SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 10).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 10)

Nguyễn Xuân Quang

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị, phát âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* : dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Dan. = Đan Mạch.

Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Du = Hòa Lan

Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Fr = Ph áp

Ge = Đức.

Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”, một siêu hệ tái tạo gồm ngữ hệ: Ấn-Âu ngữ, Uralic, Altaic, Dravidian Phi-Á và Eurasiatic.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Sp = T ân Ban Nha.

Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

Wel. = Welch.

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

*

*           *

A. MỘT TRĂM TỪ CHẨN ĐOÁN SỰ LIÊN HỆ GIỮA HAI NGÔN NGỮ ĐỀ NGHỊ BỞI MORRIS SWADESH.

(tiếp theo).

91. Black

đen

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Theo Buck các từ trong Ấn Âu ngữ black liên hệ với ‘dirt’ (bẩn), ‘smoky’ (ám khói), ‘blacken by fire’, cháy đen (15.65), theo Walter W. Skeat), đen còn có nghĩa scorched cháy sém.

Cổ Anh ngữ blæc ‘mầu đen’, mực, Trung cổ Anh ngữ blak, Anglosaxon blac, Băng Đảo blakkr ‘dark’,

Hòa Lan blakebn ‘to burn, scorch’.

Việt ngữ

.đen

./với nghĩa do cháy sém, cháy đen liên hệ với lửa.

Black, blac liên hệ với lửa như thấy qua Anh ngữ blacksmith, thợ rèn; Latin flag-rare, burn (cháy, đốt). Ta thấy blac, blak, black c ó bla- = gốc fla-, lửa, cháy, sáng, bật sáng, phừng cháy như flame (bừng cháy, phừng cháy, phực cháy, bốc cháy, bốc lửa…); phare (chiếu sáng), flare, flaring, chiếu sáng, flash, chớp loáng, sáng lóe lên (xem fire ở tr ên).

Theo bl = l (Chúa Blời = Chúa Lời), ta có bla- = Việt ngữ la, lá lửa.

Ta có đen biến âm mẹ con với đèn. Ở đây ta thấy đèn đi đôi với đuốc (đèn đuốc), những vật đốt cháy tỏa ra ánh sáng liên hệ với lửa.

.trui, thui.

nướng lửa, nướng lửa rơm như cá nướng trui (người Nam dùng nhiều) cùng nghĩa với thui như bò thui. Từ trui luyện (tui luyện, tôi luyện) cũng hàm nghĩa nướng lửa như thép tôi. Theo tr = th (trăng = tháng) ta có trui = thui (xem dưới). Qua từ đôi đen thui, đen thủi, ta có đen = thui. Ta cũng có từ đôi tối thui, túi thui( tối = túi = thui) và đen tối (tối = đen) Như thế trui (nướng lửa) = thui = túi = tối = đen.

.lùi, lụi

Lùi là nướng dưới tro như khoai lùi, ốc lùi (ăn ốc lùi tro, ăn no). Phương ngữ Huế lùi, lụi là nướng lửa như nem lùi, nem lụi. Theo tr = th = l như trũng = thũng = lũng (xuống), ta có trui = thui = lùi, lụi. Ta cũng có từ láy ba đen thùi lụi nghĩa là thui = lụi = đen.

Tóm lại trui = thui = lùi, lụi = tui, tôi (liên hệ với lửa) = túi, tối = đen.

Ta thấy blac có -la- liên hệ với lửa, lùi, lụi, thui, trui, tui (luyện) hàm nghĩa tối, đen.

Như thế ta thấy rõ Việt ngữ đen giống hệt như black có một nghĩa cháy đen như trong Ấn Âu ngữ mà Buck v à Walter W. Skeat đã nhận thấy.

./với nghĩa là bẩn (dirt)

Việt ngữ có từ đôi đen đuốc, đen = đuốc. Đuốc biến âm với luốc (đ = l như đãng = lãng, tai) như thấy qua từ đôi lem luốc. Lem là lấm, là bẩn như lấm lem. Như thế đen = đuốc = luốc = lem, bẩn liên hệ với Anh ngữ ‘dirt’, bẩn, đất. Ta cũng có từ đôi đất đen nghĩa là đen = đất = dirt, bẩn, đất.

Với nghĩa bẩn, đen liên hệ với dirt.

./với nghĩa tối

Qua từ đôi đen tối, ta có đen = tối. Đen liên hệ với Welsh, Breton du, Ái Nhĩ Lan dub, Bắc Ái Nhĩ Lan dubh, Anh ngữ dark, đen, tối.

.dầm

Mường ngữ dầm (đen) liên hệ với Ái Nhĩ Lan dub, đen (chữ cuối m=b)…

.Theo d = t như dẹt = tẹt, ta có dầm = Phạn ngữ tam + as ‘darkness’.

. Mường ngữ dầm biến âm với thâm, theo d = th như dư = thừa, ta có dầm = thâm (xem dưới).

.thâm

Áo the thâm là áo the đen.

Giống như dầm, thâm liên hệ với Phạn ngữ tamas ‘darkness’, tối, đậm (mầu đậm), đen.

.đậm

đậm hàm nghĩa đen như mầu đậm là mầu mang sắc đen. Qua từ đôi đậm đen, ta có đậm = đen.

Theo đ = d như đa = da (cây), ta có đậm = Mường ngữ dầm.

Ta có đậm = dầm = thâm = Phạn ngữ tamas.

.tối

Qua từ đôi đen tối, ta có tối = đen (xem night ở dưới).

.tăm

Tăm là tối là đen như thấy qua từ đôi tối tăm, tăm tối. Rõ như ban ngày tăm = Phạn ngữ tamas.

.thẳm, thăm thẳm

thường đi với sâu. Sâu thẳm, sâu thăm thẳm là sâu tối đen không thấy đáy. Thăm thẳm biến âm với thâm, với tăm.

.đặc

Hàm nghĩa đen như thấy qua từ đôi đen đặc, tối đặc.

đặc = Anh ngữ dark.

.nắc, nặc

Theo đ = n, ta có đặc = nặc và nặc cũng có nghĩa đen. Người Naxi ở Nam Trung Quốc có nghĩa là ‘Người Đen’. Naxi có Nax- là Nặc, là Đen và -xi là kì là kẻ là người [ngược với Xích Quỉ là Người Đỏ, Xích là Đỏ, Quỉ là pháp ngữ Qui, Latin Quo (người), là Xi (người)].

Nắc cũng có nghĩa là đêm. Ta có con bướm đêm gọi là con nắc nẻ (xem dưới ở Night).

Hán Việt nặc là bí mật hàm nghĩa kín, tối, đen (xã hội kín = xã hội đen) như thư nặc danh; Anh ngữ gọi ‘thư đen’ black mail, thư có tính cách đe dọa.

Nắc, nặc liên hệ với Latin niger (đen) Tây Ban Nha ngữ negro, Pháp ngữ noire, đen, với Đức ngữ nacht, đêm…

Ta cũng thấy biến âm theo cổ Việt blời = lời (Chúa Blời = Chúa Lời), ta có black = lac- = Đức ngữ nacht = nặc.

Black = nacht = nặc = đặc = đen.

.kịt

Qua từ láy hay từ đôi đen kịt, ta có kịt = đen.

Kịt biến âm với Cổ Prussian kirsnan ‘black’, Nga ngữ cerny (c ă) ‘black’, IE *kers- ‘dark, dirty’ (Watkins 1985:30), PIE *k[h]er-s-/*k[h]r-s ‘black, dark’.

.cẩm

nếp cẩm là nếp than có mầu tím đen. Cẩm liên hệ ruột thịt với IE *kers-, dark, dirty (Watkin, 1985:30), PIE * k[h]er-s-/*k[h]ṛ-s, black, dark.

.lòa

Qua từ đôi mù lòa, ta có mù = lòa, người lòa là người thấy tối đen ngược với người sáng. Chói lòa là chói làm tối mắt.

Theo l=n (n là dạng cổ của l như nòng = lòng, s úng), ta có lòa = Pháp ngữ noire (/noa/), đen.

.mịt

Qua từ đôi tối mịt, ta có mịt = tối, liên hệ với Hy Lạp ngữ melas, đen, Phạn ngữ mala, bẩn, malina, đen.

.mực, mặc

mực biến âm với Hán Việt mặc có nghĩa là đen, chó mực là chó đen (mực có mầu đen lấy theo nghĩa mực xạ). Mực, mặc biến âm với mịt (đen).

92. Night

đêm, tối.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ niht, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *nakht- (Cổ Norse natt, Cổ Saxon và Old High German naht, Cổ Frisian và Hòa Lan nacht, Đức nacht, Gothic nahts), có nguồn gốc từ PIE *nekwt- ‘night’ (Hy Lạp ngữ nuks ‘a night’, Latin nox, cổ Irish nochd, Phạn ngữ naktam ‘a night’. Nga ngữ noch. Theo Watkin có lẽ từ gốc *neg- ‘to be dark, be night’.

Việt ngữ

.đêm

Theo đ=t (đuột = tuột, thẳng) ta có đêm = Phạn Ngữ tami ‘night’ = Phạn ngữ támas, tamira ‘darkness”, tối = PIE *tem/*tam/*tm ‘dark, darkness’ (Bomhard, tr. 207 số 51).

.tăm

Đêm biến âm với tăm. Từ đôi tăm tối, tối tăm với tăm = tối. Như thế đêm = tăm = tối. Tăm chính là Phạn ngữ tami, đêm, támas, tamira, tối, là PIE *tem/*tam/*tm.

.tối, túi

Là đêm (đêm tối) như tối nay = đêm nay). Tối là đen (đen tối) biến âm với thui, thủi có một nghĩa là đen (đen thui, đen thủi) (như đã nói ở black ở trên).

Tối = tăm, biến âm với Ấn Âu ngữ như tăm như đã nói ở trên.

Theo t=n (túm = núm), ta có tối, túi = Pháp ngữ nuit, đêm, tối…

.đui

Đui là mù (đui mù). Người mù chỉ thấy bóng tối. Người mù là người tối, người có mắt nhìn thấy là người sáng. Qua từ láy đen đủi ta có đen = đủi = đui.

Ta có đui = tui= thui = đen.

Đui = túi, tối = Pháp ngữ nuit, đêm, tối.

.nắc

Việt ngữ nắc là đêm như thấy qua tên con nắc nẻ là con bướm đêm. Loài bướm này có tiếng kêu như một tràng cười rộ vì thế mới có câu ví “cười như nắc nẻ”. Nắc chính là Đức ngữ nacht, Phạn Ngữ nak-, niç, đêm, liên hệ với Hy Lạp ngữ nuks, nukt, Latin nox, noct-, Phạn ngữ naktam, Nga ngữ nock,

PIE * nekwt-, *neg ‘night’.

.đặc

Ngoài nghĩa đen như đã nói ở trên, đặc còn có nghĩa là tối. Tối đặc.

Ta thấy đặc = dark (tối).

.om, um

Qua từ đôi tối om, tối om om, túi um, ta có om, um = tối.

Om, um biến âm với Pháp ngữ ombre, Ý ngữ ombra, bóng tối.

.dốt

dốt là u tối, ngu (ngu tối).

Qua từ đôi dốt đặc, ta có dốt = đặc = dark.

.nát

Ta có từ láy dốt nát có dốt = nát. Nát liên hệ với Anglosaxon naht, Gothic nath, Đức ngữ nacht, Phạn ngữ nakta, đêm, tối.

93. Hot

nóng, sốt, cay…

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ hat ‘hot, flaming’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *haita (Cổ Saxon, Cổ Frisian het, Cổ Norse heitr, Hòa Lan heet, Đức heiβ) ‘hot’, Gothic heito, ‘fever’), Phạn Ngữ hotra (hu+tra), lửa, mặt trời, dâng lửa thờ; có nguồn gốc từ PIE *kai- ‘heat’.

Việt ngữ

.hốt

hốt (nóng hốt cả người) = Anh ngữ hot, nóng = Phạn ngữ hotra, lửa, mặt trời.

.ngốt

nóng ngốt cả người.

Theo h=ng (hào = ngao), hốt = ngốt.

Ta có ngốt = hốt = hot.

.khốt

Mường ngữ khốt, nóng bức.

Theo Mường ngữ kh = h Việt ngữ như Mường ngữ khanh = hanh (khô), ta có khốt = hốt = hot.

.sốt

Là nóng. Thức ăn còn nóng sốt, cơm nóng canh sốt; sốt ruột = nóng ruột.

.theo kh = s như khẽ = sẽ, Mường ngữ khư = sư, ta có sốt = khốt và theo s=h như sói = hói, ta có sốt = hốt = hot.

.theo s = ch như sửa = chữa, ta có sốt = Pháp ngữ chaud, nóng.

.biến âm theo kiểu sai sót, ta có sốt = sai = PIE *kai ‘heat’.

.sưởi

Làm cho ấm.

Theo biến âm kiểu sửa sai, ta có sưởi = sai = PIE *kai ‘heat’.

.sởi

bệnh do sốt nóng có đốm đỏ ở da. Trung Nam gọi là ban đỏ.

Sởi biến âm với sưởi liên hệ với Ấn-Âu ngữ như sưởi.

.sẩy

sẩy như rôm sẩy là chứng mẩn hột thường thấy ở trẻ em, Anh Mỹ gọi là “heat rash”.

Rôm sẩy là do trời nóng hay sốt làm mồ hôi đọng lại ở miệng ống dẫn mồ hôi ở da tạo thành các hạt nhỏ như hạt kê trăng trắng, danh từ y học gọi là sudamina (có suda là mồ hôi).

Sảy, sẩy biến với sưởi, sởi liên hệ với PIE *kai- ‘heat’.

.hâl

Mường ngữ hâl, nóng, oi, bức.

hâl = hot = hanh, khô.

.hâm

Làm cho nóng như hâm thức ăn, hâm hấp: hơ nóng, ấm.

Hâm = heat (làm cho nóng, đun…).

.hơ

Làm cho ấm, cho nóng như hơ lửa.

Hơ liên hệ với hot.

.cay

Ta thấy cay ruột thịt với cháy, nóng cháy như cay cháy họng. Cháy hàm nghĩa nóng, nóng bỏng. Anh ngữ hot có một nghĩa là cay.

Việt ngữ cay liên hệ với Latin calidus, Ý ngữ caldo, Tây Ban Nha ngữ caliente, Phạn ngữ katu có nghĩa là hot.

94. Cold

cóng, rét, lạnh, giá (lạnh).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

.Ấn Âu ngữ

Cổ Anh ngữ cald (Anglian), ceald (West Saxon) ‘cold, cool’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *kaldaz (Cổ Saxon, Cổ Frisian kald, Cổ Norse kaldr, Đan Mạch kold, Old High German và Đức kalt, Gothic kalds ‘cold’), có nguồn gốc từ IE *kel, ‘cold’, PIE *gel-/*gol- ‘cold’ (Latin gelare ‘to freeze’, gelu ‘frost’, glacies ‘ice’, Ý gelato ‘ice cream’).

.Ngôn ngữ của Chúng Ta Nostratic

Nostr. *kulV (to get) cold.

Việt ngữ

.cóng

lạnh như cóng tay, qua từ đôi lạnh cóng, ta có cóng = lạnh.

cóng = cold liên hệ với IE *kel ‘cold’, Nostr.V *kulV ‘to get cold.

.buốt

Là lạnh như lạnh buốt, giá buốt.

Theo b = ph = như bành = fành và ph = fr như Pháp = France, ta có buốt = Pháp ngữ froid, Tây Ban Nha ngữ frio, Latin frigidus, lạnh.

.giá

lạnh giá, giá lạnh, giá buốt. Giá = lạnh.

Giá liên hệ với PIE *gel- ‘cold’.

.căm căm, cầm cập

Rét căm căm, lạnh căm căm với cămcằm (Anh ngữ chin). Rét, run cầm cập với cầmcầm (chin).

Theo c = h, ta có cằm, cầm = hàm như răng cấm (biến âm của cầm) = răng hàm (đây là hiện tượng biến âm hoán vị với nghĩa chéo, lệch thấy trong Việt ngữ và Ấn Âu ngữ như Buck nhận thấy rằng “there is considerable interchange between ‘jaw’, ‘cheek’ and ‘chin’ notably in a widespread cognate group” (4.208) (có sự hoán đổi đáng kể giữa jaw, cheek và chin, đáng chú ý là trong nhóm các chữ họ hàng có liện hệ rộng lớn). Ví dụ Anh ngữ cheek, má = chin, cằm, cầm; jaw, hàm = Pháp ngữ joue, má. Việt ngữ liên hệ qua kiểu hóan đổi này với Anh ngữ maxillary, mandibule, Latin màla, Pháp ngữ mâchoir, hàm).

Lạnh, rét, run hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập (theo nghĩa cấm là hàm). Cầm cập là hai hàm cạp vào nhau. Căm căm, cầm cập = Phạn ngữ kamp, to tremble, â-kamp+a, shaking, run, run cầm cập.

95. Full

đầy, nhiều, no…

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ full ‘completely, full, perfect, entire, utter’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic fullaz (Cổ Saxon full, Cổ Frisian ful, Cổ Norse fullr, Hòa Lan vol, Old High German fol, Đức voll, Gothic fulls), Phạn ngữ pùr-, nhiều, có nguồn gốc từ PIE *pele- ‘to fill’.

Việt ngữ

.vun

vun là đầy như vun đầy lên, bát cơm xới vun, thóc đong vun miệng đấu là đong đầy miệng đấu.

.ta thấy rất rõ vun biến âm mẹ con với Hòa Lan ngữ vol, Đức ngữ voll.

.theo v = p, ta có vun = Scr. pun = Phạn ngữ pùr-, nhiều.

.theo v = f như vành = fành, ta có vun = full (với nghĩa đầy).

.bộn

bộn là nhiều như bộn bạc, bộn tiền, bề bộn. Theo b = f (bành = fành), ta có bộn = full với nghĩa nhiều.

.lắm

Lắm là nhiều như nhiều lắm, lắm điều = nhiều điều.

lắm = Ái Nhĩ Lan làn, Welsh llaun, Breton leun có nghĩa là ‘full’.

96. New

mới, non.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ, ngoại trừ một vài ngoại lệ, những từ nói về ‘new’ và ‘young’ (non, trẻ) thuộc về cùng một nhóm di truyền chung (Buck, tr.957). Trong Việt ngữ cũng vậy (xem dưới).

Cổ Anh ngữ neowe, niowe, sớm hơn có niwe ‘new, fresh, recent, novel, unheard-of, untried, inexperienced’, Trung cổ Anh ngữ yong, yung; phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *newjaz (Cổ Saxon niuwi, Cổ Frisian nie, Đan Mạch và Thụy Điển ny, Hòa Lan nieuw, Old High German niuwl, Đức neu, Gothic niujis ‘new’), có nguồn gốc từ PIE *newo- ‘new’ (Phạn ngữ navah, Persian nau, Hittite newash, Hy Lạp neos, Nga ngữ novyi, Latin novus, Cồ Irish nue).

Việt ngữ

.mới

mới biến âm với mơi (sớm mơi), mai (sớm mai), mơ (tinh mơ) là lúc trước khi mặt trời mọc tức khởi đầu một ngày mới. Qua từ đôi sớm mai, ta có mai, mơi, mới = sớm. Sớm = chớm (mới hiện ra) hàm nghĩa mới, non, trẻ.

Mới = mơi = mai = mơ liên hệ với Anh ngữ morn, Hòa Lan, Đan Mạch morgen có nguồn gốc nghĩa có lẽ từ dawn, rạng đông, tinh mơ, với Anh ngữ morning, sớm mai, buổi sáng.

Qua từ đôi mới mẻ ta có mới = mẻ.

Theo m=b, ta có mẻ = bé. Bé là nhỏ, còn trẻ, còn non (non trẻ).

Như thế trong Việt ngữ mới cũng hàm nghĩa bé, trẻ, non (non trẻ) như new trong Ấn Âu ngữ.

Ta cũng thấy mẻ biến âm mẹ con với mẽ. Qua từ đôi mạnh mẽ, ta có mạnh = mẽ. Như thế mẻ, mẽ là bé, là trẻ, là mạnh.

Ta có mới = mẻ = mẽ = mạnh, liên hệ với PIE *mag[h]- (h nhỏ và cao), ‘young’.

.non

Non hàm nghĩa mới.

Biến âm theo kiểu nôn nao, ta có non = Persian ngữ nau, mới = Phạn ngữ navah (có nav- = nau) = novel (mới, mới lạ, tân kỳ, lạ thường) (nov- = non).

Việt ngữ non liên hệ với Latin novus, Pháp neuf, gốc Hy Lạp neo-, Tây Ban Nha ngữ Nuevo, Bồ Đào Nha ngữ novo, Rumania nou, Anh ngữ new, IE *newo-, mới.

.nớt, nít

Qua từ đôi non nớt ta có non = nớt.

Nớt biến âm với nít. Con nít là trẻ con còn nhỏ (nít =little, nhỏ), còn non trẻ (trẻ nít).

nớt = nít = non = new.

.dòng dòng

dòng dòng hay ròng ròng là đàn cá con mới nở, mới sinh, còn non đi theo mẹ.

Theo d=j (như jeep = díp, xe) ta có dòng dòng, ròng ròng = Hòa Lan jong = New High German jung = Trung cổ Anh ngữ yong, Anh ngữ hiện kim young = IE *juwen-/ *jeu– ‘young’.

. đòng đòng

Nhánh lúa non, mới nhú như lúa trổ đòng đòng.

Đòng đòng biến âm mẹ con với ròng ròng, dòng dòng và biến âm với Ấn Âu ngữ như dòng dòng.

.dờn, rờn, (xanh)

Qua từ đôi xanh dờn (rờn) ta có xanh = dờn. Xanh có một nghĩa là non, trẻ như xanh non, xuân xanh, tuổi xanh.

Qua từ Green đã nói ở trên, xanh có một nghĩa là mầu lá non (xanh rì, xanh mầu hoa lí, mầu lá chuối non), xanh là chưa chín, còn xanh, còn non, còn chua như chanh cốm… Như thế rờn, dờn = xanh, có nghĩa là non, trẻ.

Ta thấy dờn = Pháp ngữ jeune (/dơn/) = IE *juwen-/ *jeu- ‘young’.

.thơ (trẻ)

Thơ là trẻ, còn non dại như con thơ, trẻ thơ, thơ ấu, thơ ngây…

Theo th = d = j như thừa = dư, ta có thơ = IE *jeu– ‘young.

.dũng, dõng

Hán Việt dũng, dõng là có sức lực, mạnh mẽ như dũng mãnh. Ta có dũng, dõng = mãnh = mạnh = mẽ. Sức mạnh liên hệ với non trẻ, trai tráng.

Dũng liên hệ với New High German jung, Hòa Lan jong, Trung Cổ Anh ngữ yung, Anh ngữ hiện kim young…

Theo d=tr như dàn = tràn, ta có dũng, dõng = Anh ngữ strong, mạnh [dõng = (s)trong].

.trung (trẻ)

Qua từ đôi trẻ trung ta có trung = trẻ. Trung biến âm với dũng, dõng. Trẻ là khỏe, là mạnh là mạnh mẽ, dũng mãnh.

Trung (với nghĩa trẻ, dũng mãnh) liên hệ với strong: trung = (s)trong.

97. Good

đúng, tốt, được, phải, hay, khá đẹp, tuyệt, thích hợp, tử tế, lương thiện…

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ, good phần lớn chỉ ý nghĩa chấp thuận, ưng ý. Good thường có nghĩa là ‘fitting, straight, right, beautiful, orderlly’ (Buck, 16.71).

Cổ Anh ngữ gòd (o dài) ‘virtuous, desirable, valid, considerable’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic

*gothaz (Cổ Norse godr, Hòa Lan goed, Old High German guot, Đức gut, Gothic goþs) nghĩa gốc là ‘fit, adequate, belonging together’, có nguồn gốc từ PIE *gheadh- ‘to unite, be associated, suitable’ (Nga nữ godnyi ‘fit, suitable’).

Việt ngữ

.đúng, trúng

với nghĩa đúng, trúng như đúng, đúng đấy.

theo ch =g như chi (vậy) = gì (vậy), ta có chúng (trúng, đúng) = good.

.hay

với nghĩa hay như hay lắm.

Theo h= g (hái = gặt), ta có hay = Đức ngữ gut = good (hay biến âm với háigut biến âm với gặt).

.tốt

với nghĩa tốt như tốt, tốt lắm.

Việt ngữ tốt liên hệ với cổ ngữ Anh til ‘good, competent, serviceable, morally good’.

.phải

Việt ngữ phải diễn tả hầu hết nghĩa của good liên hệ với Anh ngữ fine (/fai/), tốt, được, đẹp, trang nhã…

phải = fine (/fai/).

Theo ph = b, ta có phải, fine = Pháp ngữ bon, Latin bonus, Ý buono.

.vừa

Good hiểu theo nghĩa fit là vừa.

Việt ngữ vừa, vừa vặn liên hệ với Phạn ngữ vasu-, vohu ‘good, weakth’, PIE *weyk[h]-/*woyk[h]/*wik[h]- ‘to arrange or to put in order, to make equal or similar; that which is true, reasonable, equal or similar’.

. được, đặng

với nghĩa được như được, được lắm, đặng được.

Được, đặng liên hệ với Ái Nhĩ Lan dag-, deg-, Bắc Ái Nhĩ Lan deagh-, Welsh da, Ba Lan dobry, Cổ Latin duenos, duenus ‘good’.

98. Round

tròn, vòng tròn, vật hình tròn, vòng, đi vòng (như thăm bệnh), vòng quanh, hiệp (đấu võ), vành (tròn).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anglo-Pháp ngữ rounde, Cổ Pháp ngữ roond, Pháp ngữ hiện kim rond có lẽ phát từ gốc tái tạo *redond, Vulgar Latin *retondus (Cổ Ý ritondo), từ Latin retondus ‘like a wheel, circular, round’ related to rota, ‘wheel’.

Danh từ với ý nghĩa vật thể tròn, khối tròn, quả cầu “a spherical body’ từ tính từ round và Cổ Pháp roond, Hòa Lan rond, Đan Mạch và Thụy Điển rund, Đức runde, tất cả danh từ đều có gốc từ tính từ .

Việt ngữ

.rào

rào có nghĩa là hàng rào nhưng cũng có nghĩa là bao quanh, vây quanh, vòng quanh, rào quanh, hàm nghĩa tròn.

Ta thấy rào = round, /rao/, tròn.

.tròn

Việt ngữ tròn ruột thịt với tròng liên hệ với trứng (O tròn như quả trứng gà), với Ý ngữ tondo,

Theo tr = r như trăn = rắn, ta có tròn = Pháp ngữ rond, Latin rotundus, tròn.

.ròng, dòng

ròng (dòng) hàm nghĩa tròn như rốt ròng (dòng) = cuối vòng = chạy dòng dòng = chạy vòng vòng.

Ta thấy dòng, ròng = rond.

.lòng

Lòng hàm nghĩa là tròn. Lòng vòng.

Theo r=l, Pháp ngữ rond = lòng (vòng).

Biến âm rond = long, lòng thấy rất rõ qua Pháp ngữ rondel (vòng tròn kim lọai có lỗ lót bù lon để vặn cho chặt, vật hình tròn) chuyển qua Việt ngữ là long đền.

.tròng

tròng (cho vào tròng), tròng cổ, tròng lọng.

tròng biến âm với lòng như lòng = tròng (trứng).

Tròng = lòng = rond, round.

.vòng

biến âm với lòng. Lòng vòng.

Vòng biến âm với vành (xem dưới).

.vành

Vành có nghĩa là tròn như vành tròn, vành khăn, tròn vành vạnh (trăng tròn vành vạnh) ruột thịt với vòng:

Kìa như con bướm lượng vành chơi xuân.

Vành, vè, viền (bánh xe) liên hệ với Phạn ngữ val+a ‘bracelet, circle’, vartula ‘round, circular’, tròn; có var- = val = vành, vạnh.

Vành với nghĩa vành xe liên hệ với Phạn ngữ varutha ‘a wooden fence round a carriage to protect it from collision’ (một vành gỗ bao vòng quanh xe để bảo vệ xe khi đụng nhau).

Anh ngữ fender có fe- = vè, và fend- = vành (f=v như fành = vành).

.bánh (xe)

Bánh xebánh ăn là hai từ đồng âm dị nghĩa.

Bánh (xe) liên hệ với vành. Theo b=v, ta có bánh = vánh = vành.

Theo b = v = w, bánh (xe) = vành = wheel, bánh xe.

.vòng

Vòng có nghĩa là tròn. Vòng tròn.

Vòng là khoen tròn đeo tay, vòng tay, vòng cổ, vòng kiềng biến âm với vành.

.vo

Tròn vo, vo tròn bóp méo

Qua từ đôi vòng vo, ta có vo = vòng.

.quanh

Qua từ đôi vòng quanh, ta có vòng = quanh.

Ta có quay = vòng = vành = wheel, có một nghĩa quay vòng quanh.

.co

Qua từ đôi quanh co, ta có co = quanh.

Co liên hệ với circle, cercle.

.quay

Quay hàm nghĩa tròn thấy qua quay tròn.

Theo qu = v, ta có quay = wheel có một nghĩa là tròn (bánh xe), quay tròn.

.xoay

Xoay có nghĩa là tròn. Tròn xoay.

Theo x = qu như xoăn = quăn (tóc), ta có xoay = quay.

.chịa (tròn)

Qua từ láy hay đôi tròn chịa, ta có chịa = tròn

Chịa liên hệ với Phạn ngữ charka ‘wheel, circle’.

.xe

vật lăn trên bánh tròn dùng vận chuyển.

Xe biến âm với xoay, xoe có một nghĩa là tròn (theo nghĩa bánh xe).

Xe liên hệ với Pháp ngữ cercle, Anh ngữ circle.

Xe = Hán Việt xa = Anh ngữ car = Pháp ngữ char, Latin carrus, liên hệ với Phạn ngữ cakra, sakra, Pali chakra, vòng tròn, bánh xe = Phạn ngữ kar, to roll (lăn).

.xoe

tròn xoe.

xoe liên hệ xe.

.cộ

Qua từ đôi xe cộ, ta có cộ = xe. Miền Trung (Bình Định) gọi cộ là xe ba gác.

cộ = car = Latin carrus = Phạn ngữ cahra = Pháp ngữ cercle = Anh ngữ circle…

.còn, cù

chơi còn, cù là chơi golf. Trò chơi được nói tới từ năm 1538 sau Tây Lịch, được cho là gọi theo trò chơi của người Hòa Lan dùng cây gậy đánh quả banh. Hòa Lan ngữ kolf, cây gậy, Đức ngữ kolbe, cây gậy, chùy. Theo g=c = k, ta có gol- = kol- = côn, can (Hán Việt) là cây gậy như múa côn quyền.

Việt ngữ gọi đámh golf là đánh là gọi theo quả banh tròn. Cù là cầu (tròn).

Lăn cù là lăn tròn:

Gió đưa hòn đá lăn cù,

Con chị có mất thì bù con em.

(ca dao).

Trái golf là trái cù, trái còn. Trái còn có hình cầu tròn. Người Mường, Thái có tục tung còn là tung cù, tung cầu, gieo cầu. Đọc thêm hơi vào còn là chòn, tròn. Chơi golf là chơi còn, chơi cù, sân golf = sân cù.

Ơ đây ta thấy người Tây Phương và người Việt Nam nhìn môn đánh golf dưới hai góc cạnh khác nhau, một đằng nhìn theo cây gậy, một đằng nhìn theo quả banh tròn. Tuy nhiên ta thấy quả banh tròn là yếu tố quan trọng, mang tính đặc thù trôi hơn cây gậy (nếu khômg có gậy dùng chân hất quả cù vào lỗ vẫn được!) vì thế nguyên nghĩa của golf là quả còn có vẻ đúng hơn.

98. Dry

khô, ráo.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ dryge, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *drtaugiz (Cổ Norse draugr, Đan Mạch, Hòa Lan drooge, Old High German trucchon, Đức trocken,), có nguồn gốc từ PIE *dreug-.

Việt ngữ

.khô

.Theo kh = x như khoang = xoang, ta có khô = gốc Hy Lạp xèros, khô như xeroderma, da khô (xem dưới).

Theo kh = ch như không = chẳng, ta có khô = Pháp ngữ chaud, nóng.

.khỏ

khỏ (cam, bưởi khỏ) biến âm mẹ con với khô.

.kho

Món ăn nấu cạn khô hết nước như cá kho, thịt kho.

Kho biến âm mẹ con với khô.

.khan

Là khô thấy rõ qua từ đôi khô khan. Khan có biến âm là khàn (khan giọng), khản (khản cổ).

Theo kh = g như khẩy = gẩy, ta có khan = Phạn ngữ gal ‘dry, desert’.

Theo kh = h (khì khì = hì hì, cười), ta có khan = hanh (khô) = Tiền-Germanic *haisa có lẽ có gốc nghĩa là ‘dried out, rought’.

.khanh

Mường ngữ khanh là khô biến âm với khan, với hanh (xem dưới).

.cằn

Qua từ đôi khô cằn, ta có khô = cằn.

cằn biến âm với cạn liên hệ với Phạn ngữ gal ‘dry, desert’ (c=g).

.cạn

Có một nghĩa là khô, cạn biến âm với cằn. Ta có từ đôi khô cạn, khô cằn.

.hanh

Hanh có một nghĩa là khô như nắng hanh vàng. Hanh khô.

Hanh liên hệ với Mường ngữ hâl, với gốc tái tạo Tiền-Germanic *haita.

Theo h=g (hái = gặt), ta có hanh = Phạn ngữ gal, khô.

.dãi, rãi

dãi, rãi là đội nắng, phơi nắng như dầm mưa dãi nắng.

rãi = dry. Dry = (d)ry =/rai/ = rãi, dãi.

.ran, rang

Ran, rang (dan, dang) có một nghĩa là khô như khô ran, không rang.

Ran, rang (dan, dang) liên hệ với Phạn ngữ jangal, khô.

.sắt

sắt là khô: người sắt lại, mặt nó sắt lại, hay khô sắt lại. Ainu ngữ (thổ dân ở Nhật Bản) sat, khô.

Sắt = Pháp ngữ sec, Latin siccus, Ý ngữ secco, Tây Ban Nha ngữ seco, Phạn ngữ çuska, khô.

.se

se là khô như quần áo phơi đã se, thấy rõ qua câu tục ngữ:

Đông chết se, hè chết lụt

Cây lúa về mùa đông ít nước dễ bị chết vì khô và mùa hè nhiều mưa dễ bị chết vì lụt.

Theo biến âm kiểu se sẩy, ta có se = sấy (làm cho khô, xem dưới).

Từ láy se sắt có se = sắt (khô).

Se biến âm và liên hệ với Ấn Âu ngữ như sắt.

Đặc biệt se ruột thịt với gốc Hy Lạp xèros-, khô như xerosis, chứng khô mắt, khô da một cách bất thường; xeroderma, da khô. Se = xèros.

Xin nói ra ngoài lề một chút. Một điều rất thú vị ở đây, dù cho có là trùng hợp đi nữa, là tên Xerox của một hãng làm máy photocopy dùng để sao giấy tờ, tên này phổ thông đến độ làm photocopy gọi là làm Xerox. Xerox có Xero- cùng âm với gốc Hy Lạp xèros, khô. Xerox, photocopy tiếng Việt gọi là sao (giấy tờ). Từ sao có một nghĩa là làm cho khô như sao thuốc bắc (xem dưới). Như thế Xerox, sao đều có nghĩa là khô, là se, là xèros. Xerox chính là Việt ngữ Sao (giấy tờ).

Phải chăng hãng Xerox đã lấy tên theo nghĩa là Khô?

Tên này có liên hệ gì đến điểm sinh tử khi chế ra máy photocopy là vấn đề làm cho khô mực trong tích tắc? Tác giả có một ông chú ở Pháp có tham dự vào việc chế tạo máy photocopy cho biết thật ra người Pháp đã tìm ra cách chế tạo máy photocopy đầu tiên nhưng loay hoay mãi không tìm được cách làm cho khô mực trong nháy mắt, sao ra bị nhòe. Trong một thời gian ngắn sau đó, Nhật đã khám phá ra được cách làm khô mực ngay tức khắc (hay chế ra một loại mực khô nhanh) khiến cho công ty Pháp thảm bại.

.sấy

Khô, làm cho khô bằng hơi nóng như cơm sấy, cau sấy.

Theo biến âm kiểu se sẩy, ta có sấy, xấy = gốc Hy Lạp xèros, khô.

.sao

Làm khô bằng cách rang khô như sao thuốc bắc.

sao (rang khô), liên hệ với Cồ Anh ngữ sèar, Lett. Sauss, PIE *saw-s/*su-s- ’dry’.

.ráo

Như ráo nước.

Ta có từ đôi khô ráo.

Ráo = drough (hạn hán), có (d)rought = /rao/ = ráo = gốc Tiền Germanic *dreug- ‘dry’.

.táo

là khô như táo bón là phân bị khô bón lại, táo liên hệ với Phạn ngữ tars ‘to be dry’.

100. Name

tên

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

. Ấn-Âu ngữ

Cổ Anh ngữ nama, noma ‘name, reputation’ (tên, có tên tuổi, nổi danh, danh tiếng), phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *namon (Cổ Saxon namo, Cổ Frisian nama, Cổ Norse nafn, Đức name(n), Gothic namo), có nguồn gốc từ IE *nom-, PIE * nomn- (Phạn ngữ nama, Avestan nama, Hy Lạp onoma, onyma, Latin nomen, Nga ngữ imya, Cổ Ái Nhĩ Lan ainm, Cổ Welsh anu ‘name’).

.Tocharian

nom, ñem.

.Uralic

*nime (Phần Lan nimi, Zyrian nim, Vogul nam, Yukaghir niu ‘name’

.Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic.

Nostr.*nimi ‘name’.

Việt ngữ

.tên

Việt ngữ tên có hai nghĩa là tên gọi (name) và tên là mũi tên (que, cọc nhọn). Đây là một địa khai ngôn ngữ. Tại sao tên (danh tính) lại đồng âm với tên (vật nhọn)? Tên là que nhọn, vật nhọn dùng làm mũi tên như một khí giới săn bắn hay giết người và vật nhọn cũng dùng để vạch, vẽ, khắc, viết. Thoạt đầu con người vạch trên đất, đá, cây, gỗ những hình bắt chước trong thiên nhiên. Sau đó những hình diễn tả một ý nghĩa trở thành một dấu, một biểu tượng, rồi thành một thứ chữ viết tượng hình, hình tự (pictogram). Trong đó có chữ hình tự biểu tượng cho một bộ tộc. Đây là hình thức tên nguyên thủy. Vì thế mà Việt ngữ tên gọi cùng tên với vật nhọn tên. Tên (danh) và tên (vật có mũi nhọn) là một.

.nõ, nống

nõ (cây cọc nhọn)

nõ liên hệ với Pháp ngữ nom, Tây Ban Nha nombre, Ý và Bồ nome, PIE *nom-; có no- = nõ.

nống (cây cọc)

Như nõ.

Ngoài ra Pháp ngữ nom phát âm là /nông/ biến âm với cổ ngữ Việt nống là cái nọc.

.nỏ,

nỏ

là vật bắn mũi tên (vật có mũi nhọn).

nỏ do nõ đẻ ra. PIE *nom- có no- = nõ = nỏ.

-ná

Cùng nghĩa với nỏ, liên hệ với Anh ngữ name, Tiền- Germanic * namo-, có na- = ná.

Mũi tên là vật nhọn, nỏ, ná bắn vật nhọn, nõ, nống (cọc nhọn) ruột thịt với nêu (cọc nhọn) (xem nêu ở dưới).

.nêu

Nêu nguyên thủy chỉ là một cây nọc, cây nõ, như thấy qua câu thơ trong Nhị Độ Mai:

Neo thuyền, giặt lưới, giăng bè, dựng nêu.

(câu 1512)

Nêu là nguồn cội của tên gọi. Ta có từ đôi nêu tên (như đừng có nêu tên người ta ra), tức nêu = tên. Cây nêu có khấc, khắc dấu, hình là bảng tên, bảng hiệu đầu tiên và nêu đồng hóa với tên. Người Ainu (Hà Di) thổ dân ở Nhật có cây inau, chính là nêu của chúng ta. -Nau = Nao = Nêu (e=a, cây đề = cây đa). Người Ainu mỗi dòng tộc còn giữ một inau itokpa riêng, cha truyền con nối. Mỗi dòng được gọi tên theo huy hiệu, theo vết khắc (tên) trên cây nêu đó.

clip_image002

(Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Rõ như ban ngày tên có gốc từ nêu, nõ, nọc nhọn.

Nêu trong tín ngưỡng là cây nọc có vạch dấu hình, có tua hay có cành lá được cho là có thần lực như thấy cây nêu Tết hiện nay (không phải có nguồn gốc từ Phật giáo) (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Về sau nêu tên là khắc tên lên cây nêu rồi đem trồng ra cho công cộng, cho mọi người biết.

Nêu với nghĩa là tên tuổi (danh tính) liên hệ với Pháp ngữ “nom”, Anh ngữ “name”, cổ Ấn Độ nàman, Hy Lạp ónoma, Latin nòmen, gốc tái tạo Ấn-Âu *nòm, gốc Ngôn ngữ của chúng ta Nostratic: *nimi ‘name’.

Tóm lại tên có gốc nguyên thủy là nêu, nọc (có khắc biểu tượng hay chữ).

.nêm

nêm (cây cọc vát xéo để chêm). Anh ngữ wedge, nêm = ved- = vẹt , Tiền-Ấn Âu ngữ *wagjaz= vag- = vát (khúc cây vẹt, vát, vát vẹt đi). Nêm là một thứ nọc, nêu.

Tiền Germanic *namon nhất là Anh ngữ name phát âm là /nêm/ chính là Việt ngữ nêm (wedge), một thứ nọc cắt vát nhọn, một thứ nõ, một thứ nỏ bắn mũi tên.

.tên

Có gốc từ một cây nõ, nống, rồi nêu biến thành một tấm, một miếng gỗ có khắc, vẽ, vạch trở thành tên.

Với nghĩa này, tên = tael, thẻ, thẻ bài (sau này thành thẻ tùy thân, thẻ căn cước mang tên). Bài vị là biến dạng của thẻ bài. Biến âm theo kiểu bài bản, ta có bài = bản, một tấm gỗ nhỏ. Theo b=v, bản = ván.

Tên = Anh ngữ tael = te- = thẻ. Thẻ vàng cũng gọi là lạng vàng. Ta thấy rõ tael có gốc từ cây, gỗ qua sự kiện thẻ vàng còn gọi là cây vàng.

Thẻ bài là một hình thức của nêu. Thẻ bài là tấm thẻ tên. Tên là cái nêu, tấm thẻ có khắc dấu.

Như thế tên = thẻ = tael = tabular (phiến mỏng) = tablet (bài vị).

Tên, thẻ, thẻ bài, bài vị tất cả đều là di duệ của nêu.

. đếm

Nêu là gốc tổ của các con số và tính toán.

Dựa vào các vết khắc trên nêu Tính ra được các đời tổ tiên. Theo đà tiến hóa cây nêu biến thành “que tính”. Do đó ta có từ Hán Việt danh tính. Từ tính ngoài nghĩa liên hệ với tên, với tính tình, ở đây cũng có nghĩa liên hệ với toán. Tính toán. Anh ngữ number, Pháp ngữ nombre, số đếm… gần cận với name, nom, nêu, nau.

Theo đ = n, ta có đếm = nêm. Ta thấy nguyên thủy đếm dùng nêm, nêu, nọc, que. Như thế đếm, con số đếm do nêm (name) ruột thịt với tên cũng có nguồn cội là nêm (nêu, nõ, nọc). Điểm này thấy rõ qua Pháp ngữ nombre (số đếm) ruột thịt với nom (tên) và qua Anh ngữ number (số đếm) ruột thịt với name (tên).

Ta có đếm, nêm liên hệ với tên, với Anh ngữ tally.

Tally hay tally-stick, có nghĩa gốc là thẻ, que, kèo, có khấc, khắc vạch để làm con số, để đếm, để kết toán sổ sách, để làm tin, buôn bán. Tally (danh từ) có những nghĩa sau:

1. giao kèo là cây kèo, cọc nhỏ có khắc dấu chẻ làm hai mỗi người giữ một nửa cây kèo để giao ước, để làm bằng nên gọi là giao kèo. The tally trade, buôn bán trả góp.

2. thẻ có khắc dấu để ăn cơm chịu, ăn ghi sổ.

3. dấu khắc trên cây (để ghi nhớ).

4. kiểm điểm, kiểm kê (như phu vác gạo, mỗi lần vác một bao đưa một cái thẻ có khắc dấu).

5. số lượng hàng trong một đơn vị, mớ hàng (như 100 tương đương với một cái thẻ).

6. thẻ nhận dạng (một thứ căn cước), nhãn hiệu hàng hóa, cửa tiệm ngày xưa làm bằng các thẻ, tấm gỗ có vạch khắc).

7. vật, thẻ để đối chiếu.

Tally (động từ) có nghĩa:

-khắc, khắc ghi vào thẻ, miếng gỗ.

-kiểm kê, kế toán.

-dán nhãn hiệu.

-tính toán.

-làm phù hợp với nhau (như hai mảnh giao kèo).

Tally liên hệ với:

-tale

1. có một nghĩa là số (number), Anglos axon talu ‘number’, Băng Đảo ngữ tala ‘number’, Thụy điển tal ‘number. Tale, tala, tal ruột thịt với Latin talea, que, nọc.

Ta thấy tale, tala, tal = tên = tael =thẻ.

2. kể chuyện, chuyện kể, truyện, mách lại (to tell tales)

Ngày xưa truyện được ghi khắc lại trên các thẻ, nọc gỗ như sử xanh ghi những chuyện xẩy ra khắc trên những thanh tre xanh. Việt ngữ kể ruột thịt với kẻ (cái que, cọc nhỏ) như thước kẻ.

-tell

nói, kể lại, thuật lại, đếm (tell time: ‘đếm’ giờ) liên hệ với tale, tally. Tell-tale, người hay mách chuyện, mách lẻo. Teller, người kể chuyện, mách chuyện; nhân viên ngân hàng lo thu và phát tiền (liên hệ con số, đếm, kết toán).

Tóm lại đếm = nêm = tên = tally (với nghĩa thẻ có vạch để tính toán, kết toán), tale (với nghĩa số).

Thẻ, tael, talu, tale, tally là một hình thức của nêu, cha đẻ của con số và tính toán.

Ở đây ta thấy rõ một điều là Việt ngữ tên vừa có nghĩa là tên gọi vừa có nghĩa vật nhọn mũi tên (một từ duy nhất). Nghĩa tên vật nhọn giải thích cho biết rõ nguyên nghĩa ngữ nguyên thủy, tột cùng của tên gọi. Trong khi ở Ấn Âu ngữ tên gọi ví dụ như Anh ngữ name và tên mũi nhọn là arrow là hai từ có mặt chữ hoàn toàn khác nhau, không biến âm với nhau, không máu mủ ruột thịt họ hàng với nhau, không làm liên tưởng đến nghĩa của nhau [mặc dù arrow cũng có nghĩa là mũi nhọn. Arrow có A là chữ nọc mũi mác Ʌ trong hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que, biểu tượng mũi nhọn, vật nhọn và ar- = Phạn ngữ ar, cầy (cầy nguyên thủy là một khúc cây vát nhọn để xới đất) = gốc Hy Lạp ake, nhọn như artichoke là cây có gai nhọn]. Vì thế các nhà tầm nguyên nghĩa ngữ học (etymologists) Tây phương đã không hiểu được nguyên nghĩa tối cùng của name là phát xuất từ một cây nõ, nêu, nêm có khấc, khắc, vạch, vẽ bằng mũi nhọn. Trong khi đó ta có thể dùng Việt ngữ để tìm nguyên ngữ tột cùng của name là name = Việt nêm, vật vát nhọn. Cũng nên biết thêm Anh ngữ wedge (nêm) phát từ gốc Tiền-Germanic wagjaz có nguồn gốc không rõ (Online Etymology Dictinary). Ta thấy wed-, wag- = Việt ngữ vẹt, vát, vạt, vạc nghĩa là vật vạc, vạt xéo, cắt vát.

Tương tự trong Hán Việt cũng vậy tên gọi là danh và tên mũi nhọn là tiễn như hỏa tiễn dịch là ‘tên lửa’ (tiễn cũng có nghĩa là cắt biến âm với tiện như thợ tiện và với tên, vật nhọn).

Điều này cho thấy Việt ngữ nguyên sơ hơn, nguyên thủy hơn, gần tiếng gốc cổ của con người hơn.

Ta không thể nói là name đẻ ra nêm mà chắc chắn trăm phần trăm là nêm đẻ ra name (nỏ, nêu, nêm có trước, đẻ ra tên mũi nhọn và cả tên gọi).

Từ tên (vật nhọn) không phải lấy từ Hán Việt tiễn như các nhà ngôn ngữ học hiện nay cho là vậy mà là ngược lại.

.số

Nguyên khởi số là cái nêu, cái nọc có khắc vạch. Ngày nay các khu khuân vác ở bến tầu vẫn dùng cây nọc để đếm. Mỗi lần vác một bao vào kho đưa một cây que tức một số. Ta thấy number, số có nu- = nõ (nọc), nêu. Ta cũng thấy num- = nêm và name = /nêm/ = nêm.

Theo s=ch, Việt ngữ số = chổ (chạm, chạm chổ, khắc). Số là cây nõ, nêu, nêm có khấc, khắc, vạch.

Ơ trên ta thấy tally, tale có nghĩa là khắc, khấc vào thẻ, que và cũng có nghĩa là số. Tally, tale biến âm với tạc là khắc, đẽo như tạc tượng. Chổ còn có nghĩa là sâm, xâm tức tattoo. Thuyền trưởng Cook là người đầu tiên đề cập tới từ tattoo. Từ tattoo được cho là có nguồn gốc từ Đa Đảo (Tahiti và Samoa tatau, Marquesa tatu). Dĩ nhiên tục chổ, xâm, tattoo thấy trong tất cả các tộc của đại tộc Bách Việt. Người Việt từ thời Hùng Vương đã có tục xâm mình để tránh thuồng luồng ăn thịt. Người Đa Đảo có cùng nhóm DNA với cổ Việt ở Đông Nam Á và ngôn ngữ Đa Đảo liên hệ với Việt ngữ nên tattoo có gốc tat- là tạc giống như tally, tale.

Sâm (xâm) cùng nghĩa với săm (xăm), với thăm (bốc thăm), với tăm (que xỉa răng) là que có vạch, có chữ, có số dùng bói toán như xin xâm, xin xăm.

Như thế số = chổ = sâm, xâm = xăm = thăm = tăm = que có vạch, khắc. Số cùng nghĩa với tale, với thăm, với nêm, với đếm. Đếm số.

Đây là một trong danh sách mười lăm từ được cho là quân bằng nhất theo các nhà ngôn ngữ học người Nga dùng để so sánh xem hai ngôn ngữ có liên hệ với nhau hay không.

Như thế ta đã đối chiếu 100 từ (còn hơn thế nữa) căn bản quân bằng bền để chẩn đoán sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ do Morris Swadesh đề nghị. Bây giờ ta hãy bước qua so sánh 15 từ được cho là căn bản nhất, quân bằng nhất của các tác giả người Nga để chẩn đoán sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ. Sau đó, ta thử xem, ta rút tỉa ra được những gì?

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: