SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 11: 15 Từ Căn Bản Ổn Định Nhất).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 11:  15 Từ Căn Bản Ổn Định Nhất)

Nguyễn Xuân Quang

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị, phát âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* : dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Dan. = Đan Mạch.

Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Du = Hòa Lan

Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Fr = Ph áp

Ge = Đức.

Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”, một siêu hệ tái tạo gồm ngữ hệ: Ấn-Âu ngữ, Uralic, Altaic, Dravidian Phi-Á và Eurasiatic.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Sp = T ân Ban Nha.

Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

Wel. = Welch.

*

*            *

B. MƯỜI LĂM TỪ CHẨN ĐOÁN SỰ LIÊN HỆ GIỮA HAI NGÔN NGỮ ĐỀ NGHỊ BỞI NHÓM NHÀ NGÔN NGỮ HỌC NGA DOLGOPOLSKY.

(phần A).

Xin nhắc lại:

Để so sánh sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ khác nhau, các nhà ngôn ngũ học so sánh hình dạng (morphology), ý nghĩa (semantics) và ngữ pháp của hai ngôn ngữ đó xem chúng có giống nhau hay không.

Theo các nhà ngôn ngữ học,“sự liên kết trung gian giữa âm và nghĩa là chiếc chìa khóa để tái kiến trúc lại ngôn ngữ trong quá khứ. Sự hiện diện của các từ có âm và nghĩa ngữ giống nhau suy ra rằng hai ngôn ngữ đó có cùng gốc tổ, ví dụ Pháp ngữ lait, sữa, Tây Ban Nha leche, ý latte. Dự trên âm của các từ con gái ‘sữa’ này, các hà ngôn ngữ học có thể tái kiến trúc lại dạng Latin lacte. Sự so sánh giống nhau đó suy diễn ra rắng gốc Latin, Hy Lạp (Greek) và Phạn ngữ là con cháu của cùng một tổ tiên. Ví dụ từ three, số 3, trong Latin là tres, Hy Lạp là treis và Phạn ngữ là tryas… (William F. Allman, The Mother Tongue, US News & World Report, Nov. 5, 1990, pp 60-70).

Nhưng chúng ta không thể so sánh hàng ngàn, hàng vạn từ của hai ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học Hòa Lan Holger Pedersen là người đầu tiên nhận thức ra rằng nghiên cứu sự so sánh phải giới hạn vào sự liên hệ của một số gốc/dạng thức căn bản quân bình bền (ổn định) nào đó (certain number of stable basic roots/forms). Nhóm này không bao giờ hay ít khi trở thành chủ thể của sự vay mượn của một ngôn ngữ từ một ngôn ngữ khác (ZDMG vol.57, p.560 in German, translated into English bởi J.R. Kreuger, trích từ Global Linguistic Connection Eurolinga, Bloomington, 1983, p.82).

Sự quan sát của Peter Pedersen là một mẫu mực cho sự so sánh hai ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học hiện nay.

Nhà ngôn ngữ học tài ba Morris Swadesh đề nghị dùng một trăm từ căn bản quân bằng bền mà chúng ta vừa mới đối chiếu với tiếng Việt xong.

Gần đây các nhà ngôn ngữ học Nga, trong đó có Dolgopolsky, giảm xuống một danh sách chỉ còn 15 từ căn bản quân bằng bền mà nhóm ông cho là căn bản nhất, quân bằng bền nhất.

Bây giờ ta hãy đối chiếu 15 từ này với Việt ngữ xem sao.

Dlogopolsky đưa ra một hệ ngữ (hierarchy) 15 từ cho là căn bản ôn định nhất sau đây:

1. nhân xưng ngôi thứ nhất, số ít: I/me.

2. số 2 two/pair.

3. nhân xưng ngôi thứ nhì: thou/thee.

4. ai/gì (who/what).

5. lưỡi (tongue).

6. tên (name).

7. mắt (eye).

8. tim (heart).

9. răng (tooth).

10.phủ định lời nói (verbal Negative, both negative proper and ptohibitive): no/not.

11.móng (fingernail/toenail).

12.chấy (louse).

13. nước mắt (tear).

14. nước (water).

15. chết (dead).

Ta thấy hầu hết các từ trong danh sách này lấy từ danh sách 100 từ của Morris Swadesh (ngoại trừ từ tear, nước mắt và fingernail thay cho claw…). Dolgopolsky lựa ra những từ cho là căn bản ổn định nhất dựa thêm vào các qui luật ngữ học như lexemes và của thống kê phonotactic về sự thay đổi trong ngôn ngữ thế giới mà ông cho là ‘nhất’ (Aaron B. Dolgopolsky, a Probailistic Hypothesis Concerning the Oldest Relationships among the Language Family in Nothern Eurasia, Typology, Relationship and Time edited and translated by Vitalij V. Shevoroshkin ang T. L. Markey, tr. XVII).

Trong Tiếng Việt Huyền Diệu tôi đã viết rõ:

Ngôn ngữ là một sinh ngữ. Một từ sinh ra trưởng thành, đẻ ra các từ con, già đi, mai một đi. Nó có thể

sống mãi nhưng có từ khi về già bị biến đổi, nó biến đổi về âm, hình dạng nhiều khi không còn thấy rõ

tung tích lúc trẻ và biến đồi về nghĩa đi. Có chữ già bị chôn vùi ở đâu đó. Có chữ già được thay thế

bằng các chữ con cháu. Ngôn ngữ phát sinh ra từ một từ gốc sinh sôi nay nở theo nhu cầu tiến hóa của

loài người.Do một từ gốc hay một nhóm từ gốc bắt nguồn từ tiếng kêu của loài thú loài dã nhân

(chimpanzee) phát triển thành ngôn ngữ ngày nay. Sự biến chuyển, chuyển hóa trong ngôn ngữ này

theo những qui luật biến đổi âm thanh mà các nhà ngữ học gọi là biến âm lịch sử. Một từ cổ đẻ ra các

từ con, hiện kim, một từ ở ngôn ngữ này chuyển qua ngôn ngữ khác tuân theo những qui luật biến âm

lịch sử này. Lúc đầu sự biến âm tự nhiên, hồn nhiên, không thành văn, sau này các nhà ngữ học chia

tiếng nói loài người ra nhiều loại âm:

-Âm hai môi, môi tắc (labial obstruent): b, m, p, f.

-Âm môi răng: v, ph.

-Âm hai răng: d, di, x, ch.

-Âm răng nướu (nứu) (phần lợi sau răng cửa), răng tắc (dental obstruent)): t, d, th (ngoại trừ š, ž).

-Âm nướu: n, l, r, tr, (non-initial ŋ)

-Âm cúa (khẩu cái, phần nhẵn trên nóc miệng) (velar and post-velar obstruent) k, c, g, gh.

-Âm cúa mềm (phần mềm của khẩu cái): kh, ng, ngh.

-Âm sát (lưng lưỡi cong lên gần sát cúa): s.

-Âm môi và cúa: qu.

-Âm tiểu thiệt: h.

– Âm hầu: o phụ âm và khởi đầu ŋ.

-Loại W: w và ngữ tố khởi đầu u- (initial u-).)

-Loại S: š, ž.

Các nguyên âm không được cứu xét tới vì rất không ổn định.

Hiển nhiên các âm trong cùng một nhóm như âm môi với môi, phụ âm với phụ âm, nguyên âm với nguyên âm, sự biến âm, chuyển hóa rất dễ dàng với nhau ví dụ b=m như bồ hôi = mồ hôi. Biến âm giữa hai nhóm có cùng mẫu số chung như hai môi (b, m, p) và môi răng (v=ph) (có mẫu số chung là âm môi) cũng khá dễ dàng ví dụ như be = ve, bừng bừng = phừng phừng. Biến âm giữa hai nhóm khác âm với nhau có thể khó khăn hơn như họ hàng xa ví dụ giữa b và h như bừng = hừng (sáng).

Ngoài ra còn so sánh thêm với các đại tộc ngôn ngữ khác như Á-Phi ngữ (Afro-Asiatic), Altai ngữ, Tây Bá Lợi Á ngữ… So sánh với nhiều ngôn ngữ một lúc, xác xuất trùng hợp thấp hơn là chỉ so sánh giữa hai ngôn ngữ.

Bây giờ chúng ta sẽ dựa vào các qui luật về 15 từ được Dogopolsky cho là căn bản ôn định nhất và dựa theo đúng các chuyển hóa âm học nói trên để so sánh Việt ngữ và Ấn Âu ngữ.

Trong trường hợp những từ đã viết rồi trong danh sách 100 từ của Morris Swadesh, nhưng có nhiều từ có thêm những phần nhìn theo nhận xét mới của Dolgopolsky, tôi sẽ viết bổ sung và đặc biệt chú ý tới những từ có biến âm ruột thịt mẹ con (cùng vần), chị em (cùng loại, cùng nhóm) giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ.

1. I/Me

(đây là từ số 1 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

tôi.

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít.

Đã viết đầy đủ trong danh sách 100 từ đề nghị bởi Morris Sawadesk (chữ số 1).

Ở đây chỉ xin nhắc lại các từ biến âm theo máu mủ mẹ con cùng m ột vần giữa Ấn Âu ngữ, các tộc khác với Việt ngữ.

a. Me

Ấn-Âu ngữ.

Gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ IE * mi/-m

Latin mè, Anh ngữ me, Pháp ngữ moi, Ý ngữ mi, Bồ ngữ mim, Phạn ngữ mà, màm, PIE *me-/*mo-

là nhánh nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít.

Các đại tộc khác

-Ural ngữ

*mynd, tôi.

Phần Lan ngữ: mind.

Mord.: mon.

-Altaic ngữ

*min (‘I’) (Ramstead 1957:79).

Còn thấy trong ngôn ngữ:

.Thổ Nhĩ Kỳ män, bän.

.Mông Cổ: trong văn chương bi (tổng quát của min).

.Goldi: mi (bi); trường hợp lệch min-

.Mãn Châu: bi (trường hợp lệch: min-).

Ngôn Ngũ Của Chúng Ta Nostratic:

*mi (‘I’), lệch từ (oblique from) *mi-nV

.Việt ngữ

.Cổ ngữ Việt: min (tôi).

Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi.

(Nguyễn Du, Kiều).

Theo Alexandre de Rhodes min là tôi (người trên một chút nói với người dưới), (Từ Điển Việt Bồ La), Lê Ngọc Trụ min là ta (kẻ lớn xưng mình) như min đây (Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị).

.Mường ngữ: min (tôi)

Ngày nay chỉ thấy dùng trong sử thi khi những ông mo hát tế lễ, mo minmo tôi. Điều này chứng tỏ trong ngôn ngữ Mường min cũng là một từ rất cổ.

-Việt hiện kim: mình.

b. I

Việt ngữ có một từ nhân sinh đại danh từ ngôi thứ nhất số ít tương đối cổ hiện còn dùng ở một vài nơi ở miền Bắc là từ ai.

Việt ngữ ai là tôi, ta, tớ.

Tôi nói ai là từ tương đối cổ vì trong ngôn ngữ thông dụng, từ ai ít còn được dùng nữa. Từ ai hầu như chỉ còn thấy dùng ở vùng quê hay trong ca dao tục ngữ. Ví dụ như câu nói: Ai đây đâu có cần có nghĩa là Tôi đây đâu có cần. Ta thấy rất rõ từ ai cũng đi đôi với từ đây giống như tôi đây, ta đây. Ai đây là tiếng đôi điệp nghĩa: ai = đây. Thật vậy theo đ câm như đấy = ấy, ta có đây = ây = ai.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng đã nhận ra ai có nghĩa là tôi. Ông đưa ra một biểu đối chiếu:

Sơ Đăng: A = tôi.

Nam Dương: A Ku = tôi.

Nhật Bổn: (Wat) A Ku (shi): tôi.

Thượng Cổ Việt: Ai = tôi.

Khả Lá Vàng: Ai = tôi.

Lào: Anh = tôi.

Mạ: Any = tôi.

(Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Việt Ngữ, tr.24).

So sánh với Anh ngữ I, (tôi) phát âm là /ai/, ta thấy cổ ngữ Việt ai chính là Anh ngữ I. I = /ai/ = ai.

Kiểm chứng với qui luật biến âm ai = i như cái gì = kí gì, ta có Ai = I. Việt ngữ ai, Anh ngữ I liên hệ với Đức ngữ ich, tôi.

Như đã biết, thâm cứu thêm ta cũng thấy nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít của Ấn-Âu ngữ cũng có nghĩa là đây. Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít trong Việt ngữ như tôi, tui, tao, tau, ta, tớ. . . phát gốc từ tiếng cổ đây.

Ta thấy Đức ngữ ich, tôi, biến âm với Pháp ngữ ici, đây. Anh ngữ here, đây, phát âm là /hia/. Với h câm ta có hia= ia = Ý ngữ io, tôi, ruột thịt với ia, here. Trong Việt ngữ có biến âm ia = ai như phía = phái, vía = vái, mỉa = mai, vậy here (hia), ere, /ia/ = ai. Như thế Anh ngữ I cũng hàm nghĩa here, đây, y chang như Việt ngữ ai, ây, đây, tây, tôi…

Từ cổ ai là dạng giản lược của từ đây: ai = ây = đây có nghĩa là tôi.

Ta thấy ai là đây và từ cổ min là thân mình, chỉ vào thân thể mình khi nói cũng hàm nghĩa đây. Những nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít trong Việt ngữ mang nghĩa đây cũng giống như trong các ngôn ngữ khác nhất là Ấn-Âu ngữ cũng mang ý nghĩa đây.

Tóm lại

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít của Việt ngữ ở dạng:

-Việt ngữ cổ min biến âm mẹ con cùng một vần với PIE *mi-/ *mo-, *IE mi-/m và với các đại tộc ngôn ngữ khác nêu trên trong đó có Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic *mi-nV.

-Việt ngữ ai chính là âm của Anh ngữ hiện kim I (/ai/).

2. Two/Pair

(đây là từ số 12 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

Hai, đôi, cặp, kép…

a- Loại T

Ấn-Âu ngữ.

Cổ ngữ Anh twa, dạng giống cái và trung tính của twegen, tiền- Germanic *twai (Cổ ngữ Anglosaxon twene, tua, Cổ ngữ Norse tveir, tvau, Hòa Lan twee, Đức zwei, Gothic twai), Ấn Âu ngữ PIE *duwo,*dw (Anh ngữ two, Pháp ngữ deux, Tây Ban nha ngữ dos, Nga dba- (dva-), Latin duo, Hy Lạp ngữ duò, Phạn ngữ dva, Avestan dva, Cổ ngữ Church Slovic duva).

Các đại tộc khác

-Afro-Asiatic

Sem.-Hem.: Sem: Armenian: teta, Ả Rập: tr, Do Thái: šn.

-Anatolian

yếu tố thứ nhất trong Hittite ta-ugash (‘hai năm tuổi’).

-Altaic: Goldi: düer, Đại Hàn tuur, tuir.

Việt ngữ

.tụi

Người Huế nói đôi là tụi như trong bài tứ sắc, một đôi là một tụi. Phương ngữ Bình Trị Thiên có rất nhiều tiếng cổ. Tụi biến âm mẹ con c ùng m ột v ần với two.

.đôi

Việt ngữ đôi biến âm mẹ con với Latin duo, Anh ngữ two, double, Pháp ngữ deux, Tây Ban Nha ngữ dos, Hy Lạp ngữ dùo, Nga ngữ dba (=dva), Phạn ngữ dva, gốc tái tạo proto-Indo-European *dw.

. đũa

Là một đôi que dùng ăn cơm, liên hệ với với duo, Phạn ngữ dva.

b- Loại p = b = f = v.

Việt ngữ vài có nghĩa là hai như vài bahai ba. Theo v= h như vá = hóa (đàn bà), ta có vài = hai.

Ta thấy pair = vài với nghĩa hai, cặp.

c. Loại KT

Ấn-Âu ngữ

Pháp, Anh: couple (pair).

Các đại tộc khác.

-Afro-Asiatic

.Sem.-Hem.

Cushitic: Kaffa và Mocho: gutta.

-Uralic

Finno-Urgic: Phần Lan (Finn.): kaksi < kakt+I; Erzja: kavto; Ostyak: kät; Hung Gia Lợi: két.

-Altaic

Mông cổ: goyar (2), gorin: 20; Chukchee-Kamchatkan: gaz, Chukchee: kuvrät, ‘pair’.

-Amerind (Thổ Dân Mỹ Châu)

Maya: ka (20), katun (20 years).

Việt Ngữ

.cặp, kép.

Việt ngữ cặp, kép cùng nghĩa với pair.

liên hệ mẹ con với couple, ka-, kak-, két, kuvrat…

Tóm lại

.Việt ngữ tụi, đôi, đũa biến âm mẹ con với tiền- Germanic *twai , Ấn Âu ngữ PIE *duwo,*dw (Anh ngữ two, Pháp ngữ deux, Tây Ban nha ngữ dos, Nga dba- (dva-), Latin duo, Hy Lạp ngữ duò, Phạn ngữ dva, Avestan dva, Cổ ngữ Church Slavonic duva).

.Việt ngữ cặp, kép biến âm mẹ con với couple và với các đại tộc khác nêu trên.

. Việt ngữ vài liên hệ với pair.

3. Thou/Thee

(đây là từ số 2 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít you. Thou, thee là tiếng cổ của you.

Ấn-Âu ngữ

.IE *tu, *t(e)w, *t- thou, thee.

.Anh ngữ thou, you, Pháp ngữ tu, toi.

Các đại tộc khác.

-Afro-Asiatic

.Sementic (Sem.)-Hamitic (Ham.)

.Sem. tiền tố động từ ngôi thứ hai: t-; Ả Rập: anta (thou); Hebrew attà (thou).

Cushitic: Sidamo: ate, ati (thou), Somali: ădi, Saho: atu, Ai Cập: ṯw, tw (giống đực), ṯn, tn (giống cái).

-Uralic: *tyna, *tind (thou).

.Phần Lan: sinä (thou) (si-< *ti), .Morvinian: ton, Hung Gia Lợi: te.

-Altaic:

.Mông cổ: ci(n-) < *tin (thou), ta(n) (you).

.hukchee-Kamchatkan: Đông Kamchadal (phương ngữ sông Kamchatka) tue (thou); Tây Kamvchadal: tuzanù (you), Chukchee: turi (you); Koryak: tuü ‘you’.

Việt ngữ

.da

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít Mường ngữ da (mày, anh, chi, em…): da ti no? là mày đi đâu? (Nguyễn Văn Khang, Từ Điển Mường Việt) ruột thịt mẹ con với Anh ngữ you: da = you.

.Loại T = th = đ

Cổ ngữ Việt đó, đấy

từ cổ nhất của nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít là đó, đấy, đằng ấy… còn thấy nhiều trong cổ văn, ca dao tục ngữ, như thấy qua câu ca dao:

Cho đây với đó nên đôi vợ chồng.

Từ cổ đó đi cặp với từ đây là tôi.

Anh ngữ that (đó, đấy) có một nghĩa là you (Morris Swadesh, The Origin and Diversification of the Language, 1971, tr.141). Theo biến âm đ = t = th như đùng đùng = tùng tùng = thùng thùng (trống đánh), ta có đó = thó. Rõ như ban ngày đó = thó liên hệ với thou, với you. Đó, đấy = that = thou = you.

Ta cũng thấy Việt ngữ đó = tó liên hệ với Pháp ngữ tu, toi; với Latin tu, te, vos; với Phạn ngữ tva, tu, yuva, yu, yushma; với gốc Ấn-Âu ngữ *tu, *t(e)u, *t có nghĩa là thou, thee

4. Who/What

kẻ (nào), ai /gì.

a. Who

(đây là từ số 6 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

kẻ (nào), ai.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

-Ấn Âu ngữ

Cổ Anh ngữ hwa, từ gốc Tiền-Germanic *khwas, *khwes, *khwo [Cổ Saxon hwe, Đan Mạch hvo, Thụy Điển vem, Cổ Frisian hwa, Hòa Lan wie, Old High German hwer, Đức wer, Gothic hvo (giống cái) ‘who’], có nguồn gốc từ IE *kwi- *kwo, *k-wà (w viết nhỏ và cao), PIE *kwo (Phạn ngữ kah , kà ‘who, which’; Avestan ko, Hittite kwish ‘who’ Latin qui/quae/quod ‘who, which’, Lithuanian kas ‘who’, Cổ Irish ce, Pháp ngử qui…).

Các đại tộc ngôn ngữ khác

-Uralic: *ku (who) (Phần lan ngữ kuka), *ke, *ki (who) (Phần Lan ngữ ken, Mordvinian kue, Hung Gia Lợi ki…).

-Altaic: Mông cồ: ken ‘who’, Tungusic (Đông quốc): Goldi: haj ‘who’, Chukchee-Kamchatkan: Tây Kamchadal k’e ‘who’, Nam Kamchadal: kač ‘who’, Đông Kamchadal: ket ‘who’…

-Nostratic: *k’o (who).

Việt ngữ

.Kẻ

Việt ngữ kẻ (people) cũng có nghĩa là ai, ví dụ kẻ nào đó = ai đó. Ta thấy rất rõ kẻ liên hệ với Pháp ngữ qui, Latin qui/quae/quod, Cổ Irish ce, Skt ka-h, kà (who), IE: *kw i- *kwo-, *kw (w nhỏ và cao), PIE *kwo, Nostratic *k’o ‘who’, với Uralic: *ke ‘who’, Altaic: Tây Kamchadal k’e.

.Ai

Ai liên hệ với Proto-Nostratic *ʔay-, với PIE *ʔyo- (relative pronoun stem, interrogative and relative pronouns).

Tóm lại

.Việt ngữ kẻ biến âm mẹ con với Skt k, k-h… ‘who’, IE: *kwi– *kwo-,*kw (w nhỏ và cao), Nostratic *k’o ‘who’, với Uralic: *ke ‘who’, Altaic: Tây Kamchadal k’e.

.Việt ngữ ai biến âm mẹ con với Proto-Nostratic *ʔay-, với PIE *ʔyo– đại danh từ nghi vấn.

b. What

(đây là từ số 7 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

gì? chi?

What (nghi vấn và tương đối đại danh từ) (interrogative and relative pronoun stem) có nghĩa là gì, cái gì, gì vậy, kí gì, chi, chi vậy.

Ấn-Âu ngữ

Cổ Anh ngữ hwœ, từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *khwat (Cổ Saxon hwat, Cổ Norse hvat, Đan Mạch hcad, Cổ Frisian hwet, Hòa Lan wat, Old High Geman hwaz, Đức was, Gothic hva ‘what’, có nguồn gốc từ IE *kw[h]i-/*kw/he/-, PIE *quod, trung tính số ít của *qwos ‘who’.

Latin quid, Tây Ban Nha ngữ qué, Bồ Đào Nha ngữ quê.

Các đại tộc khác

Nostratic

* mi ‘what’.

Việt ngữ.

-Loại K: velar and post-velar obstruent): k, g, x. và c.

.gì

gì vậy? cái gì?, kí gì?

.Theo g= k = kh như Việt ngữ g = Mường ngữ k: kaj = gài; kù = gầu; kò = gõ… và như gẩy = khẩy; gõ = khỏ; gạo = khảo (bánh khảo làm bằng bột gạo nếp trong khi bánh đậu làm bằng bột đậu), ta có liên hệ với Tiền-Germanic *khwat, IE *kw[h]i-/*kw/he/-…

.Theo biến âm g = qu như góa = quả (ph ụ), ta có gì = Tây Ban Nha qué, Bồ quê, Latin quid, PIE *quod.

.chi

.chi?, chi vậy?, chi rứa?…

Ta thấy theo g=k=c=ch, gì = kí, chi.

Chi biến âm với Ấn Âu ngữ như gì.

-Loại M

.mô

Việt ngữ cũng có một nghĩa là what như có biết chi mô đâu = có biết gì gì đâu; chẳng biết cái mô cả = chẳng biết cái gì cả.

Mô liên hệ với Nostratic * mi ‘what’, IE: *mo-/*me- ‘what’ (the stem of interrogative and relative pronouns).

Tóm lại

.Việt ngữ biến âm mẹ con với Nostratic * mi ‘what’, IE: *mo-/*me– ‘what’.

.Việt ngữ , chi biến âm chị em với Tiền-Germanic *khwat, IE *kw[h]i-/*kw/he/-…

5. Tongue

(đây là từ số 44 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

lưỡi, ngôn ngữ, lời nói.

Ấn-Âu ngữ

Cổ Anh ngữ tunge, cơ quan nói, lời nói, ngôn ngữ phát từ gốc Tiền-Germanic *tungon (Cổ Saxon và Cổ Norse tunga, Cổ Frisian tunge, Hòa Lan tong, Old High German zunga, Đức zunge, Gothic tuggo), có nguồn cội từ PIE *dnghwa- (Pháp ngữ langue, Latin linga, tiếng nói, ngôn ngữ phát gốc từ Cổ Latin dingua, Cổ Irish tenge, Welsh tafod, Lithuanian liezuvis, Old Church Slavonic jezyku).

Các đại tộc khác

-Uralic: *kele: Phần Lan kieli ‘tongue’.

-Altaic:

.Turkic k’älä.

.Mông Cổ *kele(n).

.Đông Quốc (Tungusic) *hilƞu ‘tongue’.

Việt ngữ

1. với nghĩa là lưỡi

.lãn

cổ ngữ Việt lãn là lưỡi: lãn heolưỡi heo (G. Hue) (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị) liên hệ với Pháp ngữ langue, Latin linga, lưỡi.

Radé ngữ lah, lưỡi liên hệ với lãn.

.lãi

Mường ngữ lãi là lưỡi liên hệ với Latin linga, Pháp ngữ langue, Tây Ban Nha ngữ lengua, Bồ ngữ língua, lưỡi.

.lại

phương ngữ Huế lại, lưỡi biến âm của Mường ngữ lãi.

.liếm

liên hệ với Anh ngữ lick, liếm.

.láp

Qua từ đôi liếm láp, ta có láp = liếm.

Láp chính là Anh ngữ lap là liếm.

Tóm lại

Việt ngữ lãn, lãi, lại biến âm mẹ con với Latin linga, Pháp ngữ langue, Tây Ban Nha ngữ lengua, Bồ ngữ língua, lưỡi.

6. Name

(đây là từ số 100 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

tên

Đã viết rất rõ ở 100 từ do Moris Swadesh đề nghị, ở đây chỉ nói tới điểm nòng cốt theo Dlogopolsky.

Ấn-Âu ngữ

Cổ Anh ngữ nama, noma ‘name, reputation’ (tên, có tên tuổi, nổi danh, danh tiếng), phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *namon (Cổ Saxon namo, Cổ Frisian nama, Cổ Norse nafn, Đức name(n), Gothic namo), có nguồn gốc từ IE *nom-, PIE * nomn- (Phạn ngữ nama, Avestan nama, Hy Lạp onoma, onyma, Latin nomen, Nga ngữ imya, Cổ Ái Nhĩ Lan ainm, Cổ Welsh anu ‘name’).

-Tocharian: nom, ñem.

Các đại tộc ngôn ngữ khác.

-Uralic

*nime (Phần Lan nimi, Zyrian nim, Vogul nam, Yukaghir niu ‘name’

-Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic.

Nostr.*nimi ‘name’.

Việt ngữ

.tên

Như đã biết, Việt ngữ tên có hai nghĩa là mũi tên (que, cọc nhọn) và tên gọi (name). Tên là do lấy một vật nhọn như mũi tên vẽ, vạch, khấc, khắc hình, chữ lên một cây que, nọc, cọc, nêu.

Ta thấy rõ tên biến âm ruột thịt với then (cây que cài như then cửa), thẻ (miếng gỗ, cây que như thẻ tre, thẻ xăm, thẻ bài).

Tóm lại tên nguyên thủy có gốc từ một cây que, nọc, nõ, nống, nêu, nêm (cọc cắt vát nhọn,) một tấm, một miếng gỗ có khắc, vẽ, vạch, viết trở thành tên.

Ta có tên biến âm mẹ con với Việt ngữ then, thẻ, Anh ngữ tael(thẻ), tabular (phiến mỏng), tablet (bài vị), Anh ngữ tale, tally, teller (que, thẻ có khấc, chắc dùng làm tên, cây đếm, sau trở thành con số đếm, kế toán…)..

.nõ, nống

nõ (cây cọc nhọn)

nõ liên hệ với Pháp ngữ nom, Tây Ban Nha nombre, Ý và Bồ nome, PIE *nomn-; có no- = nõ.

nống (cây cọc)

Như nõ.

Ngoài ra Pháp ngữ nom phát âm là /nông/ biến âm với cổ ngữ Việt nống là cái nọc.

.nỏ,

nỏ

là vật bắn mũi tên (vật có mũi nhọn).

nỏ do nõ đẻ ra. PIE *nom- có no- = nõ = nỏ.

-ná

Cùng nghĩa với nỏ, liên hệ với Anh ngữ name, Tiền- Germanic * namo-, có na- = ná.

Mũi tên là vật nhọn, nỏ, ná bắn vật nhọn, nõ, nống (cọc nhọn) ruột thịt với nêu (cọc nhọn) (xem nêu ở dưới).

.nêu

Nêu nguyên thủy chỉ là một cây nọc, cây nõ, như thấy qua câu thơ trong Nhị Độ Mai:

Neo thuyền, giặt lưới, giăng bè, dựng nêu.

(câu 1512)

Nêu là nguồn cội của tên. Ta có từ đôi nêu tên (như đừng có nêu tên người ta ra), tức nêu = tên ; nêu ra (nguyên khởi là đưa tên ra, ngày nay là đưa một vấn đề ra). Cây nêu có khấc, khắc dấu, hình là bảng tên, bảng hiệu và nêu đồng hóa với tên. Rõ như ban ngày tên cũng có gốc từ nêu.

Người Ainu (Hà Di) thổ dân ở Nhật có cây inau, chính là nêu của chúng ta. -Nau = Nao = Nêu (e=a, cây đề = cây đa). Người Ainu khắc chạm trên inau nhiều dấu hiệu, nhiều trang trí gọi là itokpa. Một vài loại dùng khắc tên gia phả dòng tộc tổ tiên gọi là ekashi itokpa (a wand bearing the ancestral mark).

Eka l à Ph ạn ngữ ekasố một, đứng đầu, trước tiên, là Việt ng ữ cả-shi biến âm với kẻ (người), với Pháp ngữ qui là người, với Quỉ là Người như Xích Quỉ là Người Đỏ, Người Mặt Trời. Ekashi là Người Cả, Lớn, Tiên Chỉ, người sống trước tiên tức tổ tiên. Mỗi dòng tộc còn giữ một inau itokpa riêng, cha truyền con nối. Mỗi dòng được gọi tên theo huy hiệu, theo vết khắc (tên) trên cây nêu đó.

clip_image002

(Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Về sau nêu tên là khắc tên lên cây nêu rồi đem trồng ra cho công cộng, cho mọi người biết.

Nêu với nghĩa là tên tuổi liên hệ ruột thịt với Pháp ngữ “nom”, Anh ngữ “name”, cổ Ấn Độ nàman, Hy Lạp ónoma, Latin nòmen, gốc tái tạo Ấn-Âu *nòm, gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic: *nimi ‘name’.

Tóm lại tên có gốc nguyên thủy là nêu, nọc (có khắc biểu tượng hay chữ).

.nêm

nêm (cây cọc vát xéo). Anh ngữ wedge, nêm có ved- = vẹt, Tiền-Germanic *wagjaz, nêm có wag- = vát. Nêm là cây que, cọc cắt, đẽo vẹt, vát nhọn. Nêm là một thứ nọc, nêu.

Tiền Germanic *namon nhất là Anh ngữ name phát âm là /nêm/ chính là Việt ngữ nêm (wedge), một thứ nọc cắt vát nhọn, một thứ nõ…

Việt ngữ tên giúp ta truy tìm ra nguyên nghĩa ngữ của Ấn Âu ngữ.

Tóm lại

.Việt ngữ tên biến âm mẹ con với then, thẻ, tael, tabular (phiến mỏng), tablet (bài vị), tale, tally, teller

.Việt ngữ nêm biến âm mẹ con với Tiền Germanic *namon (chính là Anh ngữ name phát âm là /nêm/), IE *nòm, PIE * nomn-, gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic: *nimi ‘name’.

. Việt ngữ nêu, , nống, nỏ, biến âm mẹ con với Pháp ngữ nom, Tây Ban Nha nombre, Ý và Bồ nome, PIE *nomn-.

7. Eye

(đây là từ số 40 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

Trong Ấn-Âu ngữ, phần lớn các từ mắt thuộc về một nhóm có di truyền tính. Các từ khác dựa trên ý niệm như “see”, “look”, “bright”, “sun”, “shining ball” (Buck, 4.21).

Ấn-Âu ngữ.

Cổ ngữ Anh ege (Mercian), eage (West Saxon), Trung cổ Anh ngữ eighe có gốc tái tạo Tiền-Germanic *augon (Cổ Saxon aga, Cổ Frisian age, Cổ Norse auga, Thụy Điển öga, Đan Mạch øie, Hòa Lan oog, Old High German ouga, Đức auge, Gothic augo, mắt), có nguồn cội từ PIE *okw-, nhìn (Phạn ngữ akshi, mắt, số hai, aksha, mắt, gốc Phạn ngữ ak, nhìn, Hy Lạp opsis, a sight, eidein, nhìn, Old Church Slavonic oko, Latin oculus, Hy Lạp okkos).

Việt ngữ

1. Mắt dựa trên ý niệm “bright” (sáng), “sun” (mặt trời), “shining ball” (quả cầu sáng).

.ẻl

Mường ngữ ẻl, ngắm liên hệ ruột thịt với eye.

.mắt

Ta thấy rõ Việt ngữ mắt cùng âm với mặt chỉ vật sáng như mặt trời, mặt trăng, giống như Pháp ngữ

Mắt liên hệ với Tân Hy Lạp ngữ mati (mắt). Mắt ruột thịt với Phạn ngữ mrà-, bhà-, shine, à-mrà, mặt trời, Kartvelian: Mergrel mze mặt trời, Svan, mez, mặt trời (e ngươc ză), Naukan (Inuit, Eskimo) masak, mặt trời.

Mắt liện hệ với Tây Tạng ngữ mag là mắt.

Theo w= vv = m như váng = màng ta có Anh ngữ watch (coi chừng, canh gác) = mắt.

.mặt

Mường ngữ mặt là mắt cho thấy rõ mắt ruột thịt với mặt (vật sáng).

2. Mắt gọi theo sự nhìn, ngó.

. ô

Là lỗ nhỏ để nhìn như ô cửa, cửa ô. Mắt cũng hàm nghĩa lỗ nhỏ (lỗ mắt) như eye of a needle (lỗ kim) đền nhìn. Vì thế ô cũng hàm nghĩa mắt.

Với nghĩa này ô liên hệ với PIE *okw-, nhìn (Phạn ngữ aksha, mắt, gốc Phạn ngữ ak, nhìn, Hy Lạp opsis, a sight, eidein, nhìn, Old Church Slavonic oko, Latin oculus, Hy Lạp okkos).

Tóm lại

.Việt ngữ mắt, Mường ngữ mặt biến âm mẹ con với Tân Hy Lạp ngữ mati (mắt), với Phạn ngữ mrà-, bhà– ‘shine’, à-mrà, mặt trời.

.Mường ngữ ẻl, ngắm liên hệ ruột thịt với eye.

.Việt ngữ ô ruột thịt với PIE *okw-, nhìn.

8. Heart

(đây là từ số 52 trong danh sách 100 từ căn bản ổn định đề nghị bởi Morris Swadesh để chẩn đoán hai ngôn ngữ liên hệ với nhau).

tim, hột, hạt, cồi (như cồi mụn), sim…

Ấn-Âu ngữ.

Cổ Anh ngữ heort [tim, ngực, linh hồn, tâm linh, (tâm) ý, (tâm) chí, trí…], phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *khertan- (Cổ Saxon herta, Cổ Frisian herte, Cổ Norse hjarta, Hòa Lan, hart, Old High German herza, Đức herz, Gothic, hairto), Phạn ngữ, có nguồn gốc từ PIE *kerd- (Hy Lạp kardia, Latin cor, Cổ Irish cride, Welsh craidd, Nga serdce).

Hittite kir, kard(i), tim.

Các đại tộc khác

-Afro-Asiatic:

Ham.-Sem.: Ả Rập k’lb ‘heart’, Chad.: chi tộc Mubi: kòrtò ‘heart’.

-Altaic:

Mông Cổ Ǯürüken ‘heart’, Thổ Nhĩ Kỳ: cổ Uighur jürak.

Việt ngữ

.quả

Nguyên thủy có thể người cổ Việt gọi tim, cơ quan cốt lõi của sự sống ở giữa ngực con người là quả, là trái theo hình dạng của tim trông giống như một thứ quả. Bằng chứng thứ nhất còn thấy qua từ đôi quả tim, trái tim tức tim = quả = trái. Bằng chứng thứ hai là một thứ quả giống hình trái tim có mầu tím hồng khi chín giống hệt như quả tim gọi là quả sim. Cây sim gọi theo quả sim trông giống trái tim. Ta thấy rõ như ban ngày sim biến âm ruột thịt với Quảng Đông ngữ (một tộc Bách Việt) sắm là tim như tỉm sắmđiểm tâm. Sim = sắm, tim. Ta cũng thấy theo s=t như sụt = tụt (giá), ta có sim = sắm = tim. Quả sim giống quả tim về hình dạng lẫn mầu sắc. Quả sim là quả tim.

clip_image003

Quả sim (nguồn pwflora.blogspot.com)

Sim, sắm liên hệ mẹ con cùng vần với Nga ngữ serdce, tim.

Theo qu = c = k như quộn = cuộn, ta có quả = Latin kardia, PIE *kerd– ‘heart’.

Tóm lại Việt ngữ giúp ta tìm được nguyên nghĩa ngữ của Ấn Âu ngữ tim gọi là quả.

.hạt, hột

hạt, hột là phần cốt lõi, phần giữa, phần sinh tạo của quả giống hoàn toàn ý nghĩa của tim.

Ta thấy rõ như ban ngày hạt, hột = heart = Đức herz…

.cồi, cùi

phần lõi như cồi trứng cá, cùi bắp. Cồi biến âm mẹ con với Pháp ngữ coeur, Tây Ban Nha ngữ Corazon, Latin cor-, gốc card-, PIE *kerd- ‘heart’.

.nỏ

Mường ngữ nỏ là tim.

Theo biến âm n = c = k =kh, như nạo = cạo, nậy = cậy, nọc = cọc, nỏ (là khô như củi nỏ) = khỏ (là khô như bưởi khỏ), ta có nỏ = Latin cor = PIE *kerd-, tim.

.cốt (lõi)

theo c = h, cốt = hột. Cốt biến âm ruột thịt với Latin cor, với gốc card-, cardio-, tim.

Tóm lại

.Việt ngữ hạt, hột biến âm mẹ con với Anh ngữ heart, Đức ngữ herz.

.Việt ngữ cồi biến âm mẹ con với Latin cor-, Pháp ngữ coeur, Tây Ban Nha ngữ corazon, gốc card-, PIE *kerd- ‘heart’.

.Việt ngữ quả biến âm chị em với Latin kardia, PIE *kerd.

Thêm một lần nữa Việt ngữ giúp truy tìm được cội nguồn nguyên thủy của Ấn Âu ngữ.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: