SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 9).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ

(phần 9)

Nguyễn Xuân Quang

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị, phát âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* : dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Dan. = Đan Mạch.

Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Du = Hòa Lan

Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Fr = Ph áp

Ge = Đức.

Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”, một siêu hệ tái tạo gồm ngữ hệ: Ấn-Âu ngữ, Uralic, Altaic, Dravidian Phi-Á và Eurasiatic.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Sp = T ân Ban Nha.

Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

Wel. = Welch.

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

*

*            *

A. MỘT TRĂM TỪ CHẨN ĐOÁN SỰ LIÊN HỆ GIỮA HAI NGÔN NGỮ ĐỀ NGHỊ BỞI MORRIS SWADESH.

(tiếp theo).

81. Smoke

khói.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ phần lớn những từ chỉ ‘vapor’, ‘steam’ và ‘smoke’ họ hàng ruột thịt với nhau. Việt ngữ cũng vậy (xem dưới).

Cổ Anh ngữ muộn (hiếm thấy) smoca ‘fumes and volatile material given off by burning substances’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *smuk- (Cổ Irish much, Welsh mwg ‘smoke’, Hòa Lan smook, Middle High German smouch, Đức schmauch), có nguồn gốc từ PIE *smeug- ‘to smoke, smoke’ (Armenian mux, Hy Lạp smykhein ‘đốt cháy âm ỉ…).

Việt ngữ

.khói

Việt ngữ khói liên hệ với Nga ngữ čad, fumes, smoke, IE *ked- to smoke (Pokorny 1959:537); PIE *k’wәt (k nhỏ, cao)/*k’wat-, ‘to burn, to smoke, to smolder’.

.khơi.

Khơi biến âm với khói chỉ nơi xa xăm mù mịt như khói sương ở ngoài biển rộng đứng nhìn từ bờ ra (thuyền ra

khơi, ngàn khơi). Khơi liên hệ với PIE *k’wәt.

.khét

Khói có mùi khét, cháy khét, khét lẹt. Khét ruột thịt với khói.

Ta có khét = IE *ked ‘to smoke.

., mờ

Khói thường đi đôi với , mờ, sương như thấy qua từ đôi coi như điệp nghĩa khói mù, khói mờ, khói sương.

.mù = Cổ Irish much (smoke) = Welsh mwg = Breton moged = Tiền-Germanic *smuk-, PIE*smeug-, khói.

. mờ (do hơi nước bốc lên) = smoke, có –mo- = mờ (khói mờ).

.mịt

liên hệ với Anh ngữ mist, mù, mù mị.

.móc

móc là sương như mưa móc, ơn mưa móc. Ta thấy móc = Cổ Irish much (smoke) = -mok- và = Armenian mux, khói).

khói = sương cả hai đều “mờ” (khói mờ, sương mờ) như thấy rất rõ ‘smoke” và “móc” đều có gốc “mo”. Theo m = f, móc = fog, sương mờ, sa mù.

.cưởi

Phương ngữ Huế cưởi sương:

Đêm khuya cưởi xuống dần dần

(ca dao)

theo c = k = kh, cưởi = cởi = khói.

Cưởi liên hệ với Ấn Âu ngữ giống khói, đã nói ở trên.

.bốc

Ta thường nói bốc khói, bốc hơi là nhả, thả, tỏa ra khói, ra hơi.

Qua từ đôi bốc khói, ta có bốc = khói.

.theo b = m, bốc = smoke, smog (smoke + fog = smog)

.theo b = f (bành = f ành), ta có bốc = fog.

.pốch

Mường ngữ pốch là phổi, cơ quan giữ chức vụ thở liên hệ tới không khí, hơi, hít, hút, phì phà…

Pốch biến âm ruột thịt với bốc. Qua từ đôi bốc hơi, ta có bốc = hơi. Hơi liên hệ với thở (hơi thở), với phổi. Ta thấy rất rõ pốch (phổi) liện hệ Pháp ngữ pumon, phổi; với puff = phù (thở phù phù), phì phà, phì phèo (xem dưới).

.hút

.Hút dùng hơi thở vào để lấy hơi như hút thuốc hay chất lỏng như hút rượu cần.

Hút (thuốc) liên hệ với Phạn ngữ dhuna- ‘smoke’, ta có hít = hút = (d)hu-.

.hít

Hút thuốc còn gọi là hít thuốc. Hít dùng hợi thở vào để hút lấy khói thuốc. Hít thở.

Với nghĩa này hít = hút và biến âm với Ấn Âu ngữ như hút.

.hít (hôn).

Qua từ đôi hôn hít ta có hít = hôn. Hít hơi thân thể là dạng nguyên thủy của hôn. Loài vật hít nhau là dạng hôn nguyên thủy, có nhiều tộc hít nhau hay cọ mũi vào nhau (một dạng hít hay ngửi) cũng chính là dạng hôn hít nhau. Ngày nay các bà mẹ thường hít hơi con chính là hôn hít con.

Hít với nghĩa là hôn liên hệ Anh ngữ kiss, hôn, hun, hôn hít với Phạn ngữ kus, to embrace, hôn.

Theo h = k (hết = kết), ta có hít = kiss = kus.

Biến âm giữa Phạn ngữ kus và Anh ngữ kiss là dạng biến âm giữa kút kít trong Việt ngữ theo kiểu kút kít. Điểm này giải thích tại sao Việt ngữ hút và hít là biến âm của nhau và có một nghĩa là hút thuốc = hít thuốc.

.ăn thuốc

Hút, hít thuốc cũng có nghĩa là ăn (ăn hút) xem chữ eat.

.phì phà, phì phèo

Hút thuốc cũng nói là phì phà, phì phèo điếu thuốc tức phì ra khói, phà ra khói thuốc.

Phì, phà, phì, phèo liên hệ với Pháp ngữ fumer, Tây Ban Nha ngữ fumar, hút thuốc, với Anh ngữ fume, hơi, khói, khói hơi bốc, xông (ra, lên).

theo ph = f =, phì, phà, phèo = phù (như thổi phù phù) = fu(me) = fu(mer) = fu(mar).

.bập (thuốc).

bập một hơi thuốc, bập một điếu thuốc.

Ta có bập liên hệ với Anh ngữ puff, hơi thở, hơi thổi ra, phun, xịt hơi ra như thuốc xịt vào mũi (trị nghẹt mũi), vào họng (trị hen suyễn), phì phà, phì phèo.

có puff = phù (thở phù phù), phì phà, phì phèo liên hệ với phổi ( Pháp ngữ poumon, Anh pulmonary), phun.

.điếu

dụng cụ để hút thuốc.

điếu = Phạn ngữ dhuma, smoke. Điếu = d(h) u.

.đun

nấu bằng lửa có khói. Có lửa là có khói. Khói lửa.

đun liên hệ với Phạn ngự dhuma, smoke.

.hun

Hun khói, un khói (h câm),

Liên hệ với Armenian hur ‘fire, torch’, Phạn ngữ (d)hum-.

82. Fire

lửa.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn Âu ngữ một số từ chỉ fire thường liên hệ với ‘phỏng, hơi nóng, ánh sáng’. Việt ngữ cũng vậy (xem dưới).

Cổ Anh ngữ fur, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *fuir (Cổ Saxon, Cổ Frisian fiur, Hòa Lan vuur, Old High German fiur, Đức feuer), có nguồn gốc từ PIE *perjos, từ gốc *paewr-. (Armenian hur ‘fire, torch’,Czech pyr ‘hot ashes’, Hy Lạp pyr, Umbrian pir, Phạn ngữ pu, Hittite pahhur ‘fire’).

PIE thấy rõ có hai nguồn gốc: *paewr- và *egni- (Latin ignis). Gốc đầu *paewr- là dạng không động (‘inanimate’) tức tĩnh và gốc *egni- chỉ lửa như là một chất và sau đó thành ‘động’ (‘animate’) chỉ lửa như là một sức sống. Điểm này cũng giống như từ water (nước).

Ta cũng thấy Lửa có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương như nước (xem Water).

Việt ngữ

.lửa

liên hệ  cổ Việt  lời, blời, trời, với Tây Ban Nha luz, Anh ngữ light, ánh sáng…

.lập lòe, lấp lánh

nói về ánh lửa, ánh sáng, đèn liên hệ với lửa và liên hệ với Ấn Âu ngữ như trên.

.phơi

Làm cho khô bằng nắng, lửa.

Phơi liên hệ với Pháp ngữ feu (/phơ/) và với Anh ngữ fire. Theo f=ph, fire = /fai/ = phơi.

Rõ hơn phơi = Phạn ngữ pai, to dry (làm cho khô) hay wither (khô, héo).

.phai

Phai biến âm với phơi.

Phai mầu, phai nhạt, phai mờ do nắng, lửa liên hệ với Anh ngữ fade, phai, với Phạn ngữ pai, to dry, làm cho khô với hàm nghĩa phai.

Ta có từ đôi phai lạt, phai lợt với phai = lạt = lợt = Phạn ngữ mlai, to fade. Ta có -lai = lạt, lợt.

.phực, phừng, phừng phực (sáng).

liên hệ với gốc chữ fla-, lửa, cháy, sáng, bật sáng, phừng (cháy, sáng) như flame (cháy sáng bừng cháy, phừng cháy, phực cháy, bốc cháy, bốc lửa…); phare (Pháp ngữ phare, đèn pha, đèn chiếu sáng), flare, flaring, chiếu sáng, flash, loáng, chớp loáng, lóe (sáng lóe lên)…

.bừng

Như bừng sáng biến âm với phừng.

Bừng biến âm với Ấn Âu ngữ như phừng.

.bật

Làm cho sáng lên như bật sáng lên, bật đèn, bật lửa.

Liên hệ với Phạn Ngữ bhâs, bhlâc, bhlâs, to shine có bhâ- = bật, với PIE *bheleg-, *bhel ‘to shine, flash, burn’.

.Phật

biến âm với bật, người đã ‘bật sáng ra’, đã tìm ra ánh sáng của kiếp người khổ đau. Ông Phật là người đã ‘enlighted’, thường dịch là đại giác, giác ngộ.

Liên hệ với Ấn-Âu ngữ như trên.

.nỉ

nỉ (flannel), một loại vải ấm như áo nỉ, mũ nỉ.

Việt ngữ nỉ ruột thịt với Phạn ngữ agni, lửa (lửa làm cho ấm).

Flannel có gốc fla-, lửa.

.ni

Ni là loại mũ các tu sĩ Phật giáo hay đội có hai mảnh che cả tai cho ấm đầu trọc và tai (người thường có tóc dài phủ ấm được tai): tục ngữ có câu mũ ni che tai. Hiển nhiên ni ruột thịt với Phạn ngữ agni, lửa.

.chăn

Theo ch = tr = bl ta có chăn = Pháp ngữ cổ blanchet (vải len hay nỉ mỏng) dạng giảm thiểu của blanc (trắng) chỉ vải trắng = Anh ngữ blanket (nguyên thủy dùng tấm da thú, vải mầu trắng để đắp ấm).

.cháy

liên hệ với char, cháy: đốt, cháy thành than, thiêu rụi, với charbon (Pháp ngữ), than, với Pháp ngữ chaleur, Tây Ban Nha caliente, Latin calor, nóng.

.chả

Liên hệ với char có một nghĩa là nướng than như char-broiled hamburger. Chả là thịt nướng than như bún chả Hà Nội, chả quế. Sau này dùng rộng ra chả cũng chỉ thức ăn rán, chiên như chả giò, chả ram, chả trứng (loại rán, chiên). Nên nhớ từ chả chỉ áp dụng cho thức ăn nướng than, lửa hay chiên rán mà thôi, còn giò lụa là món luộc, mọc trứng là món hấp nếu nói là “chả lụa”, “chả trứng hấp”, “chả đùm” là sai ngữ pháp. Vào tiệm ăn gọi một đĩa cơm tấm bì chả trứng, nhà hàng nào cũng đem ra mọc trứng hấp thịt chứ không phải là trứng chiên. Trứng hấp thịt, miến, mộc nhĩ phải nói là mọc trứng như người Bắc mới đúng ngữ pháp. Cũng nên biết món thịt nướng là món ăn chín đầu tiên của loài người. Những trận cháy rừng làm các thú lớn chạy mất, người tiền sử phải lượm ăn các thú vật nhỏ chết cháy, ăn thấy ngon và khám phá ra món “chả”. Vì vậy di thể (gene) thích ăn món thịt nướng than, nướng lửa, món chả truyền xuống con người hiện đại nên ngày nay mọi dân tộc đều ưa chuộng món chả nướng. Người Quảng Đông gọi một thứ thịt ‘quay’ là chá xíu hay xá xíu. Chá chính là chả. Theo x = ch, xá = chá = chả); Mã Nam Dương món thịt nướng que gọi là saté (sa- = chả), Trung Đông gọi là kabof (ka- = chả), Tây phương gọi là shish kabab hay shish kebab, người Nga thích món shaslik, thịt xuyên qua lưỡi kiếm nướng than (sha- = chả), người Mỹ thích món char-broiled hamburger…

.chạo

Người Huế có món tôm nhuyễn nướng than gọi là chạo cũng có cùng gốc char, chả.

.chảo

dụng cụ dùng chiên, rán thức ăn.

Biến âm với Ấn Âu ngữ như trên.

.chiên.

Cũng nên biết từ chiên của Trung Nam biến âm với char, trong khi miền Bắc nói chiên là rán.

.rán.

Rán biến âm với rang (rang khác rán là không có dầu mỡ) với dang (dang nắng), chang (nắng chang chang) liên hệ với lửa, mặt trời.

Rán liên hệ với Phạn ngữ bhrajj, to fry, rán (có -rajj = rán).

.phi

một thứ chiên, rán cho vào dầu nóng sôi như phi hành, hành phi, phi tỏi.

Phi liên hệ với fry, rán, chiên, theo ph = f, theo phát âm Việt ngữ, fry = phi.

83. Ash

tro, tàn lửa; số nhiều ashes chỉ lửa cháy âm ỉ trong tro (không có ngọn lửa).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ ash, ashes phát gốc từ những từ ‘burn’, ‘fire’, ‘be dry’, ‘warm’, ‘devour by fire’ và họ hàng với ‘dust’ (Buck, 1.84).

Cổ Anh ngữ æsce, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *askon (Cổ Norse và Thụy Điển aska, Old High German asca, Đức asche, Gothic azgo ‘ashes’), có nguồn gốc từ PIE *as- ‘to burn, glow’ (Phạn ngữ asah ‘ashes, dust’, Latin ardus ‘parched, dry’), Tây Ban Nha và Bồ ngữ ascua ‘red-hot coal’ mượn từ gốc Germanic.

Việt ngữ

.cho, gio, do, tro. 

Tro, cho, gio thường đi đôi với than. Tro than.

Ta thấy cho = cổ ngữ Anh col ‘charcoal, live coal’ (than hồng), Hòa Lan kool, Old High German chol, Đức kohle, có nguồn gốc PIE * g(e)u-lo- ‘live coal’.

Ở đây ta thấy

-cho biến âm mẹ con với Old High German chol.

Ta cũng thấy cho biến âm ruột thịt với char có một nghĩa là cháy rụi thành cho than.

– gio biến âm ruột thịt với Bắc Ái Nhĩ Lan gor, Phạn ngữ gharma, PIE *g(e)u-lo- ‘live coal’.

-do biến âm với dó, gió liên hệ với bụi liên hệ với Anh ngữ dust, Phạn ngữ dhùli, IE *dheu-, bụi.

Ta suy ra từ tro thường dùng hiện nay là một từ muộn.

-với nghĩa âm ỉ (cháy trong tro)

.um

Um (nấu âm ỉ, vùi trong trấu, trong tro) = ash.

-với nghĩa ấm, ấm áp (warm)

.ấm

ấm, ấm áp, ta c ó ấm = áp = ash = PIE *as-.

-với nghĩa bụi.

.do

biến âm với dust, Phạn ngữ dhùli, IE *dheu- như đã nói ở trên.

.ai

Hán Việt ai là bụi như trần ai.

ai = ash.

84. Burn

bỏng, phỏng, đốt, cháy.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ bryne, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *brennan/*branaja (Cổ Norse brenna ‘to burn, light’, Hòa Lan branden, Old High German brinnan, Đức brennen, Gothic branjan ‘to set on fire’) có lẽ có nguồn gốc từ PIE *gwher- ‘to heat, warm’ hay từ PIE *bhre-n-u, từ gốc *bhreue- ‘to boil forth, well up’.

Việt ngữ

.bỏng

Liên hệ với Gothic fòn (lửa), Cổ ngữ Anh brine, Anh ngữ hiện kim burn, Pháp ngữ brulure, liên hệ với Phạn ngữ bhuji, fire (lửa). Ta thấy bhuji có bhu = bu = fu = fire = feu (Pháp ngữ).

Nến điện ‘bu-gi’ phiên âm từ Pháp ngữ bougie ruột thịt với bhuji.

Bỏng liên hệ với gốc IE*pun, *pur-, fire (b=p).

phỏng.

biến âm với bỏng liên hệ với fire, Pháp ngữ feu…

.phồng

theo b=ph, bỏng = phỏng, phồng. Phỏng biến âm với phồng. Phồng rộp do phỏng lửa nên những chỗ phồng rộp có nước được đồng hóa với phỏng. Phồng rộp coi như là phỏng thấy rõ qua chứng bệnh phỏng rạ có những phỏng rộp như bị phỏng và dân gian chữa bằng cách dùng tro của gốc rạ đốt cháy làm thuốc bôi lên chỗ phồng rộp (nên mới gọi là phỏng rạ).

Phồng biến âm với phỏng, bỏng và với Ấn Âu ngữ như đã nói ở trên.

Với nghĩa phồng, phình, không do phỏng gây ra thì phồng = phình = Anh ngữ puff, phồng.

.põl

Mường ngữ põl là bỏng, phồng, rộp liên hệ vời IE *pun- ‘fire’.

.bộp

bỏng bộp là món ăn làm bằng cách rang gạo nếp hay ngô, bắp cho nổ phồng lên rồi ngào đường. Anh ngữ pop-corn là bắp, ngô rang nổ phồng như hoa nở. Pop-corn là ngô bộp nổ hoa.

Bộp chính là Anh ngữ pop, rang nổ.

.bốp

Với nghĩa nổ như nổ bôm bốp, ta có Việt ngữ bốp = pop (tiếng nổ như nút rượu hơi, súng bắn nút chai…).

Rõ hơn, Mường ngữ pốp pốp là bôm bốp ruột thịt với Ang ngữ pop với nghĩa tiếng nổ.

.phụng, phượng (chim).

chim phượng, chim phụng là chim lửa,(fire bird).

Ta có phượng, phụng = phoenix, chim lửa, chim phượng. Phoenix Cổ Anh và Pháp fenix, Latin phoenix cho là phát gốc từ một ngoại quốc có thể từ Ai Cập cổ hay từ gốc phoinos ‘mầu đỏ máu’ (mầu lửa đỏ).

Ta có phượng, phụng = pheon(ix) = fire = feu (Pháp ngữ).

.phượng (hoa)

Hoa có mầu đỏ lửa, nở về mùa hè Anh ngữ gọi là cây flamboyant có gốc Pháp flambé, Anh ngữ flame.

Ta có phượng = flamboyant = flame.

.bếp

liên hệ với burn với Pháp ngữ feu, gốc Hy Lạp pyro-., IE *pur-, *pun-, fire, với PIE *bhel-, to shine, burn’, PIE*paewr-, lửa.

85. Path

lối, lối mòn, đường, đàng.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ paϷ, pæp ‘path, track’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *patha- (Cổ Frisian path, Hòa Lan pad, Old High German, Đức pfad, Old Church Slavonic poti ‘path’, peti ‘heel’, Nga ngữ put ‘path, way’) có nguồn gốc từ PIE *pent- ‘to thread, go, pass’ (Avestan patha ‘way’, Phạn ngữ panthah ‘path, way’).

Việt ngữ

.bước

bước liên hệ với path là lối mòn, lối do dấu chân dẫm lên mà thành, phát gốc từ:

-pad, đường, bước nhẹ của thú, chân (thỏ, chồn…). Pad có nghĩa là đường thấy qua từ foot-pad = foot path, Low German hay Flemish pad ‘sole of the foot’ (gan bàn chân), Phạn ngữ pad-, chân.

-ped- tiền tố, gốc chữ, chân, bước chân, bộ (Hán Việt), liên hệ với gốc chữ Hy Lạp ngữ pod-, Latin pes, pus (octopus, tám chân, con bát túc là con tám chân, nói trại thành bạch tuộc), Pháp ngữ pied, Tây Ban Nha ngữ pie, Pháp ngữ pas, bước, IE *ped-, foot.

Path là đi, có lẽ từ Trung Cổ Hòa La paden ‘walk along a path, make a path’, phát từ pad, pat ‘path.

Ta có path = bước.

.pối

ờng ngữ pối là chân, giò, cẳng liên hệ với gốc Hy Lạp ngữ pod-, IE *ped-‘foot’, với path.

.lối

đường lối (lối = đường), lối đi (path, walk). Lối biến âm với Hán Việt lộ.

Theo l=r, lối = lộ =  Breton ru ‘street’ = Ang ngữ ro(ad) = Pháp rue, route.

Road liên hệ với Anh ngữ cổ rad ‘riding expedition, phát từ Tiền-Germanic *raido, có nguồn gốc PIE * reidh- ‘to ride’ (lái, cưỡi).

Ta thấy lái = lai = /rai/ = ride.

Ta cũng thấy rõ lối biến âm với lái, với ride, với PIE *reidth-, với road.

Lối cũng biến âm với Anh ngữ line (/lai/) (đường, vạch).

.lằn

giải dường, lằn ranh giới liện hệ với Anh ngữ lane (lằn, giải đường).

.khả, sá

Mường ngữ khả là đường biến âm với sá (đường như đường sá) liên hệ vớ Latin callis, Tây Ban Nha senda, calle, Pháp ngữ sentier, đường.

-nẻo

nẻo đường.

nèo liên hệ với Anh ngữ trail (/treo/) lối mòn (n= l = tr như neo = leo = trèo).

.đường, đàng

Liên hệ với Phạn ngữ rantu, a road, có rant- = đàng, đường.

86. Mountain

núi, non, nổng.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Pháp ngữ mont, montainge, Pháp hiện kim montagne, Latin thông dụng *montanea ‘mountain, mountain region’, danh từ dùng như giống cái montaneus ‘of a mountain, mountainous’, Latin montanus ‘mountainous, mountain’, mons, monten, ‘mountain’, PIE *men- ‘to stand out’.

Việt ngữ

Việt ngữ núi cũng như đất có ít nhất hai giống phái theo nòng nọc, âm dương. Núi là từ chỉ chung cũng có thể mang dương tính. Nổng như thấy trong từ đôi gò nổng (chính là Mã Nam Dương gunung là núi) là núi dương (nổng biến âm với nống là nọc, cọc) (núi cao, thường là đá, đỉnh nhọn trông như tháp, trụ nọc) và non là núi âm (núi thấp, thường là đất, đỉnh tròn có nước, cây cỏ xanh tươi). Non biến âm với nòng.

.mô

Chỗ đất nhô lên cao liên hệ với Hawaii mauna là núi (ngôn ngữ Hawaii thuộc Đa Đảo liên hệ với Việt ngữ), với Anh ngữ mound (đống, gò), mont, mons, mountain, PIE *mel-;*mol- ‘hill, mountain’.

.mu

phần vun cao tròn như mu rùa, mu âm hộ.

Mu biến âm mẹ con với mô liên hệ với mont, mons.

Mu (âm hộ) = mons Veneris, mu Vệ Nữ = mons pubis, mu âm hộ. Latin pubis, pubes ‘genital area, groin’ (vùng bộ phận sinh dục, bẹn). Theo p = m như Mường ngữ páng nà = mảnh ruộng, ta có pu(bis) = mu. Theo p=b như Mường ngữ pằng = bằng, ta có pubis = bẹn. Bẹn hiện nay hiểu theo nghĩa háng (groin) nhưng tiếng cổ có nghĩa là vùng sinh dục ‘genital area’ như thấy trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes: ‘bện: cơ quan sinh dục của đàn bà. Lồn, doi, dánh, cùng một nghĩa…”.

.pu, phù

Tiếng Việt cổ pu, núi thấy trong địa bàn Bách Việt và trong các ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ ở Đông Nam Á như Pù Vinh (Mai Châu, Hòa Bình), Pù Kinh (Bố Trạch, Quảng Bình), Pù Canh (huyện lỵ An Nhơn Bình Định hiện nay), Pù Ly (chạy từ huyện Phù Mỹ – huyện Phù Cát)…

Theo p = m, ta có pu, = mu, liên hệ với Ấn Âu như trên.

Theo p=ph như papa = pha pha (chữ quốc ngữ cổ), Mường ngữ pằng = phẳng, ta có pu, pù = phú, phù như Phù Phong (Vĩnh Tường, Vĩnh Phú), Phù Ninh (Tố Động, Thanh Oai), Phù Mỹ, Phù Cát (Bình Định)…

Phù biến âm với Ấn Âu ngữ như pu, pù.

.non.

đồi, núi thấp. Như đã nói ở trên non là núi âm.

Non liên hệ với Hòa Lan ngữ nol ‘a hill’, Cổ Anh ngữ cnoll đồi nhỏ, Anh ngữ hiện kim knoll, gò, mô đất, Cổ Norse knollr ‘hilltop’.

.gò

Mô đất cao, đồi nhỏ.

gò liên hệ với Phạn ngữ giri ‘mountain’, Ba Lan góra, Nga ngữ gora (núi)

.đồiđống

liên hệ với Cổ ngữ Anh dùn (núi),

87. Red

đỏ.

Mầu đỏ có khi gọi theo mầu lửa, mặt trời, đỏ là tỏ (sáng, mặt trời).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ read ‘red’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic rauthaz ( Cổ Saxon, Cổ Frisian rad, Cổ Norse rauðr, Đan Mạch rød, Hòa Lan rood, Đức rot, Gothic rauϷ, có nguồn gốc từ PIE * reudh-‘red, ruddy’ (Latin rubber, phương ngữ rufus ‘light red’; Hy Lạp erythros, Phạn rudhira-, Avestan raoidita-, Old Church Slavonic rudru; Cổ Iris ruad; Breton ruz ‘red’) .

Việt ngữ

.đỏ

đỏ liên hệ với Ái Nhĩ Lan ngữ derg, Bắc Ái Nhĩ Lan dearg, đỏ.

Theo biến âm đ=t=r, ta có đỏ = tỏ = rõ = red = PIE *reudh-.

.lét, loét, loe, loe loét, le

Đây là những thành tố láy hay từ đi đôi với đỏ như đỏ lét, đỏ loe đỏ loét, đỏ le có cùng nghĩa với đỏ; lòe loẹt ám chỉ màu sắc rợ có nhiều màu đỏ chóe.

Theo l=r, lét (đỏ), loét, loẹt, loe, lòe, l è… = red.

.rực

Qua từ đôi đỏ rực, ta có đỏ = rực.

Rực liên hệ với Breton ruz, đỏ; với russe, hung đỏ (có rus- = rực.), Pháp ngữ rouge, đỏ có rou- = rực (đỏ rực), với Latin ruber, Tây Ban Nha roso, Anh ngữ red nhưng rõ nhất là với Phạn ngữ ruc, shine (rực sáng), với PIE *reudh-, đỏ.

.rỡ

rỡ hệ với rực như thấy qua từ láy hay đôi rực rỡ; với rạng như rạng-rỡ (liên hệ với mầu mặt trời) = Phạn ngữ rohita, đỏ, liên hệ với rohit, mặt trời (có ro- = rỡ); với Gốc tái tạo IndoEuropean (IE) *reudh-, đỏ.

.rạng

Qua rạng rỡ ta có rạng = rở.

Rạng ruột thịt với Phạn ngữ ranj, đỏ, với Nam Đảo ngữ *rara, ‘red’.

.ráng

biến âm với rạng, có lẽ ráng gọi chính yếu theo mầu đỏ:

Áo chàng đỏ tựa ráng pha.

(Đoàn Thị Điểm, Chinh Phụ Ngâm).

Ráng  biến âm với Ân Âu ngữ như rạng.

.son

với nghĩa mầu đỏ liên hệ với Anh ngữ sun, Đức ngữ sonne, Tây Ban Nha ngữ sol, Pháp ngữ soleil… (xem sun).

88. Green

màu xanh lá cây, mầu hoa lí, lá chuối non, mầu lục, mầu xanh vàng.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ, một vài từ ‘green’ phát gốc từ tên các màu sắc khác, đặc biệt là màu vàng (Buck,15.68).

Sở dĩ xanh, vàng dùng lẫn cho nhau vì phát gốc từ màu lá cây cỏ…

Cổ Anh ngữ grene ‘green, young, immature, raw’, phát từ gốc tái tạo Tây-Germanic gronja- (Cổ Saxon grani, Cổ Frisian grene, Cổ Norse græm, Đan Mạch grøn, Hòa Lan groen, Old High German gruoni, Đức grün, có nguồn gốc từ PIE *ghre ‘grow’, mọc, (chỉ mầu cây sống).

Ngày nay greens chỉ rau cỏ.

Những từ chỉ green vài khi phản ánh màu thiên nhiên của cây cỏ qua nhiều giai đoạn của sự tăng trưởng (plant life), khi còn non, lá có mầu xanh hoa lí, lớn lên có mầu xanh ve, khi tàn có mầu vàng. Do đó green có gốc từ PIE *ghre, grow (mọc) chỉ mầu cây cỏ qua các giai đọan tăng trưởng. Việt ngữ mọc ruột thịt với Hán Việt mộc (cây).

Việt ngữ

.xanh

Việt ngữ xanh liên hệ với cây cành, theo x=c= ch, xanh = cành, chành. Mầu xanh tổng quát là mầu lá cành.

Theo x=c, ta có xanh = Hán Việt canh là trồng trọt như canh tác.

Như vậy xanh = cành = canh (tác) = cây = cầy = cấy = ki = ke = PIE* ghre ‘grow’.

Xanh với nghĩa mầu vàng thấy rõ qua gốc Hy Lạp xanthos, mầu vàng có xant- = xanh.

Rõ như ban ngày mầu xanh thực sự chỉ green, mầu xanh cây cành, lá. Vì thế blue, bleu là mầu trời nên gọi là mầu da trời, mầu trời, mầu lam, mầu lơ; mầu marine nên gọi là mầu biển, mầu nước biển, mầu dương và bỏ từ xanh ra không nên nói là mầu xanh da trời hay mầu xanh nước biển. Chỉ nên dùng mầu xanh cho mầu xanh lá cây mà thôi.

.lí

mầu xanh lá cây, mầu hoa lí. Lí liên hệ với Anh ngữ leaf, leaves (lá), Anh ngữ livid xanh mét, tái mét; to become livid with anger: giận tái mét (xem liver). Livid c ó li- = l í = leaves = lá.

.rì (xanh)

Qua từ đôi xanh rì. Rì = xanh. Theo r=l, rì = lí.

Rì biến âm với Ấn Âu ngữ như lí.

.lục

Hán Việt lục (mầu lá cây) như lục diệp, lục diệp tố, ruột thịt với Hán Việt lộc (lá non) liên hệ với lá, lí, Anh ngữ leaf.

.gan

Ta có gan biến âm với geen, green, xanh lá cây, xanh vàng. Điều này giải thích tại sao Đông Y cho gan thuộc bộ mộc và chúng ta gọi gan là gan:

Đàn ông năm bẩy lá gan,

Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Ngoài ra gan có một nghĩa là vàng vì gan đi đôi với mật nên gan gọi theo mầu mật và có nghĩa chéo với Anh ngữ gall (mật gan) (xem dưới). Điều này giải thích tại sao chúng ta có từ gan vàng và ta cũng thường nói mửa ra mật xanh mật vàng.

Gan với nghĩa vàng ruột thịt với gall (mật) và liên hệ với Phạn ngữ ghar, to be yellow or green, với green và với PIE *ghel- ‘yellow, green’.

.xao

Qua từ đôi xanh xao ta có xao = xanh.

Ta thấy xao chính là Anh ngữ sour (/sao/), chua, Đức ngữ sauer, chua (sauerkraut, bắp cải, rau muối chua), PIE *suro-, chua.

Ở đây xanh có nghĩa là chưa chín, hiểu theo nghĩa những trái cây chưa chín còn xanh, sống (unripe, raw) thường chua như xoài xanh.

Quả sấu là một thứ quả chua. Sấu = sao, xao = sour.

Ta cũng thấy xanh có nghĩa là chua qua các từ đôi xanh lè, chua lè, nghĩa là ta có xanh = lè = chua. Lè biến âm với le có nghĩa là nước, chim le le là chim nước (vịt trời). Xanh lè, chua lè là chua chẩy ra nước. Nước đây là nước dãi như thấy qua nhóm từ chua chẩy dãi và chẩy ra nước cũng có nghĩa là vãi đái như thấy qua nhóm từ chua vãi đái ra quần.

.chanh

Theo ch = x, ta có chanh = xanh. Chanh là xanh, là xao, là chua thấy rõ qua từ đôi chanh chua. Trái chanh là trái xanh, trái xao, trái sour, trái chua.

Ta có từ đôi chanh cốm chỉ con gái còn ‘xanh’ (xuân sanh, mới lớn), còn ‘dôn dốt’ chua. Theo nghĩa của từ đôi, ta có cốm = chanh. Cốm là gạo nếp còn non có mầu xanh hàm nghĩa xanh non. Với nghĩa còn xanh, còn non, mới, mới chớm chín,này, theo c=s, ta có cốm = sớm.

Xanh biến âm với sanh, sinh có nghĩa là sống. Sống có một nghĩa là còn xanh, còn sống chưa chín, chua. Sống với nghĩa chua thấy rõ qua từ đôi sống sít, ăn sống ăn sít (thường ám chỉ ăn các trái cây còn xanh, còn chua). Ta thấy rất rõ theo kiểu biến âm sít sao (vừa vặn), ta có sít = xao = sour (/sao/), chua. Rõ như hai năm là mười sít là chua.  Ăn sống ăn sít là ăn xanh, ăn chua. Sít có nghĩa là chua, ruột thịt với acid có một nghĩa là chua. Pháp ngữ citron (chanh) là trái cit-, trái sít, trái sour (/sao/), trái xanh, trái chua, trái chanh.

89. Yellow

mầu vàng.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ yellow họ hàng với green. Một vài từ phát xuất từ vật thể như vàng (gold), kê, nghệ, lòng vàng trứng, chanh vàng (lemon), mật ong, cà ri… Việt ngữ cũng vậy (xem dưới).

Cổ Anh ngữ geolu, geolwe, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *gelwaz (Cổ Saxon, Old High German gelo, Cổ Norse gulr, Thụy Điển gul ‘yellow’, Hòa Lan geel, Đức gelb ‘yellow’), Phạn ngữ harih ‘yellow, tawny yellow’, hiranyam ‘gold’; Avestan zari, ‘yellow’, có nguồn gốc từ PIE *ghel- ‘yellow, green’.

Việt ngữ

.kê

loại hạt mầu vàng như thấy qua điển tích “Giấc Nam Kha, giấc mộng kê vàng”.

Giấc Nam Kha khéo bất bình,

Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.

Theo k=gh như ke = ghe, bột phận sinh dục phái nữ (ke là tiếng cổ Việt chỉ bộ phận sinh dực phái nữ, Alexandre de Rhodes, Tự Điển Việt Bồ La); ta cũng thấy ke biến âm với kẽ như kẽ tay có nghĩa là khe), ta có kê = PIE *ghel- ‘yellow’.

Anh ngữ millet, Anglosaxon mil, Latin milium là kê liên hệ với mít, mật (xem dưới).

.nghệ

thứ củ có mầu vàng dùng làm gia vị.

Theo ngh = k như nghịt (đen) = kịt, nghẹt = kẹt, nghều = kều (cao), ta có nghệ = kê.

Mầu nghệ ruột thịt với kê thấy rõ qua Ấn ngữ kerasi, mầu nghệ.

Nghệ biến âm với Ấn Âu ngữ như kê.

.khè

Qua từ đôi vàng khè ta có vàng = khè. Khè biên âm với kê (kh = k nh ư khe =k ẽ), v ới nghệ.

Myanmar ngữ shwe là vàng (kim loại), ở Rangon có chùa Shwe Dagon (Chùa Vàng Dagon). Theo sh = kh, ta có shwe = khè. Vàng khè là vàng kê, vàng nghệ.

Khè liên hệ với IE *ghel- ‘yellow’.

.cà

gốc chữ cà-: theo biến âm kiểu cà kê ta có cà = kê và cà = kê = khè. Như thế gốc chữ có một nghĩa là vàng. Theo c= g = gh (cắm = găm = ghim), ta có cà = Phạn ngữ ghar ‘to be yellow’.

Ta thấy:

-cà sa (áo tu sĩ Phật giáo mầu vàng hay vàng nghệ).

-cà ri (phiên âm Pháp ngữ cari, cary, Anh ngữ curry), Tamil ngữ kari, bột gia vị mầu vàng nghệ. Món cà-ri nấu với gia vị có bột nghệ mầu vàng này.

Cà ri liên hệ với với Phạn ngữ harih, mầu vàng, hâridra ‘stained with turmeric (có mầu nghệ), yellow’ (c= h, cùi = hủi).

Ta cũng thấy trong Ấn Âu ngữ có carrot, thứ củ có mầu vàng, canary, loài chim có lông vàng (hoàng yến) có gốc harih, vàng.

Theo c=s, cà = sa. Sa cũng có nghĩa là mầu vàng như saffron, nghệ, safran gia vị mầu vàng lấy từ hoa crocus. Việt ngữ xoài (nói trại đi là sài như Cầu Dừa Đủ Sài) có xà, sà- có nghĩa là mầu vàng (xem dưới)…

Tóm lại cà liên hệ với Phạn ngữ ghar, to be yellow, harih, vàng.

.mai

Là mầu vàng. Hoa mai là thứ hoa vàng. Thàng phố cổ Maio ở Lưỡng Hà và ở Nam Mỹ là thành phố Vàng (Golden city).

Quả mơ có mơ biến âm với mai là quả mầu vàng.

Mai liên hệ với Tây Ban Nha ngữ amarillo, Bồ ngữ amarelo, Latin flavus, mầu vàng (m=ph = fl như mứa = phứa, thừa).

Mai biến âm với mất, mật thấy qua nghĩa mai là chết, là mất (mai một, mai táng). Theo m= b, mai = bile (/bai/), mật gan, có mầu vàng = Phạn ngữ paitta, thuộc về mật gan (m=p) (xem dưới). Mai = pai(tta) = bile (/bai/) = mật.

.mái

Ta có từ láy mai mái tức mái = mai. Mái, mai mái là xanh tái, xanh vàng do mầu mật vì đau gan hay thiếu máu. Sở dĩ như vậy là vì mật có mầu xanh vàng. Mật cũng như lá cây, tùy theo nồng độ đậm đặc và tùy theo lúc bao tử có đầy thức ăn hay trống rỗng, mật có mầu green, yellow và yellow green.

Ta cũng thấy theo m=p, mai, mái = Anh ngữ pale, tái, nhợt nhạt, mai mái.

.mét

men mét, mét mét cùng nghĩa với mai mái, biến âm với mật (xem dưới).

Ta thấy mét = pale (m=p).

.mật

-mât ngọt như mật ong,  mật mía được gọi theo mầu vàng của chúng.

Mật ngọt liên hệ với Hy Lạp ngữ meli (honey). Latin mel, Cổ ngữ Anh mil-, mele-, mật. Rõ hơn là với Phạn ngữ mádhu (honey), với PIE *med[h]ww/u.

-mật đắng do gan tiết ra có mầu vàng. Ta thường nói mửa ra mật xanh, mật vàng, ‘chưa đánh được người mặt đỏ như vang’ (tức giận máu căng đầy mặt nên đỏ như rượu vang), ‘đánh được người, mặt vàng như nghệ ‘(sợ quá mật đổ ra nhiều nên có mặt vàng như nghệ). Anh ngữ gọi mật gan là bile. Như đã nói ở trên, mật biến âm với mai, hoa có mầu vàng.

Như đã biết Anh ngữ gall (mật, gall bladder, túi mật) chính là Việt ngữ gan (hiện tượng biến âm với hoán chuyển vị trí và nghĩa trong Ấn Âu ngữ) và gan có một nghĩa mầu vàng như thấy qua từ đôi gan vàng. Rõ ràng trong Việt ngữ gan gọi theo gall, theo mật có mầu vàng. Mật hoán đổi với gan, trong khi gan, Hán Việt can, phát ân cốn lại chính là chole, mật (xem liver).

Theo m= b = p, mật = mai = Anh ngữ bile (/bai/), = Phạn Ngữ paitta, bilious, biliary (thuộc về mật (gan) = Phạn ngữ pita, vàng.

Ở đây ta thấy rõ cả hai loại mật ngọt và mật đắng đều gọi theo mầu vàng của chúng. Điểm này giải thích tại sao hai loại khác nhau mà cùng đều gọi là mật.

.mít

loại cây có gỗ và có múi mầu vàng,

Theo m= p, ta có mít = Phạn ngữ pità-, mầu vàng.

Quả mít cũng có thể gọi theo vị ngọt là quả mật.  Mít mật.

Trong trường hợp này mít biến âm với Ấn Âu ngữ như mật.

.vàng

vàng, dàng (miền Nam) liên hệ với Pháp ngữ jaune, vàng, với cổ ngữ Anh geolo, hiện kim yellow, Đan Mạch, Thụy Điển gul, Băng Đảo gull, PIE *ghel- ‘yellow’.

Theo v= x như vặn = xoắn (ốc), ta có vàng = gốc Hy Lạp xanthos, vàng như chứng xanthopia, hoàng thị, nhìn đâu cũng thấy mầu vàng, họa sĩ Van Gogh bị chứng này vì ngộ độc rượu ngải.

Theo v=m, vàng = mang = mai = mật = mít có nghĩa là vàng. Con mang là một loài hươu nhỏ lông vàng. Mango (xoài), Mã Lai ngữ mangga, Bồ ngữ manga là trái có thịt mầu vàng.

90. White

mầu trắng.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ phần lớn những từ chỉ white đều mang ý nghĩa bright, sáng (Buck, 15.64). Việt ngữ cũng vậy (xem dưới).

Cổ Anh ngữ hwit, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *khwitaz (Cổ Saxon, Cổ Frisian hwit, Cổ Norse hvitr, Old High German hwiz, Đức weiβ, Gothic hveits), Phạn ngữ svetah ‘white’, có nguồn gốc từ PIE *kwintos/windos ‘bright’.

Việt ngữ

.trắng

Cổ ngữ Việt blăng = Pháp ngữ blanc = Tây Ban Nha ngữ blanco, trắng = Anh ngữ blank, để trắng, để trống.

.lang, lảng, láng

Lang có một nghĩa là trắng như chứng lang da (vitiligo) (da có những đốm trắng), láng là sáng (sáng láng) hàm nghĩa trắng (trăng là sáng là trắng) và Mường ngữ lảng là sáng. Đúng như Buck nói trong Ấn Âu ngữ white phần lớn có nghĩa là bright, sáng.

Ta thấy rõ Cổ ngữ Việt blăng (trắng) có -lăng = lang, láng, lảng.

Lang, láng, lảng liên hệ với gốc Hy Lạp leucos, trắng (leucocyte, bạch huyết cầu, hạt máu trắng), Latin lux, Anh ngữ light, ánh sáng (theo biến âm kiểu lai láng ta có láng = lai = /lai/ = light), IE *leuk-, sáng, trắng (Walde tr.2.408 ff).

.vôi

chất có mầu trắng, cùng nghĩa với trắng: nhân tình bạc trắng như vôi, Anh ngữ whiting là vôi bột, phấn trắng.

Ta thấy rất rõ vôi = Đức ngữ weiβ, trắng = Anh ngữ white (/wai/), liên hệ với gốc Phạn ngữ kwi ‘to shine; kwit, to be white’. Ta cũng thấy, theo k=c=v, kwi = vui = vôi.

.bạch

Hán Việt bạch là trắng: da trắng vỗ bì bạch.

bạch biến âm với bạc, bệch (xem dưới).

.bạc

bạc là kim loại mầu bạch. Bạc biếc âm với bạch, bệch (xem dưới)

.bệch, phếch, phai

Qua từ láy trắng bệch, ta có trắng = bệch = bạch, bạc phếch, ta có bạc = bạch = phếch (b=ph như bành ra = phành ra) và bạc phai, ta có bạc = phai. Ta cũng thấy phai hàm ý trắng qua phai mầubạc mầu nghĩa là phai = bạc. Theo ph = v như phành = vành, ta có pha, phai, phôi (phôi pha, phôi phai) = vôi, có nghĩa là trắng = white.

Ta thấy bạch = bạc = bệch = phếch = pha, phôi, phai = fade (có một nghĩa là phai).

.phơ, phau

Qua từ láy bạc phơ ta có bạc = phơ và trắng phau, trắng phau phau, ta có phơ, phau = bạc = trắng.

Phơ và phau liên hệ với phai, với Pháp ngữ feu, Anh ngữ fire (/fai/) với fade, phai, bạc phai.

.hếu

Qua từ đôi hay láy trắng hếu, ta có trắng = hếu.

Hếu liên hệ với Cổ ngữ Anh hwit, Tiền-Germanic *khwit, trắng và với PIE *kwintos, sáng.

Theo h= s (hói = sói), ta có hếu = Phạn ngữ svetah, trắng.

.xóa

Qua từ đôi trắng xóa, ta có trắng = xoá như thế xóa có nghĩa là trắng là sáng. Thật vậy, theo x=ch (xếp = chef), ta có xóa = chóa (lóa chóa, chóa mắt vì sáng quá).

Xóa liên hệ với Phạn ngữ svetah, trắng. Theo v = u (và cơm = ùa cơm), svetah có sve- = sue-. Theo biến âm kiểu xuê xoa ta có sue- = sve- = xóa = trắng.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: