BẾN SÔNG HẰNG VARANASI, MỘT NGÀY, MỘT ĐỜI NGƯỜI.

 

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

BẾN SÔNG HẰNG VARANASI, MỘT NGÀY, MỘT ĐỜI NGƯỜI.

Nguyễn Xuân Quang

Varanasi ngày xưa gọi Kashi hay Banares, Benares, một thành phố có người ở liên tục cổ nhất thế giới bên bờ sông Hằng (Ganga) thuộc tiểu bang Utta (Pradesh). Varanasi đã được nhắc tới trong kinh Vệ Đà và trong các văn bản Phật giáo cũng như trong sử thi Mahabharat. Đây là một thành phố thần thánh nhất, nằm trong 7 thành phố thiêng liêng của Ấn Độ về Ấn giáo, Jain giáo và là nơi khởi đầu phát triển Phật giáo. Phật giáo khai sinh tại Sarnath, cách Varanasi 13 cây số (Vườn Nai Sarnath, Nơi Khai Sinh của Phật Giáo). Thành phố có 2000 năm lịch sử, văn hóa, văn minh. Đại Học Banaras Hindu là một trong những đại học đông người nhất ở Á châu. Varanasi thường được cho là ‘thành phố của đền đài’, ‘thủ đô tín ngưỡng của Ấn Độ’, ‘thành phố của Shiva’ và là ‘thành phố của học hỏi’.

Tên gọi theo tiếng Pali là Baranasi. Tên này đẻ ra tên Banares, Benares. Varanasi là thánh địa nằm giữa hai dòng sông Varuna và Asi. Tên Varanasi là do tên hai con sông Varuna và Asi ghép lại. Theo Vamana Purana hai con sông này phát nguồn từ thánh thể của một con người nguyên khởi sinh ra loài người. Đối chiếu với truyền thuyết Việt thì Kì Dương Vương, vị vua đầu tiên của Xích Quỷ, Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời của Việt Nam cũng là con người nguyên khởi sinh ra loài ngưòi. Kì Dương Vương có hình bóng là Thần Shiva (theo k=s, ta có Kì = Shi).

Vì vậy ta không ngạc nhiên thấy theo truyền thuyết Ấn Độ, thành phố kỳ diệu này được cho là do Thần Shiva tạo dựng nên, ‘Thành phố của Shiva’. Tại đây có một giáo phái chính thức, đạo gốc thờ Shiva.

Như đã nói ở trên, Varanasi còn có tên cổ là Kashi phát gốc từ kas ‘to shine’ (sáng). Ta thấy rất rõ theo k=s, kas = sáng và shine = sáng. Kashi là Thành Phố Ánh Sáng ‘The City of Light’ liên hệ với Lửa, Mặt Trời, một khuôn mặt của Shiva. Xin nhắc lại Shiva được cho là sinh ra từ Núi Trụ Thế Gian Kailash (Kailasha) hay Meru Parvat. Ta thấy kai- ruột thịt với kas bởi vì Shiva là nõ, nọc, dương (linga), nọc lửa (Pillar of Fire), mặt trời thiên đỉnh, có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ, Trục Thế giới (giống như Kì Dương Vương). Ở núi Kailash có hai hồ: mặt trời, mặt trăng ứng với nòng nọc, âm dương, thái cực và lưỡng nghi và từ đó phát nguồn ra bốn con sông lớn ứng với tứ tượng sinh ra Cây Đời Sống (nước là Mẹ của Sự Sống), Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế.

Vì vậy mà núi Kailash hay Meru Parvat có một khuôn mặt biểu tượng Cây Đời Sống, Cây Tam Thế, Cây Vũ Trụ, Núi Trụ, Núi Trục Thế gian và cũng là nơi sinh của Shiva là vậy.

Varanasi có khoảng hơn tám mươi ghat (bến nước có bậc cấp).

Hôm chúng tôi tới Varanasi, thật không may mắn là các lái đò đình công, thành thử không có thuyền đi dọc theo sông và qua các cồn cát ở giữa dòng sông để nhìn toàn cảnh các ghat ở Varanasi, nên xin mượn một vài tấm bưu ảnh chụp toàn cảnh và các bến sông chính của Varanasi.

clip_image002

Toàn cảnh Varanasi chụp từ một cồn cát (bưu ảnh).

clip_image004

Một phần bến sông Varanasi (ảnh của tác giả).

Chỉ xin nói tới các ghats thờ ba vị thần sáng thế chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva, Vishnu và một vài ghat đặc biệt khác. Vì là thành phố của Shiva nên hai ghat thờ Shiva và Brahma thuộc ngành nọc dương nổi trội hơn ghat thờ Vishnu ngành nòng âm.

a. Ba bến liên hệ với Shiva, Brahma và Vishnu:

1. Bến Assi

Nằm ở cực nam của bến sông Varanasi tại hợp lưu của sông Hằng và sông Asi. Đây là một bến sông thiêng liêng thờ Thần Shiva, thần tạo ra Varanasi. Các tín đồ hành hương xuống bến tắm nước sông Hằng để rửa sạch các tội lỗi, trước khi đến chiêm bái Thần Shiva dưới hình dạng một nõ Lingam ở dưới một cây cổ thụ. Tắm nước sông hằng là để rửa sạch đi các tội lỗi.

clip_image006

Ghat Assi (bưu ảnh).

Một lingam khác tên là Asiangammeshwar cũng được thờ phượng trong một ngôi đền cẩm thạch ở đây.

Thật ra vì là đất do Shiva dựng lên, những am thờ lingam-yoni còn thấy ở khắp ngõ ngách ở Varanasi.

clip_image008

Một am thờ Lingam-yoni ở đầu một con hẻm (ảnh của tác giả).

Lưu ý vì là đất của Shiva, tháp đền ở bến này và ở các chỗ khác ở Varanasi thường có hình núi Kailash hay Meru Parvat ở Himalaya, nơi sinh của Shiva.

clip_image010

Một tháp đền hình Núi Trụ Meru Parvat (ảnh của tác giả).

clip_image012

Những tháp nhỏ hình Núi Meru Parvat trong một ngôi đền (ảnh của tác giả).

Kiến trúc ở Varanasi mang phong thái của ngành nọc mặt trời Shiva khác với kiến trúc ở Jaipur nghiêng về thần Vishnu ngành nòng âm như thấy qua Điện Gió Hawa Mahal được xây theo hình vương miện của Vishnu có đỉnh núi tròn đầu (xem Jaipur) và hiển nhiên khác với kiến trúc Hồi Mughal của Taj Mahal có vòm tháp củ hành tây, nhưng có nét giống với kiến trúc Phật giáo ở Vườn Nai Sarnath, ngôi chùa chính tại đó cũng có tháp hình núi Meru. Về sau các tháp Phật, nhất là của phái Đại Thừa  trở thành vuông góc. Hiển nhiên Phật giáo bị ảnh hưởng của Ấn giáo (Vườn Nai Sarnath, Nơi Sinh của Phật giáo).

2. Bến Dasaswamedh

Đây là bến nằm ở trung tâm và là bến nhộn nhịp nhất.

clip_image014

Bến Dasaswamedh (bưu ảnh).

clip_image016

Bến Dasaswamedh lúc sáng sớm (ảnh của tác giả).

Lưu ý cửa hàng bán lễ vật.

 Giải tự tên Dasaswamedh có phần cuối medh có nghĩa là 10. Medh biến âm mẹ con với Việt ngữ Mười. Das- là ngựa (theo đ = m như đẻ = mẹ, ta có das = mare = mã, thấy trong Hán Việt và trong các ngôn ngữ khác ở Bách Việt cổ như Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ và Thái Lan, Lào… chỉ ngựa) và aswa, ở đây (aswa liên hệ với Tây Ban Nha ngữ aqui, tại đây). Dasaswamedh có nghĩa là Thần Brahma đã hiến tế 10 con ngựa tại đây.

Bến này thờ Thần Brahma cho thấy rõ Varanasi là tộc thuộc ngành nọc, dương lửa, mặt trời gồm có Brahma là vị thần tạo hóa, sinh tạo lưỡng tính phái, theo duy dương là lửa thái dương, lửa vũ trụ Càn, Mặt trời vũ trụ sinh tạo và Shiva có một khuôn mặt là lửa đất thiếu dương Li, Núi Trụ Thế Gian, mặt trời thế gian.

3. Bến Panchganga

Panchganga có Panch là 5 (panch đẻ ra penta-, năm, ganga có một nghĩa tổng quát là sông), Panchganga là chỗ hợp lưu của 5 con sông ở về phía bắc, ở đây có đền thờ Vishnu.

Bến mang tên sông và có đền thờ Vishnu hiển nhiên thuộc ngành nòng âm, nước Vishnu.

Ta thấy rất rõ bến Dasawasmedh liên hệ với Thần Brahma tạo hóa lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương ở trung tâm, phân cực ra ngành nọc dương Shiva ở phía Nam (phía Nam là Li, Lửa) và ngành nòng âm Vishnu ở phía Bắc.

b. Một vài ghat đặc biệt khác:

-Bến Ganga Mahal

Đây là một bến sông nguy nga nhất. Mahal có mah- biến âm với Việt mãnh, mạnh (mạnh mẽ, lớn mạnh), thường chỉ một kiến trúc lớn, nguy nga gọi là điện, lâu đài (hal biến âm với hall, haus, house, nhà).

clip_image018

Bến Ganga Mahal (bưu ảnh).

-Bến Manikarnika

là bến cổ nhất và thiêng liêng nhất, là bến hỏa thiêu chính (xem dưới).

 

Một Ngày ở Bến Sông Hằng Varanasi, Một Đời Người.

 

-Buổi sáng tinh mơ khi mặt trời mọc.

Mặt trời có khuôn mặt là sinh tạo, là nguồn sống, là sức sống. Đời người bắt đầu với mặt trời mọc, coi như là lúc con người sinh ra. Những đứa trẻ sơ sinh được đem ra nhúng nước sông Hằng.

clip_image020

Những con thuyền thức giấc trong sương mai trước khi mặt trời mọc.

Khởi đầu một ngày là nhúng mình tắm nước sông Hằng lúc mặt trời mọc.

clip_image022

Tắm sông Hằng trước lúc mặt trời mọc.

Và làm lễ cung nghinh mặt trời (sunrise pooja), chào đón khởi đầu một ngày sống, một ngày còn hiện hữu.

Chào đón sự sống của một ngày có thể:

-làm lễ cúng sông Hằng với những bát đèn, hoa và trầm hương thả trôi trên sông Hằng.

Nước là Mẹ của sự sống, sông Hằng là Thần Mẫu Sinh Tạo. Tắm sông Hằng buổi sớm mai khi mặt trời mọc là được sinh ra một đời mới.

Hay

-Các tín đồ theo đạo mặt trời, làm lễ cung nghinh mặt trời mọc. Trong tiếng chuông cầu nguyện, họ dâng đuốc lửa chào đón mặt trời mọc.

clip_image024

clip_image026

Làm lễ cung nghinh mặt trời mọc.

Hoặc

-Người thường lội xuống nước giơ hai tay cao khỏi đầu cung nghinh mặt trời.

clip_image028

Cung nghinh mặt trời mọc ở Varanasi (Madanjeet Singh, The Sun, Symbol of Power and Life).

clip_image030

Cung nghinh mặt trời mọc, hướng về mặt trời Hùng Việt, quê hương Việt Nam, cầu xin cho một Việt Nam mới ra đời.

Cung nghinh mặt trời bằng cách giơ hai tay ra trước mặt hay giơ cao lên khỏi đầu là một biểu hiệu thấy trong nhiều nên văn hóa thờ mặt trời. Ví dụ như:

-Những người thể hiện sự thờ phượng mặt trời trong những ngôi nhà nọc mặt trời trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I và các trống họ hàng (hiện nay có tác giả Việt Nam hiểu lầm là hai người đang chơi trò chơi trồng nụ, trồng hoa).

clip_image031

Hai người đưa hai tay ra trước mặt tôn vinh mặt trời trong một giáo vụ tế lễ mặt trời trong một ngôi nhà mặt trời trên trống đồng âm dương Hoàng Hạ.

-Hình vẽ trên vách đá Hoa Sơn của Lạc Việt Tráng Zhuang, Quảng Tây, Trung Quốc.

clip_image033clip_image035

Hình vẽ trên vách đá Hoa Sơn của Lạc Việt Tráng Zhuang, Quảng Tây (ảnh của tác giả).

-Ai Cập cổ

clip_image037

Kệ tang Khonsu cho thấy sự thờ phượng Thần Mặt Trời Bò cái Mehet-Weret, Egyptian Museum, Cairo (Madanjeet Singh The Sun, Symbol of Power and Life, fig. 461).

-Thiên Chúa giáo:

Thấy rõ qua các linh mục Ái Nhĩa Lan cung nghinh mặt trời.

clip_image039

Hình dát mảnh của Achilli cho thấy các tu sĩ Ái Nhĩ Lan cung nghinh mặt trời ở nhà nguyện St Columbanus, St Peter Basilica, ở Vatican (Madanjeet Singh).

 Ái Nhĩ Lan cổ thời theo đạo thờ mặt trời, về sau chuyển qua Thiên Chúa giáo nhưng vẫn giữ sự thờ phượng mặt trời thấy rõ qua cây thánh giá của Thiên Chúa giáo Ái Nhĩ Lan có vòng tròn mặt trời.

Vân vân…

Điểm này cho thấy rõ Người Việt thờ Mặt Trời. Người Việt là Người Mặt Trời. Hùng Vương  là Vua Mặt Trời.

(Đạo Mặt Trời Của Bách Việt).

Loài vật ở đây cũng cung nghinh mặt trời mọc.

clip_image041

Đôi chó cung nghinh mặt trời mọc, chó ờ đây có lẽ ít chó má hơn ở những nơi khác nên không bị ăn thịt (ảnh của tác giả).

Sau buổi bình minh, cuộc sống bắt đầu.

clip_image043

Thuyền người chờ trôi trên giòng đời (ảnh của tác giả).

clip_image045

Con dê cái khởi đầu một ngày với bữa ăn sáng bằng hoa lá cúng thần (ảnh của tác giả).

Phân dê ở đây có mầu vàng.

Ngày càng nóng với tuổi đời của mặt trời, người càng đông, sinh hoạt càng sôi động.

Như đã nói ở trên, bến sông Dasaswamedh là chỗ có cuộc sống vui nhộn nhất, mầu sắc nhất, quay cuồng nhất, hỗn độn nhất, rác rưởi nhất và ô uế nhất.

Cung điện. Lâu đài. Ổ chuột. Màn trời chiếu đất.

Người và ngợm: thánh nhân, tu sĩ, đạo sĩ, vương giả, cùng đinh, ti tiện, ăn mày, móc túi, ăn cắp, bệnh tật…

Người sống và xác chết. Muông thú: bò, dê, chó lang thang giữa phố chợ, chen chân với người. Có trăm nghìn khuôn mặt, trăm nghìn vẻ sống, lối sống. Từ vương giả xa hoa, vẽ mày, vẽ mặt, bôi vôi, trát phấn, lụa là Varanasi, vải trắng tinh muslin, gấm vóc lòe xòe (gấm Varanasi và vải muslin là hai sản phẩm nổi tiếng của Varanasi) tới khổ hạnh, trần truồng, đầu bù, tóc rối một đời không cắt, không chải…

Một thế giới muôn mầu, muôn vẻ. Thánh thần nhất và trần tục nhất.

Giữa trưa có lễ tắm trưa. Trưa là lúc cuộc đời người lên tột đỉnh để rồi xuống dần tới tàn lụi (mặt trời mọc, dương bắt đầu sinh ra, lớn lên dần theo buổi sáng và cực đại vào lúc giữa trưa. Từ xế trưa về chiều dương suy tàn dần, âm xuất hiện. Dương cực đại biến thành âm). Lễ này dâng tới thần Shiva, có một khuôn mặt là mặt trời thượng đỉnh, chính ngọ.

Buổi tối, tàn một ngày đời người, tắm đêm và các lễ hội. Trong đó lễ chính là lễ Ganga Aarti cúng nữ thần sông Hằng.

clip_image047

Lễ Ganga Aarti (bưu ảnh).

Tại bến Dasaswamedh (như đã biết, có nghĩa là Thần Brahma đã hiến tế 10 con ngựa tại đây) thờ Thần Brahma có lễ Ganga Seva Nidhi do tộc Brahman tổ chức để tỏ lòng tôn thờ Mẹ Nước Sông Hằng với múa khói hương, múa lửa trong tiếng nhạc chuông và lời hát cầu nguyện vang dội cả bến sông.

clip_image049

Lễ hội Ganga Sera Nidhi (ảnh của tác giả).

Đêm về kết thúc một ngày, một đời người bằng lễ hỏa thiêu người chết.

Như đã nói ở trên, bến Manikarnika là bến cổ nhất và thiêng liêng nhất trong Ấn giáo, là bến hỏa thiêu chính.

Theo truyền thuyết thì khi thấy Raja Daksh Prajapati, một người con của Brahma nhục mạ Shiva, nữ thần Sati tự thiêu. Shiva đem xác cháy rụi của nàng về Himalaya, không may trên đường đi các phần của thân xác bị cháy của nàng rơi lả tả xuống trần gian. Tại những nơi thân xác nàng rơi xuống Shiva lập ra một đền thờ gọi là Shaki Peeth. Có 51 Shaki Peeth ứng với 51 mẫu tự trong Phạn ngữ.

Manikarnika là chỗ chiếc hoa tai của nàng rơi xuống. Phạn ngữ Manikarna có nghĩa là hoa tai [mani: hạt; karnam, tai (theo k= qu như kuộn = quốn, ta có kar- = quai; quai chảo là tai chảo; chứng bị sưng tuyến nước bọt dưới tai, dân dã chữa mẹo bằng cách lấy tro của quai bị bôi lên vì thế mới gọi là chứng quai bị ) và angad, trang sức].

Tại khu bến Manikarnika này có một vũng nước gọi là kund (kund biến âm với kông là sông như Mekong, theo k=c= v như cuốn, cuộn= quấn = vấn, ta có kund = vũng). Có truyền thuyết cho là do Vishnu đào cho Shiva và vợ Parvati tắm để mong Shiva ‘hạ hỏa’ không tàn phá trái đất. Truyền thuyết khác lại cho rằng Parvati đánh rơi chiếc hoa tai và Shiva đào tìm, mồ hôi rơi xuống thành vũng Manikarnika.

Giữa vũng nước và ghat có một bệ đá Charanpaduka mang dấu chân của Vishnu. Các nhân vật quan trọng khi chết được hỏa thiêu tại đây.

Vì thế Varanasi được cho là chỗ có hồng ân nhất mà hầu như tất cả người Ấn Độ ở khắp nơi trên đất Ấn đều ước ao được chết hay được hỏa táng tại đây. Người Ấn tin là được chết tại Varanasi là được cứu rỗi, giải thoát, được thoát khỏi vòng luân hồi (moshka). Nhiều người già và người bệnh chờ chết tới đây để chết. Có những người nghèo chờ chết ngay bên bến nước, không có tiền hỏa táng, không được chính phủ trợ cấp hỏa táng, thì xác được đem thả trôi sông. Vì thế trên sông Hằng thường thấy các xác chết trôi lềnh bềnh, nhiều khi dạt vào bờ. Những người tắm thản nhiên đẩy xác chết ra xa.

Mỗi ngày có gần hai trăm xác chết được thiêu lộ thiên, công cộng ở đây.

Để tôn trọng tín ngưỡng của người khác, tôn trọng người chết và thân nhân của họ, tôi không chụp ảnh. Người hướng dẫn viên cũng đã nhắc nhở là không được chụp ảnh cảnh hỏa táng. Chụp ảnh có thể làm cho người dân ở đây phẫn nộ. Vậy mà vẫn có một số du khách chụp ảnh lén.

Vì vậy xin mượn một tấm bưu ảnh chụp cảnh bến thiêu xác chết này.

clip_image051

Bến Manikarnika (bưu ảnh).

Lưu ý trong hình có:

-Tòa lâu đài với các tháp cao ám khói đen hỏa thiêu là của người chủ làm dịch vụ hỏa táng này.

-Con thuyền chở thân nhân và xác chết dạo trên dòng nước sông Hằng trước khi hỏa táng. Xác người chết được tẩm liệm, mặc quần áo mới, xức dầu thơm, hương hoa rồi quấn bằng vải liệm trắng, phủ hoa. Một vài giọt nước sông Hắng nhỏ vào miệng. Sau đó được làm nghi thức trên nước sông Hằng, xác chết được nhúng xuống nước tắm sông Hằng một lần cuối. Như đã nói ở trên, tắm nước sông Hằng là để rửa sạch đi các tội lỗi.

-Những đống củi và có cả một đống đang phủ xác chết chờ đốt. Lượng củi đã được cân đo theo trọng lượng của người chết để tính tiền và dùng đúng lượng, không thiếu không thừa.

Dĩ nhiên tiền nào củi đó. Củi đắt nhất là gỗ trầm. Các người giầu có (hiện nay gọi là đại gia) thường là giầu bẩn mới có đủ tiền mua củi trầm để che lấp cái mùi mỡ khét lẹt và các xú uế của thân xác họ.

-Một con chó tham dự hỏa táng.

…..

Tang lễ bắt đầu, thân nhân thắp đèn, nến, quây quần bên dàn đốt. Trưởng tộc, thường là con trai trưởng, đi vòng quanh dàn đốt 5 lần. Số 5 được cho là ứng với ngũ hành. Tthật ra số 5 là số Li, lửa thế gian ứng với Shiva, tương ứng với Kì Dương Vương, đi năm vòng là để mở cửa vào Trục Vũ Trụ giúp hồn người chết về Cõi Trên. Người này vẩy nước sông Hằng và bỏ một nắm gỗ trầm lên xác chết, sau đó châm lửa đốt.

Cách đó không xa sát bờ nước một đoàn tế bắt đầu hành lễ. Trống chuông nổi lên. Nhẩy múa, hát kinh cầu.

Một cuộc hỏa táng có khi kéo dài tới tám chín giờ.

Một ít tro than được ném xuống sông Hằng, một phần thấm nước sông Hằng rồi trao cho thân nhân đẻ họ thả xuống sông vào một dịp giỗ kỵ, thường vào lúc nước rút mạnh ra biển.  Tro than về biển coi như trở về biển vũ trụ, biển sinh tạo, tạo hóa. Tại đây hồn người chết được tái sinh hay sống vĩnh hằng. Xương sườn và xương đùi thường không cháy hết được ném xuống sông Hằng.

Tang ma kéo dài 12 ngày. Thân nhân mặc áo tang trắng. Trong thời gian này, nhà người chết không dùng lửa nấu ăn, phái nam không hớt tóc, cạo râu.

Sau khi hỏa táng xong, hồn mới lìa thân xác về nơi vĩnh hằng hay được tái sinh. Nếu hỏa thiêu không đúng cách, hồn vất vưởng ở lại cõi trần gian thành cô hồn quấy phá thân nhân và người đời.

Khói tỏa mịt mù, làm chẩy nước mắt người đưa ma và du khách đứng tận trên tháp cao.

Xác chết tẩm dầu hương, mùi thịt cháy như mùi thịt nướng có ướp gia vị…

Trong màn khói và sương đêm, những hoa đèn thả xuống dòng sông lững lờ trôi theo dòng nước như những đời người còn sống và hồn người chết lênh đênh…

Bến nước Varanasi sông Hằng, một ngày, một đời người…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: