng với ngôi thứ nhất số ít (tôi, ta, tau, tớ). Sự khác biệt là ở chỗ là danh xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít và số nhiều cùng có gốc nghĩa đây nhưng biến âm theo hai dòng khác nhau. Trong Việt ngữ nhân xưng đại danh từ số ít và số nhiều đều có cùng một biến âm d = t và để phân biệt số nhiều chỉ cần thêm vào những từ có nhiệm vụ như một phụ từ chỉ số nhiều như chúng, bọn, tụi… Trong khi đó trong Ấn Âu ngữ nhân xưng đại danh ngôi thứ nhất số nhiều có một loại biến âm theo n = đ với Việt ngữ.

Ở đây một lần nữa cho thấy Việt ngữ giúp tìm được nguyên ngữ tột cùng của những nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều của Ấn-Âu ngữ Latin nòs (we, us), Pháp ngữ nous, notre, Phạn ngữ nau (số nhiều), nas (us), PIE *ṇe-/*ṇo-/*ṇ-s-, có nghĩa là này cùng nghĩa với này, ni, nì, có gốc từ đây của các nhân xưng đại danh từ số ít và số nhiều của Việt ngữ.

Tóm lại từ we có nghĩa là ‘I and other or others’ có cùng nghĩa y hệt như Việt ngữ chúng tôi, đám tôi, bọn tôi… nhưng ta thấy trong Việt dù viết bằng hai từ nhưng ta hiểu và biết ngay chúng tôi là do tôi + chúng… trong khi đó nhìn mặt chữ we không ai hiểu rõ là I and other. Việt ngữ còn giữ từ gốc, cổ hơn và sáng nghĩa hơn.

NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ NGÔI THỨ HAI SỐ ÍT

you, thou…

Ấn-Âu ngữ

Cổ Anh ngữ eow từ gốc Tây-Germanic *iuwiz (Cổ Norse yor, Cổ Saxon iu, Cổ Frisian iuwiz, Hòa Lan u, Đức euch), có gốc từ PIE *ju.

Dùng như nhân xưng đại danh từ ngôi thứ 2 số ít, Cổ Anh ngữ þu, phát từ gốc Tiền-Germanic *thu (Cổ Frisian thu, Old High German và Đức ngữ du), có gốc từ PIE *tu (Latin tu, Irish tu, Hy Lạp su, Phạn ngữ twa-m).

Việt ngữ

.da

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít Mường ngữ da (mày, anh, chị, em…): da ti no? là mày đi đâu?.

Ta có Mường ngữ da = Đức ngữ du = Anh ngữ you = PIE *ju, ruột thịt mẹ con với nhau.

-Loại T = th = đ

. đó, đấy, đằng ấy

đó, đấy, đằng ấy là những nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít, còn thấy nhiều trong cổ văn, ca dao tục ngữ, như:

Cho đây với đó nên đôi vợ chồng.

Từ đó đi cặp với từ đây là tôi.

Theo biến âm đ = t = th như đùng đùng = tùng tùng = thùng thùng (trống đánh), ta có đó = thó. Rõ như ban ngày đó = thó = thou, = Tiền- Germanic *thu = that (có một nghĩa là you, xem dưới).

Đó, đấy = that = thou = *thu ‘you’.

Ta cũng thấy Việt ngữ đó = tó liên hệ với Pháp ngữ tu, toi; với Latin tu, te, vos; với Phạn ngữ tva, tu; với PIE *tu, *t(e)u, *t có nghĩa là thou, thee

Theo Morris Swadesh Anh ngữ that (đấy, đó) có một nghĩa là you (The Origin and Diversification of the Language, 1971, tr.141). Như thế Việt ngữ đấy, đó với nghĩa chỉ ngôi thứ hai số ít ăn khớp trăm phần trăm với that có nghĩa là you.

Điều cần lưu tâm là từ đó dùng như một danh xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít chỉ dùng trong cách xưng hô trực tiếp, người đó phải hiện hữu trước mặt, đang đối thoại với người đây. Cần phân biệt từ “đó” chỉ người đó” tức người thứ ba với nghĩa là nó (xem dưới).

NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ NGÔI THỨ BA SỐ ÍT.

Ấn Âu ngữ

.he

Cổ Anh ngữ he phát từ gốc Tiền-Germanic *hi (Cổ Saxon, Cổ Frisian he, hi, Hòa Lan hy, có gốc từ PIE *ki-, biến dạng *ko- ‘this, here’ (Hittite ki ‘this’, Hy Lạp ekeinos ‘that person’ Old Church Slavonic si, Lituanian šis ‘this’).

Ta thấy he chỉ ngôi thứ ba sốt ít, người thứ ba mà lại có nghĩa là this/đây không hợp lý bằng Việt ngữ , y nghĩa là đó, đấy.

He có gốc nghĩa là this, ngược với Việt ngữ (xem dưới).

.it

dạng trung tính.

Cổ Anh ngữ hit phát từ gốc Tiền-Germanic *khi (Cổ Frisian hit, Hòa Lan het, Gothic hita ‘it’), có gốc từ PIE *ko ‘this’. Hit đẻ ra it ngày nay (về sau h thành câm, hit =it ).

It có gốc nghĩa là this, ngược với Việt ngữ (xem dưới).

.she

Cổ ngữ Anh seo, sio ‘the’, có gốc PIE *so- ‘this, that’.

Tiếng Cồ Anh ngữ heo, hio do seo, sio (h=s).

She có một gốc nghĩa là that, hợp với Việt ngữ (xem dưới).

 

Ta thấy nhân xưng đại danh từ trong Ấn Âu ngữ he, she, it tất cả đều cho là phát gốc từ nghĩa this, ngoại trừ she còn có thêm gốc PIE *so- vừa có nghĩa this hay that và Hy Lạp ngữ ekeinos ‘that person’.

Trong Ấn Âu ngữ, đây-thisđó-that nhiều khi dùng lẫn lộn với nhau, cùng nghĩa như nhau, ví dụ như Hy Lạp ngữ tó (this, that), Lithuanian tàs, ‘this, that’cho n ên có hiện tượng hoán đổi nghĩa this, that. Trong ngôn ngữ này có nghĩa là đây, này, ni ngược lại trong ngôn ngữ khác lại có nghĩa đấy, nấy, nớ…

Việt ngữ

.nả

Mường ngữ nả, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba chỉ người hay vật số ít và số nhiều (nó, họ, chúng nó, ông ấy, đàn bò ấy, đàn cá ấy) (Nguyễn Văn Khang, Từ Điển Mường Việt).

Nả ruột thịt với nấy có gốc đấy. Theo n = đ (này = đây) ta có nả = đấy.

Nả biến âm mẹ con với Việt ngữ (xem dưới).

.nó

biến âm mẹ con với Mường ngữ nả nhưng như đã nói ở trên, nả dùng rộng rãi hơn, nả dùng cho cả giống cái, giống đực, trung tính, số ít và số nhiều.

Nó biến âm mẹ con với nớ, nọ (đó nọ). Theo n = đ như này = đây, ta có nó = đó.

Mặc dù cũng mang nghĩa đó nhưng đã biến âm chị em khác vần, khoảng không gian đã cách xa hơn, đã gián tiếp, thường chỉ một nhân vật vắng mặt, không hiện diện (người đó) và không nói trực tiếp với nhân vật đó. Ví dụ có ba người, người thứ nhất là tôi (tức đây) nói thẳng, trực tiếp với người thứ hai: “đằng ấy (tức đấy) đi lấy nồi nước“ và đề cập tới người thứ ba (tức người đó) nhưng không nói trực tiếp mà nói qua người thứ hai: ‘còn nó đi lấy củi’.

Nó có nghĩa là người nớ, người đó: nó = nớ = đó.

.Nó, nớ (thằng) liên hệ với PIE * ne-/*no- (root indicating demonstrative stem), Phạn ngữ ana- (this), ná (like, as)…

.Theo n= l, nó liên hệ với Pháp ngữ lui.

.y

Y là nó.

Theo đ câm, ta có đấy = ấy và ấy = ý = y (a câm hay ay = y như vây = vi).

Y biến âm với ý, là dạng giản lược của ấy, đấy. Y đã biến âm hai lần nên đã trở thành một từ mới gần như không còn ai nhận ra y là do đấy mà ra.

Về nghĩa ngữ y phát nguồn từ gốc đấy tương ứng với that hợp nghĩa với she có một nghĩa là that và Hy Lạp ngữ ekeinosthat person’. Về âm ngữ y liên hệ với Pháp ngữ il, elle, Hy Lạp ngữ “ó”, chỉ thị đại danh từ và chỉ định mạo từ (demonstrative pronoun and definite article).

Từ y thường dùng chung cho cả hai phái nhưng nghiêng nhiều về phái nam ví dụ y không nghe lời, đôi khi dùng cho phái nữ thì dùng y thị không nghe lời.

.hắn

Dùng cho cả hai phái. Dùng cho phái nữ thấy nhiều trong tiếng Huế như đừng nói đụng tới con đó, hắn ưa khóc lắm.

Nếu dùng theo nghĩa hai chiều hoán đổi nghĩa đây, đấy, đó trong Ấn Âu ngữ thì:

-dùng theo nghĩa giống đực

Hắn biến âm mẹ con với he, him, Tiền- Germanic *hi, Avestan ha (demonstrative pronoun stem) và biến âm chị em theo h=s (hói = sói) với cổ ngữ Anh sethat one, he’, Latin cổ sum ‘him’.

-dùng theo nghĩa giống cái

Theo h=s, hắn = she, sèo ‘she’, Old High German si, sì ‘she’, Latin cổ sam ‘her’.

.họ

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba số nhiều dùng cho cả hai phái, hai giống đực và giống cái.

Theo h=s, ta có họ liên hệ với cổ Latin sos (số nhiều giống đực), sas (số nhiều giống cái)

‘them’.

Tóm lại

Những nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba số ít trong Việt ngữ đều có gốc nghĩa đấy (đẻ ra nả), đó (đẻ ra nó), nớ… khác với một số nhân sinh đại danh từ trong Ấn Âu ngữ như he, it chỉ ngôi thứ ba sốt ít mà lại có nghĩa là this, đây, này, ngược với Việt ngữ. Hiển nhiên là không hợp lý bằng Việt ngữ.

Trong khi đó, she có một gốc nghĩa là that, hợp với Việt ngữ.

Như thế ta thấy nhân xưng đại danh từ trong Ấn Âu ngữ có hai nghĩa this/that như đã thấy rõ qua gốc từ PIE *ki-, biến dạng *ko- ‘this, here’, PIE *so- vừa có nghĩa this hay that và Hy Lạp ngữ ekeinos ‘that person’.

Vì sao? Trong Ấn Âu ngữ, đây this và đó that nhiều khi dùng lẫn lộn với nhau, cùng nghĩa như nhau như Hy Lạp ngữ tó (this, that), Lithuanian tàs, ‘this, that’cho n ên có hiện tượng hoán đổi nghĩa this, that. Trong ngôn ngữ này có nghĩa là đây, này, ni ngược lại trong ngôn ngữ khác lại có nghĩa đấy, nấy, nớ…

Ở đây hiển nhiên, nhân xưng đại danh từ Việt ngữ với nghĩa đó, đấy chính thống hơn, hợp lý hơn.

Tuy nhiên cần lưu tâm là những từ nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba số ít của Việt ngữ

cũng có gốc nghĩa đó, đấy, nấy nhưng hàm ý chỉ xa hơn với nghĩa đấy đó của ngôi thứ hai số ít và mang tính gián tiếp hay vắng mặt. Tại sao? Tại vì ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai biến âm mẹ con cùng vần đ như đây = đó, nhưng ngôi thứ ba số ít thì đã biến âm khác vần, khác mẫu tự tức biến âm chị em theo đ = n, đó = nó.

Cũng xin nói thêm là qua từ nó (biến âm với đó) là nhân vật không nói trực tiếp, ở xa nên hai từ đó, đây mặc dù ngày nay dùng chỉ cùng nghĩa như nhau nhưng thật ra đấy đó có khác nhau như đấy gần hơn (như thấy qua nhân vật thứ hai) và đó xa hơn (như thấy qua nhân vật thứ ba).

Kết Luận

Những nhân xưng đại danh từ Việt ngữ có nguồn gốc nguyên thủy là đây, đấy, đó. Con người cổ xưng hô kèm theo dấu ngữ (sign language) chỉ vào thân mình (min) đây, chỉ vào người đang nói với đấy và chỉ vào người thứ ba có mặt hay nói đến người thứ ba vắng mặt đó.

Việt ngữ giúp ta thấy các danh xưng đại danh từ Ấn-Âu ngữ cũng có nguyên ngữ như vậy. Tuy nhiên chỉ có danh xưng đại danh từ ngôi thứ nhất và thứ hai sốt ít của Ấn Âu ngữ liên hệ mẹ con với các nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai số ít Việt ngữ. Chỉ có các nhân xưng đại danh từ ngôi thứ ba Ấn Âu ngữ có nghĩa là that (đó) liên hệ ruột thịt với các danh xưng đại danh từ ngôi thứ ba của Việt ngữ. Còn lại một số danh xưng đại danh từ ngôi thứ ba Ấn Âu ngữ với nghĩa this có thể liên hệ với các danh xưng đại danh từ ngôi thứ ba Việt ngữ theo diện hoán đổi nghĩa this/that trong Ấn Âu ngữ.

Sự khác biệt này, biến đổi này cho thấy các từ danh xưng đại danh từ ngôi thư ba Ấn Âu ngữ không ổn định bằng Việt ngữ. Đây chính là lý do các danh xưng đại danh từ ngôi thứ ba không được xếp vào 100 từ căn bản ổn định của Morris Swadesh và vào 15 từ căn bản ôn định nhất của Dolgopolsky.

Ngoài ra danh xưng đại danh từ ngôi thứ nhất Việt ngữ chúng tôi, bọn tôi, đám tôi… do ngôi thứ nhất số ít tôi cộng thêm một từ chỉ thị số nhiều chúng, bọn, đám là cách nói tối cổ giản dị, trong sáng, dễ hiểu của con người cổ, trong khi từ we của Anh ngữ diễn tả là I and others là cách nói đã ghép chữ, ghép nghĩa của con người muộn về sau. Chữ we không cho thấy từ I và số nhiều others như từ chúng tôi của Việt ngữ.

Một lần nữa ở đây ta thấy có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn-Âu ngữ qua nhóm từ căn bản ổn định nhân xưng đại danh từ.

Ta có thể dùng Việt ngữ để gỡ những khúc mắc, khó hiểu, để truy tìm nghĩa ngữ, gốc chữ của Ân-Âu ngữ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: