VƯỜN NAI (SARNATH), NƠI SINH CỦA PHẬT GIÁO.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

VƯỜN NAI (SARNATH), NƠI SINH CỦA PHẬT GIÁO

Nguyễn Xuân Quang

 

Vườn Nai hay Lộc Uyển (Sarnath hay Isipatana) ở cách Varanasi 13 cây số về phía Đông Bắc thuộc bang Utta Pradesh, Ấn Độ, là nơi Đức Phật Tổ Siddharta Gautama hay Phật Cồ Đàm thuyết pháp đầu tiên cho năm vị môn đồ sau khi ngài thành đạo vào năm 528 Trước Tây Lịch. Đây là nơi sinh của Phật giáo.

clip_image002

Tên Isipatana dùng trong kinh thư Pali có nghĩa là nơi thánh nhân (Pali isi, Phạn ngữ rishi) từ trời đáp xuống. Theo một truyền thuyết thì khi Phật sinh ra có các vị thần từ trời xuống báo cho các Isi biết.

Còn Mrigadaya là Công Viên Nai; ở đây tôi dùng từ Nai thay vì từ Hươu vì ở đây Phật giáo dùng biểu tượng hai con thú loài này không có sừng tức con cái, con nái, con Nai (xem hình ở dưới), trong khi hươu là con hiêu, con hèo, con cọc, con nọc, con gạc, con đực. Phật giáo nghiêng về vũ trụ âm, một tôn giáo Tĩnh nên dùng Nai cái làm biểu tượng.

Nhà sư Huyền Trang (Xuanzang) dựa theo Nigrodhamiga Jàtaka (J,i. 145ff) cho rằng nguồn gốc của Mrigadàya, Công Viên Nai, vốn là một khu rừng do vua xứ Benares của vùng Jàtaka cho lập ra làm nơi cho hươu nai sống để không bị hãm hại.

Sarnath có gốc từ Saranganath, ‘Chúa Tể Loài Hươu’ và liên hệ tới một truyện cổ tích Phật khác trong đó một vị Bồ Tát là một con hươu. Vị này hy sinh mạng sống của mình thay thế cho một con nai cái đã dự trù bị giết làm tiệc cho vua. Biết được như thế, nhà vua cảm động cho lập ra một công viên làm nơi nương náu cho hươu nai. Công viên vẫn còn tồn tại tới nay (Wikipedia).

Trước khi ngài giác ngộ, Phật thực hành tu khổ hạnh, nên năm vị đệ tử Pancavaggiya (có pancha là 5, đẻ ra gốc penta- như Pentagon, Lầu Năm Góc) rời bỏ ngài đi về Isipatana. Khi Đức Phật giác ngộ, năm ngày sau, ngài rời Bồ Đề Đạo Tràng đi về Isipatana gặp lại 5 môn đệ. Tại đây, ngài giảng bài Pháp (dharma, có dar- là dậy, dảng, giảng) đầu tiên về bốn chân lý căn bản của triết thuyết Phật giáo là Tứ Diệu Đế gọi là kinh Chuyển Pháp Luân (‘quay bánh xe Pháp’) Dharmacakkappavattana sutta (có cakka là bánh xe, có ca- là cộ, là car).

clip_image004

Phật giảng bài pháp đầu tiên về Chuyển Pháp Luận cho 5 đệ tử.

clip_image006

Bảng đá Kinh Chuyển Pháp Luân bằng tiếng Việt tại Vườn Nai Sarnath.

Vì thế tại đây có hình tượng năm vị môn đệ đang cung nghinh Bánh Xe Pháp với hình hai con nai.

clip_image007

(nguồn: Wikipedia).

Lưu ý Bánh Xe Pháp có ba vòng tròn đồng tâm ở trục bánh xe là hư không, mặt trời và không gian ứng với hư vô, thái cực và lưỡng nghi. Bốn ‘căm’ xe hình chữ thập ứng với tứ tượng iễn tả Tứ Diệu Đế. Ba vành ngoài trục diễn tả tam thế. Bánh xe Pháp diễn tả trọn vẹn qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nòng nọc, âm dương, Dịch lý. Bánh xe tương đương với một mặt trống đồng của đại tộc Đông Sơn có mặt trời 4 nọc tia sáng.

Bánh xe Pháp với hình hai con nai (không có sừng) chầu hai bên được dùng làm biểu tượng cho giáo lý căn bản Phật giáo. Phật giáo Tây Tạng dùng biểu tượng này rất nhiều. Các chùa Tây Tạng thường có biểu tượng này.

clip_image009

(hình chụp tại Điện Phổ Đà La Potala, Lhasa, Tây Tạng).

Lưu ý bánh xe Pháp ở đây có 8 ‘căm’ xe diễn tả Bát Chánh Đạo ứng với Bát Quái. Theo duy dương bánh Xe Pháp này mang hình ảnh mặt trời 8 tia sáng tức mặt trời Khôn-Càn, Vũ Trụ mang tính tạo hóa, sinh tạo. Vì vậy mà mặt trời 8 tia sáng ☼ là mặt trời phổ thông thường thấy nhất. Đối chiếu với trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, ứng với trống đồng Quảng Xương có mặt trời 8 nọc tia sáng. Như đã biết, trống Quảng Xương là trống Văn Lang Hùng Vương mang khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa ứng với bọc trứng vũ trụ hay thế gian (đội lốt bọc trứng vũ trụ) sinh ra trăm Lang Hùng phân ra làm hai ngành nòng nọc, âm dương Chim-Rắm Tiên Rồng, gồm có hai đại tộc Người: Chim Cắt, Chim Hồng (Hoàng) và Rắn Nước, Rắn Lạc, hai đại tộc Lạc Hồng (xem trống Quảng Xương).

Tại đây giới Tăng già (Shanga) đầu tiên thành hình. Về sau Tăng già lên tới 60 vị gọi là A La Hán (Arahants) được Phật phái đi khắp nơi truyền đạo Pháp.

Sau đó, ngay vào thế kỷ thứ 2 Trước Tây Lịch, Vườn Nai đã là nơi hội tụ một cộng đồng tu sĩ Phật giáo lên tới hai ngàn người với rất nhiều chùa, tu viện.

Vào thế kỷ thứ bẩy, sư Huyền Trang từ Trung Hoa tới viếng Sarnath, ghi nhận là có tới 30 tu viện và 3000 nhà sư sống tại Sarnath.

Phật giáo Varnath nở rộ nhờ các vị vua và các thương nhân giầu có ở Varanasi.

Đối với Phật tử đây là một trong bốn thánh địa của Phật giáo. Ba chỗ còn lại là nơi Phật sinh ra Lâm Tì Ni (Lumbini), nơi Phật giác ngộ Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya), nơi Phật nhập niết bàn Câu Thi Na (Kushinaga). Bốn thánh địa này đều được thừa nhận là Di Sản Văn Hóa Thế Giới UNESCO.

Quanh các thánh địa này có rất nhiều chùa của các quốc gia Phật giáo, trong đó có Việt Nam.

Hiện nay tại đây gồm có:

-Chùa Mulagandhakuti

Mulagandhakuti là địa danh, nơi Đức Phật ở trong mùa mưa đầu tiên ở Sarnath.

clip_image011

Chùa Mulagandhakuti Vihara, Sarnath.

clip_image013

Tháp chùa mang hình bóng Núi Vũ Trụ, Núi Thế Gian Meru. Lưu ý có hình Bánh Xe Pháp ở cổng nhỏ (ảnh của tác giả).

Chùa và tu viện mới Mulagandhakuti Vihara xây năm 1930 bởi Hội Đại Bồ Đề Mahabodhi Tích Lan (Sri Lanka). Trong chùa có những tranh tường rất nổi tiếng vẽ về cuộc đời Đức Phật do một nghệ sĩ người Nhật, ông Kosetnu Nosu vẽ năm 1936.

Nghe nói trong chùa có giữ xá lợi Phật.

Phía sau tu viện là Vườn Nai, hiện nay hươu nai vẫn còn thấy.

 

clip_image015

 

Tượng Phật bằng vàng tại chùa Mulagandha Kuti Vihar.

Phật ở tư thế Bánh Xe Pháp, giảng Pháp lần đầu, hai bàn tay thủ ấn thuyết pháp đang quay bánh xe Pháp. Tượng này làm sao chép lại tượng thật thế kỷ thứ 5 tại Varnath, hiện để trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Varnath.

clip_image017

Một vị sư Tích Lan lúc đó đảm nhiệm việc cúng lễ tại chùa.

clip_image019

Hoa sen làm bằng các mảnh vải mầu.

 

clip_image021

Một đoàn Phật tử người Việt đi hành hương viếng chùa (ảnh của tác giả).

-Một cây Bồ Đề cổ thụ trồng bởi Anagarika Dharmapala lấy từ cành của cây Bồ Đề ở Tích Lan được cho là cây con cháu của Cây Bồ Đề mà Đức Phật đã ngồi khi đạt tới giác ngộ.

clip_image023

Cây Bồ Đề cổ thụ.

Vào cuối thế kỷ thứ 12, người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ san bằng Sarnath.

Các phế tích hiện nay còn thấy:

-Tháp Dhamekh

Tháp Stupa du nhập vào Phật giáo lúc đầu dùng như một thứ mộ (stupa vốn có nghĩa là mộ, mả) để chôn cất tro thân, xá lợi Phật, sau trở thành chỗ thờ phượng thiêng liêng.

Tháp Dhamekh ở Lộc Uyển xây vào thế kỷ thứ 5 Sau Tây Lịch bởi  vua AShoka. Tháp có chạm trổ hoa lá và hình hình học và cho là có để các xá lợi Phật bên trong.

Tháp trông tương tự như một cái bầu nậm có phần cổ là nọc, dương và phần bầu đáy âm, nòng.

clip_image025

Tháp Dhamekh ở Lộc Uyển (Deer Park) Sarnath Ấn Độ.

Tháp diễn đạt Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nòng nọc, âm dương, Dịch lý.

Tổng quát tháp chùa là biểu tượng vũ trụ quan của Phật giáo nằm trong Vũ Trụ giáo

(xem Cấu Trúc một Tháp Phật, bacsinguyenxuanquang.wordpress.com, Categories Vũ Trụ Giáo).

-Những tu viện cổ gần Tháp Dhamekh.

Ngày nay chỉ còn nền móng.

clip_image026

(nguồn Wikipedia).

-Tháp Dharmarajika

clip_image028

(nguồn: asiaexplorers.com)

Một trong vài tháp tiền-Ashoka còn sót lại, mặc dầu chỉ còn lại phần nền móng. Phần trên đã bị lấy đi làm vật liệu xây cất đem về Varanasi vào thế kỷ 18. Những di hài tìm thấy trong tháp bị đem ném xuống sông Hằng.

-Tháp Chaukhandi

clip_image029

Tháp Chaukhandi (nguồn Wikipedia).

Tháp được dựng lên để tưởng niệm chỗ Phật gặp 5 đệ tử, làm từ thế kỷ thứ 5 hay sớm hơn và sau đó sửa lại thành tháp bát giác có theo phong cách Hồi giáo.

-Phế tích Mulagandhakuti vihara đánh dấu chỗ Đức Phật ở lại vào mùa mưa đầu tiên. Chùa mới Mulagandhakuti Vihara nói ở trên.

-Trụ Pháp Ashoka

Như đã nói ở trên (Bắc Ấn Độ 1), Ashoka (A Dục), vị vua thuộc triều đại Mauryan. Vua Ashoka (269-232 TTL) còn được gọi là đại đế Ashoka, một vị vua vĩ đại của Ấn Độ, ông cai trị một vùng đất rộng lớn bao trùm gần hết Ấn Độ hiện nay sau bao nhiêu lần chinh phạt chiếm các tiểu quốc khác. Trong 8 năm đầu làm vua ông đã gây ra nhiều chinh chiến làm hàng trăm ngàn người chết và không biết bao nhiêu người bị diêu linh, thống khổ. ‘Đống xương vô định đã cao bằng đầu’ (Nguyễn Du, Kiều). Về sau ông hối hận cải đạo qua Phật giáo. Ông đã cho dựng rất nhiều trụ tháp và hàng ngàn tháp Phật (stupa) ở nơi Phật tích, tu viện Phật giáo, địa điểm hành hương và những nơi ông thăm viếng, trong đó có Varnath. Ông đã giúp truyền bá Phật giáo đi khắp nơi.

Trụ Pháp Ashoka ở Varnath được dựng lên để đánh dầu sự viếng thăm Sarnath của vua Ashoka vào thế kỹ thứ 3 TTL. Tháp bị phá hủy lúc người Hồi Thổ Nhĩ Kỳ xâm lăng. Ngày nay chỉ còn gốc trụ.

clip_image031

(nguồn Wikipedia).

Phần đỉnh bị gẫy rời ra có hình sư tử hiện để trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Sarnath.

Theo Phật giáo, trụ tháp là biểu tượng của Trục Vũ Trụ và là trục mỗi ngày mọc lên từ hồ huyền thoại Anavatapta (theo vũ trụ luận của Phật giáo thì hồ là trung tâm của vũ trụ) cho tới khi đụng tới mặt trời. Ta thấy rõ đây là Trục Vũ Trụ trong Vũ Trụ giáo. Nhìn tổng quát, Trụ là dương là nọc, hồ nước là âm là Nòng. Nhìn theo diện tứ tượng, thì trụ mọc lên từ hổ nước là Núi Trụ thế gian biểu tượng cho hai vùng đất dương âm thế gian giống như núi dương nhọn đỉnh mọc lên từ hồ nước có con rắn nước cuộn tròn cắn đuôi diễn tả Trung Thế, Đất Thế gian trên Cây Vũ Trụ Yggdrasil của người Norse, giống như Núi Quân (Sơn) ở giữa Hồ Động Đình. Trụ đụng tới mặt trời giữa trưa chính là hình bóng của Kì Dương Vương, Vua Mặt Trời Thượng Đỉnh. Kì là Kẻ là Trụ. Dương hiểu theo nghĩa mặt trời thì Kì Dương là Trụ Mặt Trời chính là Trụ mọc giữa trưa đụng tới mặt trời ở đây.

Đỉnh đầu Trụ Pháp gồm có ba phần:

clip_image033

Đầu trụ Pháp Ashoka ở Sarnath (250 TTL) hiện trưng bầy ở Bảo Tàng Viện Sarnath (wikipedia).

Phần thứ nhất dưới cùng hình hoa sen, biểu tượng phổ quát của Phật giáo. Hoa sen mọc dương nước cũng biểu tượng vùng nước cõi đất Trung Thế.

Phần hình trống ở giữa có khắc bốn con thú biểu tượng cho bốn phương trời: ngựa (hướng Tây, bò (Đông), voi (Nam) và sư tử (Bắc). Chúng cũng biểu tượng bốn dòng sông phát xuất từ hồ Anavatapta chẩy vào thế giới như bốn dòng sông lớn chính. Mỗi con thú cũng có thể được nhận diện bởi mỗi một trong bốn hiểm nguy của vòng luân hồi (samsara). Các con vật chuyển vận nối tiếp nhau vô cùng vô tận, quay bánh xe của hiện hữu.

Bốn con sư tử ở trên trống, mỗi con quay về một hướng. Miệng há to đang gầm rống như đang truyền pháp, truyền Tứ Diệu Đế đi ra khắp bốn phương của cõi đất trần gian. Sư tử biểu tượng cho Phật, ngày xưa tộc Shakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) là một chi của tộc Shakya có nghĩa là Sư Tử (vì thế mà ở cửa chùa nhất là chùa Phật Tổ Cồ Đàm thường để tượng sư tử). Ngoài ra sư tử còn là biểu tượng của trung tín và lãnh đạo và có thể là biểu tượng của vua Ashoka người đã cho dựng Pháp trụ (Karen Shelby).
Nguyên thủy bánh Xe Pháp để trên đầu bốn con sư tử, ở đây để ở dưới.

Như đã nói ở trên, dấu tích trụ tháp chính gốc còn giữ lại được Bánh Xe Pháp ở trên đầu sư tử thấy qua hình tháp làm phỏng theo của vua Mangrai dựng ở chùa U Mong gần Chiêng Mai, Thái Lan.

clip_image035

Trụ Pháp ở Chiangmai, Thái Lan (Wikipedia).

Nhìn theo Vũ Trụ giáo, trụ có ba phần. Phần trên cùng là Bánh Xe Pháp hình mặt trời nằm trong không gian, nhìn theo nòng nọc, âm dương nhất thể ứng với thái cực và nhìn theo nòng nọc, âm dương phân cực riêng rẽ ứng với lưỡng nghi diễn tả vũ trụ, tạo hóa ứng với Thượng Thế. Phần chỏm tháp có hình sư tử có bờm biểu tượng cõi trời thế gian, vành bệ tròn hình trống (có khi vuông) với bốn tượng thú ở bốn hướng ứng với tứ tượng biểu tượng cho cõi đất thế gian và phần hình bầu có hình cánh hoa sen biểu tượng cho cõi nước thế gian. Đây là ba tiểu thế của Trung Thế. Đế trụ ứng là cõi âm Hạ Thế và thân trụ là Trục Thế Giới.

Nhìn tổng thể trụ Ashoka mang hình ảnh của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) giống như cây Đèn Đá Cây Vũ Trụ, giống như cơ thể học của trống đồng hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) của đại tộc Đông Sơn. Bánh xe Pháp có mặt trời nằm trong vòng tròn bánh xe không gian giống hệt như mặt trời nằm trong vòng tròn vỏ không gian bao quanh đỉnh tia sáng ở tâm mặt trống đồng diễn tả Thượng Thế. Những con thú bốn chân ứng với vành thú hay người ở vùng đất dương mặt trống. Phần bầu hoa sen ứng với phần bầu phình tang trống có hình thuyền diễn tả vùng nước thế gian. Hai vùng này là Trung Thế. Đế trụ ứng với đế trống diễn tả Hạ Thế và thân trụ ứng với trụ trống (eo trống) diễn tả Trục Thế Giới.

Cũng nên biết là trụ Ashoka đã có từ lâu trước thời Ashoka nên không phải do ông sáng tạo ra mà chỉ biến đổi đi cho thích ứng với Phật giáo. Chúng có lẽ đã chịu ảnh hưởng của các cây trụ Achaemenid Persia (Wikipedia).

Như thế trụ Ashoka mang ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

Cũng nên biết nhiều biểu tượng và thực hành của Phật giáo phát xuất từ kinh Vệ Đà (kiến thức bằng Phạn ngữ bao gồm những thi ca, kinh cầu nguyrện và các công thức lễ chế của văn bản thiêng liêng Ấn Độ) (Karen Shellby).

Ngày nay, như đã biết, hình bốn con sư tử dựa vào nhau trên trụ Ashoka cũng được dùng làm quốc biểu và Bánh Xe Pháp của Ashoka được dùng trên lá cờ Ấn Độ. Cờ có ba mầu: phần trên mầu nghệ (Kerasi), ở dưới là mầu xanh lá cây và ở giữa mầu trắng có Bánh Xe Ashoka mầu xanh dương có 24 căm xe.

Mầu nghệ biểu hiện cho can đảm và hy sinh; mầu trắng cho sự thật, hòa bình và trong sạch; mầu xanh lá cây cho thịnh vượng và bánh Xe Ashoka cho Luật Pháp Law of Dharma (chính trực).

-Bảo Tàng Viện Khảo Cổ Học Sarnath

Như đã nói, Bảo Tàng có lưu trữ phần chóp đỉnh Trụ Pháp Ashoka quí giá và cũng có một tượng Phật tinh xảo, nổi tiếng ở tư thế Bánh Xe Pháp (Dharmachakra-posture).

tuong Phat Sarnath

Phật ở tư thế Bánh Xe Pháp, giảng Pháp lần đầu, thế kỷ thứ 5 tại Varnath, hiện để trưng bầy tại Bảo Tàng Viện Varnath.

(nguồn: bưu ảnh).

Như đã nói ở trên, tượng Phật ở chùa Mulagandha Kuti Vihar là bản sao chép lại của tượng này.

…..

Như thế đi thăm vùng Bắc Ấn Độ ta đã thấy về phương diện văn hóa có ba tôn giáo chính là Ấn giáo, Hồi giáo Mughal và Phật giáo.

.Trong Ấn giáo, cấu trúc Thành phố Jai dựa theo kinh Vệ Đà cũng theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch lý.

.Trong Hồi giáo Mughal, cấu trúc Taj Mahal theo Mughal cũng theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch lý.

.Trong Phật giáo, cấu trúc chùa với Bánh Xe Pháp, với Trụ Pháp Ashoka, tháp chùa Núi Vũ Trụ Meru… của Varnath cũng theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch lý.

Một lần nữa cho thấy Vũ Trụ giáo là một tín ngưỡng tối cổ của loài người và chữ nòng nọc vòng tròn-que cũng là một thứ chữ tối cổ của nhân loại.

Tại đây cũng thấy có các tượng Shiva và Brahma của Ấn giáo và đền của tôn giáo Jain tại Chandrapuri (Thành phố Trăng) chỉ cách tháp Dhamekh không bao xa.

Tóm lại Vườn Nai Sarnath là nơi khai sinh ra Phật giáo, một trong bốn thánh địa của Phật giáo.

Hãy đến đây, tĩnh tâm, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề lắng nghe lời Phật giảng về Tứ Diệu Đế….

·

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: