SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 8)

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 8)

Nguyễn Xuân Quang

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị, phát âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* : dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Dan. = Đan Mạch.

Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Du = Hòa Lan

Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Fr = Ph áp

Ge = Đức.

Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”, một siêu hệ tái tạo gồm ngữ hệ: Ấn-Âu ngữ, Uralic, Altaic, Dravidian Phi-Á và Eurasiatic.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Sp = T ân Ban Nha.

Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

Wel. = Welch.

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

*

*           *

A. MỘT TRĂM TỪ CHẨN ĐOÁN SỰ LIÊN HỆ GIỮA HAI NGÔN NGỮ ĐỀ NGHỊ BỞI MORRIS SWADESH.

(tiếp theo).

71. Say

nói, thốt ra lời…

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

-Động từ

Say, quá khứ, quá khứ said, phân từ said.

Cổ ngữ Anh secgan ‘to utter, inform, speak, tell, relate’ phát từ gốc Tiền-germanic *sagjanan (Cổ Saxon segja, , Cổ Frisian sedsa , Cổ Norse, Đan Mạch sige, Hòa Lan zeggen, Old High German sagen, Đức sagen ‘to say’), có nguồn gốc từ PIE *sokwyo-, từ gốc *sekw- ‘to say, utter’ (Hittite shakiya- ‘to declare’, Lithuania sakyti ‘to say’, Old Church Slavonic sociti ‘to vindicate, show’, Cổ Irish insce ‘speech’, Cổ Latin inseque ‘to tell, say’).

-Danh từ

Says, Cổ ngữ Anh secge ‘speech’.

Việt ngữ

.thưa

Là nói một cách kính cẩn như gọi dạ bảo thưa. Qua từ đôi thưa thốt, ta có thưa = thốt (xem dưới).

Biến âm theo kiểu say sưa ta có thay = thưa. Theo th =s như thẹo = sẹo, ta có thưa = thay = Anh ngữ say.

Anh ngữ say = sưa = Việt ngữ thưa.

.thốt

thốt (nói) như không thốt ra lời = không nói ra lời; thưa thốt (biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe), thề thốt.

Ta có thốt = talk, nói, nói chuyện, có thể liên kết với Phạn ngữ tark, speak.

.thóc, tọc

Như thấy qua các từ đôi thóc mách, tọc mạch.

Thóc, tọc biến âm với thốt liên hệ với talk.

.mách

Mách, Mường ngữ méch, có nghĩa là nói, nói cho biết như mách mẹ, mách lẻo, mách bảo (chỉ báo), mách qué (nói chuyện qué, chuyện que, chuyện cọc, chuyện đọc, chuyện đục, chuyện tục)…

Qua từ đôi thóc mách, ta có thóc = mách như thế mách cũng có nghĩa là nói, thốt, talk.

Theo m = v, mách = Phạn ngữ vac-, vâch, varh (speak, say).

.vách

Vách, nói vanh vách, liên hệ với Phạn ngữ vac-, vâch, varh (speak, say).

.bạch

Theo m=b, mách = bạch (nói) như bạch thầy, biện bạch.

theo b =p, bạch = Phạn Ngữ bark, to speak, nói, lời nói, diễn thuyết.

.bẩm

bẩm = bark.

.ban

Ban, như vua ban (rằng) = Phạn Ngữ bhan, to speak.

.bảo

có cùng nghĩa với mách, ban như thấy qua từ đôi bảo ban, mách bảo.

Bảo li ên hệ với Phạn ngữ bhâsh ‘to speak, to address’ (nói, bảo, ban phán).

.phán

Như ban phán, tòa phán, phán quyết.

Theo b=ph, ban = phán, liên hệ với Ấn Âu như ban.

.nói

Nói là phát ra tiếng, qua từ đôi tiếng nói ta có nói = tiếng.

Việt ngữ nói ruột thịt với Pháp ngữ cổ nose, tranh cãi, cãi nhau, tiếng động và Anh ngữ noise, tiếng, tiếng động, ồn ào. Nói = Anh ngữ noise.

.vẹt

Có gốc nghĩa là nói: con vẹt là con nói, loài chim nói được tiếng người, nói như vẹt.

Ta có vẹt = verb.

Tiền tố verb- có nghĩa là:

1. lời nói, tiếng, tiếng nói, từ, chữ, động từ…

verb- = vách, vanh vách (nói vanh vách), vạch như vạch ra hàm nghĩa nói rõ ra; như đã nói ở trên, liên hệ với Phạn ngữ vach ‘to speak’, vâch ‘speaking’, varh (speak, say).

2-miệng, bằng miệng

verbal

Theo v=m, verb- = miệng; ver- = mép, Phạn ngữ vaktra, miệng. Vaktra có vakt = verb-, miệng, mép.

Con vẹt là con lẻo mép.

.két

Theo v=c=k (vấu = cấu), vẹt = két. thuộc họ vẹt. Con két = con vẹt = con verb.

Anh ngữ parrot, két, vẹt có par- = Phạn ngữ varh (speak, say), vakt, miệng. (v=p như  vớt củi = Mường ngữ pắt cúi ).

.méc

Tiếng Trung Nam méc gần cận với Mường ngữ méch là mách. Ta thấy méc có thể giản dị chỉ là biến âm của mách nhưng ở đây méc cũng có thể biến âm với Ấn Âu ngữ theo một con đường riêng biệt. Theo m = v, méc = vẹt. Con vẹt là con méc, con mách, con nói.

Như thế méch, méc biến âm với Ấn Âu ngữ qua ngả mách hay qua ngả vẹt.

.phét

Nói láo, phét lác.

.theo v=ph (vành = phành), vẹt = verb = phét.

.khoét

Nói phét, khoét lác.

.theo v=kh như khắc = vạch, ta có verb = vẹt = khoét, láo khoét.

.đía

Nói châm chọc vào.

Đía liên hệ với Pháp ngữ dire (/đia/), Ý dire, Latin dicère, Phạn ngữ diç, nói.

.tía lia

tía biến âm của đía (đ = t), liên hệ như trên.

Qua từ đôi tía lia ta có tía = lia. Lia liên hệ với Pháp ngữ lire (/lia/), Tây Ban Nha leer, Bồ ler, đọc.

72. Sun

mặt trời, thái dương, vật sáng, tỏ, chói lọi, vật có mầu đỏ.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ, những từ cổ chỉ mặt trời hàm nghĩa sáng, tỏ, đỏ, giống như trong Phạn ngữ bhàna- có bhà, chiếu sáng; bhàs-kara có nghĩa là ‘light-making’ (làm ra ánh sáng); aruna, arusa ‘reddish’, au đỏ (Buck, 1.52).

Trong Việt ngữ cũng vậy (xem dưới).

Cổ Anh ngữ sunne, sol phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *sunnon (Cổ Saxon, Cổ Norse, Old High German sunna, Trung Cổ Hòa Lan sonne, Hòa Lan hiện kim zon, Đức sonne, Gothic suno ‘the sun’), Phạn ngữ surya, Avestan có nguồn gốc từ PIE *s(u)wen-, *s(e)wol, thể hoán chuyển của gốc *saewel- ‘to shine; sun’ (Avestan xueng ‘sun’, hvar ‘sun, light, heaven’, Cổ Irish fur-sunnud ‘lighting up’, Latin sol ‘sun, sunlight’, Greek helios, Welsh haul, Breton heol ‘sun…).

Cổ Anh ngữ sunne có giống cái (thường thấy trong đại tộc Germanic) cho đến thế kỷ 16 giống đực mới thống lĩnh chiếm ngôi bá chủ. Trong Ấn Âu ngữ mặt trời cũng có giống đực và giống cái. Đây là một chứng tích ngôn ngữ bị ảnh hưởng theo thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên nòng nọc, âm dương. Điều này cho thấy giống Bách Việt, Việt Nam chúng ta theo Vũ Trụ giáo, Mặt Trời giáo và chúng ta theo ngành nòng âm, mẫu hệ, thờ Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ và hình bóng mặt trời nữ vẫn còn thấy rõ trong văn hóa Việt Nam ngày nay. Ông trăng bà giời.

Việt ngữ

Trong Việt ngữ, mặt trời cũng chỉ vật có mặt sáng, vật phát ra ánh sáng, tỏ rạng, có mầu đỏ.

.mặt

Mặt chỉ vật sáng hay phản chiếu như một vật sáng như mặt trăng, mặt trời, mặt gương. Mặt nước như mặt gương phản chiếu ánh sáng. Mặt người là phần phản ảnh cái ‘sáng’, cái ‘hình dung’ của con người; ‘xem mặt mà bắt hình dong, Con lợn có béo thì long mới ngon’. Mặt là vật sáng thấy rõ qua câu ca dao ‘mặt sáng như gương Tầu, Đầu trơn như váy lĩnh’.

Thep b=ph, bật = Phật, người đã tìm thấy enlightment, thường dịch là giác, đại giác, giác, giác ngộ.

Theo m=b, mặt = bật (sáng, làm cho sáng lên như bật sáng lên, bật đèn, bật lửa) biến âm ruột thịt với gốc Phạn ngữ bhàs, gốc Phạn ngữ bha- sáng, chiếu sáng. Việt ngữ mặt trời = Phạn ngữ bhâna- ‘sun’.

Theo m=v, mặt ruột thịt với Phạn ngữ vâti, mặt trời.

Mặt trời là sáng, là tỏ, là đỏ.

Mặt liên hệ với Phạn ngữ masa, màs-, Avestan màh, mặt như chandramâsa, mặt trăng (xem moon ở dưới).

Mặt ruột thịt với mask, mặt nạ. Theo m= ph = f, ta có mặt = face.

.mắt

mắt biến âm mẹ con với mặt cũng hàm ý là một vật sáng như đôi mắt sáng long lanh. Theo m =v, ta có

mặt = Pháp ngữ visage, mặt biến âm mẹ con với vision, nhìn, thấy ruột thịt với mắt.

Vì thế mắt được dùng làm biểu tượng cho mặt trời, mặt trăng như của thần Horus Ai Cập cổ

Ta có câu trời có mắt. Cổ Irish mắt gọi là suil ruột thịt với sun, mặt trời (xem eye).

Qua các từ đôi mặt trăng, mặt trời, mặt gương… ta có trời, trăng, gương = mặt, là những vật sáng, tỏa sáng.

.sáng.

Việt ngữ trời, chời biến âm với chói (sáng). Ta thấy ngay sáng = shine; sáng = Phạn Ngữ chand, to shine, theo ch=s, sáng = chand = chăng (xem moon ở dưới).

Theo k=s, sáng = Phạn Ngữ kanch ‘to shine’, có kanc- = sáng. Kanc- đẻ ra candle (nến), vật tỏa ra ánh sáng (đèn nến).

Sáng liên hệ với IE *sàwe.

Sáng là tỏ, là đỏ là mặt trời (xem dưới).

.sủa

Qua từ đôi sáng sủa, ta có sáng = sủa.

Sủa liên hệ với Phạn ngữ suar, mặt trời (thấy trong kinh Vệ Đà), surya (Phạn Ngữ surya = svar +a = sva- = sủa) với Avestan hvar, mặt trời, ánh sáng (h = s như hói = sói, v = u như và cơm = ùa cơm), với PIE *s(u) wen-, mặt trời.

Rõ như dưới ánh sáng mặt trời sáng = sủa = Phạn ngữ suar = mặt trời.

.sán

dạng giản lược của sáng.

Từ đôi sán lạn ta có sán = lạng. Lạng ruyột thịt với Mường ngữ lãng là sáng (xem dưới).

Sán liên hệ với n Phạn Ngữ ghan, to shine, theo g = s (gội = sối), ta có ghan = sán (lạn), sáng = shine; liên hệ với sun, IE * sàwe, mặt trời.

.tỏ

Sáng là tỏ. Tỏ biến âm với đỏ. Mặt trời là sáng, là tỏ, là đỏ. Mầu đỏ là mầu dương thái dương trong khi mầu vàng là mầu âm thái dương. Hùng vương với Hùng có một nghĩa là Đỏ là dòng Vua Mặt Trời Đỏ dương thái dương.

Phạn ngữ aruna, arusa ‘reddish’, hừng đỏ, cũng chỉ mặt trời lúc hừng rạng. Ở Bangkok có đền tháp Aruna là đền Rạng Đông, Bình Minh). Âu Cơ là thái dương thần nữ, mặt trời Tinh Mơ (nhật tảo) có Âu = au(roar), rạng đông, hừng sáng, bình minh = Phạn nữ arusa, mặt trời hừng rạng.

Mặt trời là đỏ thấy qua Việt ngữ son ruột thịt với Latin sol, mặt trời (xem dưới).

.chói

Qua từ đôi chói sáng, sáng chói, ta có chói = sáng. Từ đôi chói chang ta có chói = chang. Chang ruột thịt với chăng (trăng), Phạn ngữ chandra, sáng, mặt trăng (xem dưới moon).

Ta có chói = chang = Phạn ngữ chandra.

.chời, trời

biến âm với chói. Mặt trời là mặt chói sáng.

Chời biến âm với chói với chang như trên.

Chời, trời, chói liên hệ với Irish ngữ gor, Phạn ngữ gharma- ‘hot, heat’ (ch = g như chi = gì và ch = gh như chair = /che/ = ghế).

Cổ ngữ Việt trời, chời là blời, lời (Đức Chúa Lời). Lời liên hệ với lửa, lạn (sáng) với Latin lux, Anh ngữ light, ánh sáng…

.soi

Qua từ đôi soi sáng, ta có soi = sáng. Theo s = ch (sửa = chữa) ta có soi = chói.

Liên hệ với Ngôn Ngữ của Chúng Ta Nostratic soillse ‘light’, soisighim ‘shine’.

.côi

Với h câm chời = côi.

Phương ngữ Huế côi là trên. Trên cũng hàm nghĩa chỉ trời, mặt trời giống như trong Ấn Âu ngữ mặt trời cũng hàm nghĩa heaven như thấy qua Avestan hvar ‘sun’, ‘light’, ‘heaven’.

Côi cũng có nghĩa là một, một mình như đơn côi, côi cút, mồ côi giống như mặt trời cũng có nghĩa là son có là một (xem dưới).

Như thế côi là biến âm của chời vừa có nghĩa là trên vừa có nghĩa là một của mặt trời nên cũng hàm nghĩa là trời, mặt trời.

.son

Việt ngữ son có hai nghĩa:

-son là đỏ là tỏ, là mặt trời liên hệ với gốc sol- (mặt trời), Đức ngữ sonn, mặt trời.

-son có một nghĩa là một mình, còn độc thân, còn son trẻ như anh hãy còn son và em cũng hãy còn son thấy rõ qua câu hát giao duyên vùng Hà Nam:

Ra đường thiếp hãy còn son,

Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.

Theo Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhode: “SON, Ở MỘT MỀNH, SON: sống độc thân, không vợ, chồng”.

Son liên hệ với solo, seul (Pháp ngữ), solamente (Tây Ban Nha ngữ) có nguồn gốc sun, sol, soleil…, gốc  tái tạo Tiền-Ấn Âu ngữ PIE *s(e)wol-, mặt trời.

Mặt trời là số 1. Trong hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que, mặt trời là nọc, đực, dương viết bằng hình nọc que I, đẻ ra số 1 Ả Rập ngày nay. Ai Cập ngữ on là mặt trời, thành phố On (Heliopolis) là thành phố Mặt Trời liên hệ với Việt ngữ ơn là trời (tạ ơn, cám ơn là tạ trời), ơn, ên cũng là một mình như mình ơn, mình ên. On liên hệ với Anh Ngữ one, một.

Tóm lại còn son là còn ở một mình, còn son trẻ và son cũng là mầu đỏ liên hệ với mặt trời. Ta thấy rất rõ mặt trời:

-mầu đỏ, mầu son; mặt trời là đỏ là tỏ, là sáng (mặt trời là mặt sáng).

-mặt trời theo duy dương là số một đẻ ra từ son với nghĩa một mình.

-mặt trời đầy sức sống biểu tượng cho son trẻ, trai tráng, ăn khớp trăm phần trăm với nghĩa mặt trời trong Ấn Âu ngữ cũng có một nghĩa là son trẻ như thấy qua Phạn Ngữ syona, mặt trời mà cũng có nghĩa là handsome (xinh đẹp, son trẻ). Điểm này cũng ăn khớp khắng khít với các Lang Hùng là các lang, các chàng trai hùng, hùng tráng, các Lang Hùng Mặt Trời.

Việt ngữ son với nghĩa một mình liên hệ với Anh ngữ solo, Tây Ban Nha ngữ solamente, Pháp ngữ seul (một mìmh, chỉ cò một)… Các từ có nghĩa một, duy nhất này ruột thịt với Latin sol, Tây Ban Nha ngữ sol, Pháp ngữ soleil, Anh ngữ sun…, mặt trời.

Son chính là Đức ngữ sonne, Anh ngữ sun, Latin sol, mặt trời.

.so

So là một, là đầu như con so là con đầu lòng. So là mốc số một như so đo là đo vói mốc số một, mốc làm đầu, so hàm nghĩa đơn vị (cũng có nghĩa là vị trí số một; đơn là một) ; so sánh là sánh với so, so bì là bì với so…

So liên hệ với son, với solo, với sol, solamente…, một, chỉ có một mình.

.cun.

Mường ngữ cun chỉ tù trưởng, lãnh tụ : ‘Cun lang bú chó, cun vó bú trâu’. Cun tộc gió Lang bú chó, biểu tượng của tộc gió, còn cun vó tức thú bốn chân có móng đề như trâu, ngựa thì bú trâu thú biểu của tộc đất âm. Cun biến âm với cổ ngữ Việt khuấn, Đại Hàn Tankun hay Thankun, vị vua huyền sử đầu tiên, với Mông Cổ ngữ khan (Gengis Khan), khuntz của người ‘Mun-da’ (Trần Quốc Vượng), Anh ngữ king… có nghĩa là người cầm đầu, người số một, vua.

Theo c=s (cắt = sắt), ta có cun = sun, mặt trời. Cun thuộc dòng mặt trời.

Ta cũng thấy c=h (cùi = hủi) ta có cun = hun, Ughur ngữ hun là mặt trời và cun = hun = Hùng. Hùng vương là vua Mặt Trời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

73. Moon

trăng, mặt trăng.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ mona, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *menon (Cổ Saxon và Old High German mano, Cổ Frisian mona, Cổ Norse mani, Đan Mạch maane, Hòa Lan maan , Đức mond, Gothic mena ‘moon’), có nguồn gốc từ PIE *me(n)ses- ‘moon, month’ (Phạn ngữ masah ‘moon, month’ Avestan mah, Armenian mis ‘month’. Hy Lạp mene ‘moon’, month’, Latin mensis ‘month’, Old Church Slavonic meseci, Lithuanian menesis ‘moon, month’, Cổ Irish mi, Welsh mis, Breton miz ‘month’) có lẽ từ gốc *me- ‘measure’ dựa theo sự kiện các giai kỳ của mặt trăng dùng đo thời gian.

Dùng như một danh từ giống đực trong Cổ ngữ Anh. Điểm này cho thấy Anh ngữ cổ trăng có hai giống phái như Việt Nam có ông trăng, chị hằng.

Trong Hy Lạp, Ý, Celtic, Armenian ngữ, các từ họ hàng ngày nay chỉ dù với nghĩa ‘month’. Hy Lạp ngữ selene (Lesbian selena) có gốc từ sels ‘light’, brightness (of heavenly bodies, thiên thể). Cổ ngữ Norse cũng có tungl ‘moon’(thay thế mani trong thơ văn vần-Buck); từ Đức cổ hơn chỉ ‘heavenly bodies’ họ hàng với Gothic tuggl, Cổ Anh ngữ tungol ‘heavenly body, constellation’ (chòm sao) có nguồn gốc và mối liên hệ không rõ. Sau đó, Cổ Norse tunglfylling ‘lunation’ (tuần trăng, tháng âm lịch), tunglœrr ‘lunatic (điên loạn).

Việt ngữ

.trăng

Trăng là một thứ mặt sáng. Theo biến âm kiểu trả = sả (chim bói cá), ta có trăng = sáng (xem dưới).

.sáng

Mặt trời là mặt sáng mầu đỏ còn mặt trăng là mặt sáng mầu trắng theo mầu sắc nòng nọc, âm dương. Ta cũng thấy sáng = Phạn ngữ chand- = sáng = candramas, ‘bright’= Latin candère ‘shine’ = Phạn ngữ chandra, chăng, trăng. Vì có nghĩa là sáng nên đi đôi với mặt (có nghĩa là sáng) như mặt trăng; Phạn ngữ chandramâsa, mặt trăng có chandra là trăng và mâsa = mặt.

.mưng, mâng, mang

mưng, mâng, mang là sáng như mưng sáng, mâng đông = rạng sáng (Hỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị).

Theo m=v, mưng = vừng, mâng = vầng cũng có nghĩa là sáng. Ta có từ đôi vầng trăng hay vừng trăng nghĩa là trăng = vừng = vầng = sáng. Việt ngữ trăng là sáng, từ đôi sáng trăng có trăng = sáng. Theo tr=ch=s, trăng = sáng.

Ta cũng hay nói trăng sáng vằng vặc. Vằng vặc = Phạn ngữ varchas+vin, bright (sáng).

Rõ ràng trăng là sáng, mặt sáng thì liên hệ với mưng, mang, mang, vừng, vầng, vằng vặc.

Moon với nghĩa mặt sáng, vật sáng liên hệ với mưng, mâng, Phạn ngữ mâsa, mặt (sáng).

Ở đây giải thích thắc mắc cho một số các nhà ngôn ngữ học Ấn-Âu không hiểu tại sao trăng gọi là moon.

.lãng, láng, lạng

Mường ngữ lãng là sáng. Láng, lạng, lán, lạn biến âm với lãng cũng có nghĩa là sáng như thấy qua từ đôi sáng láng, sáng lạng, sáng lán, sáng lạn.

Lãng và các biến âm trên của lãng liên hệ với Latin lucna, vật cho ra ánh sáng, Latin lucere, chiếu sáng, Latin luna, mặt trăng, Pháp ngữ lune, Tây Ban Nha, Ý ngữ luna và liên hệ với light, luz, ánh sáng.

.khảng

Mường ngữ khảng là trăng và cũng có nghĩa là tháng (khảng chiêng là tháng giêng).

Theo Mường kh = Việt ngữ s như khao = sao, ta có khảng = sáng. Khảng là sáng.

.tháng

Theo th = tr như thả = trả, ta có tháng = trăng. Một tháng là một trăng, Mường ngữ khảng là tháng và cũng có nghĩa là trăng giống hệt như trong Ấn Âu ngữ một moon là một month.

Theo th = ch như thìa = chìa (khóa), ta có tháng = chăng (trăng) = Phạn ngữ chandra, trăng.

.rằm

Việt ngữ rầm, rằm, dằm, Mường ngữ đăm biến âm với lăm, năm. Ngày rằm là ngày mười lăm. Trăng rằm, rầm liên hệ với Phạn ngữ râhâ, ‘full moon’.

.trắng

Trắng biến âm với trăng. Mầu trắng là mầu sáng, mầu trăng.

Cổ ngữ Việt blăng (trăng) ruột thịt với Pháp ngữ blanc, Anh ngữ blank, để trắng, trống. Theo bl= tr như chúa Blời = chúa Trời, ta có trắng = blắng = blanc = blank = blăng (trăng).

Như thế trắng liên hệ với Anh ngữ blank, trống, để trống không, để trắng. Ta có trắng = Pháp ngữ blanc, trắng = Anh ngữ blank, để trắng = Cổ Việt blăng (trăng).

Ta cũng thấy blanc, blank có -lan- = lạn (sáng), có lanc- = lang (trắng).

Rõ như ban ngày trăng là trắng, là sáng và mặt trời là đỏ, là tỏ, là sáng.

.thỏ

Con thỏ có đặc tính là có hai cái tai rất dài như hai cái sừng mềm và có đầu tai thon tròn mang âm tính tức hai sừng âm tức hai nọc âm biểu tượng thái dương âm của mặt trăng sừng (trăng mang âm tính vì xuất hiện về đêm, hai sừng là hai nọc, hai lửa, thái dương). Đối chiếu với cổ sử Việt Nam ứng với khuôn mặt thái dương của ông trăng sừng mang tính âm thái dương Lạc Long Quân. Trong khi mặt trời là dương thái dương thường có thú biểu là con vật có hai sừng đầu nhọn như dê, hươu [Ai Cập cổ có dê biểu tượng cho mặt trời, Việt Nam có Hươu Đực Lộc Tục tức Hươu Sừng là thú biểu của Vua Mặt Trời thiên đỉnh chính ngọ dương thái dương Kì Dương Vương, (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt)].

Các tác giả theo Trung Quốc thường cho là thỏ có gốc từ Hán Việt thố. Con thỏ trên mặt trăng, biểu tượng cho mặt trăng gọi là ngọc thố.

Thật ra không hẳn vậy, Maya là một thứ Lạc Việ Trung Mỹ (xem Sự Tương Đồng giữa Maya Cổ và Cổ Việt, Chiếc Khăn Vành Dây Lạc Việt Maya) không liên hệ gì với Trung Hoa cổ cũng có thỏ là biểu tượng của mặt trăng thấy rõ qua hình nữ thần Ixchel, tương ứng với Âu Cơ, vợ của thần Itzamná, một khuôn mặt tương ứng với ông trăng Lạc Long Quân có vật biểu là con thỏ.

clip_image002

Nữ thần Ixchel của Maya có một khuôn mặt là Nàng Trăng với vật biểu con thỏ thấy trên một bình gốm (nguồn pandawhale.com).

Xin nhắc là văn hóa của Maya cũng dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, chim-rắn như chim rắn Tiên Rồng của Việt Nam. Họ cũng có Dịch. Họ có thần thoại hai người hùng là hai anh em sinh đôi đối nghịch nhau (The Hero Twins) HunaphuXbalanque, trong  Popol Vuh được biết  dưới tên là Hun Ahaw and Yax Balam (Classical pot K1226). Hai người sinh đôi mang hình ảnh phân cực thành lưỡng cực, lưỡng nghi ứng với mặt trời và mặt trăng sinh ra từ Trứng Vũ Trụ, Thái Cực nhất thể. Hunaphu có Hun biến âm với Hùng, với Cun là mặt trời (xem cun ở Sun ở trên) và Xbalanque có -balanq là Trăng. Ta thấy rất rõ balanq- = Cổ Việt blăng = trăng.

Với h câm thỏ = tỏ là sáng, là trăng. Con thỏ là con tỏ con sáng, con trăng. Con thỏ có hai tai biểu tương âm thái dương ,lửa âm nên mang nghĩa tỏ, sáng về phía âm ban đêm, một thứ mặt trời đêm tức trăng..

.Trăng với nghĩa tiêu cực.

Trăng là vật sáng về đêm nên mang âm tính với những ý nghĩa suy diễn mang âm tính như trăng ám chỉ người ngu đần. Về y học những người bị rối loạn về tuyến nội tiết có mặt “khuôn trăng đầy đặn” (moon face) như hợp chứng Cushing, giảm tuyến giáp… cũng ít năng hoạt, ít sắc bén giống như Thúy Vân trong Kiều của Nguyễn Du.

Từ lunatic chỉ chứng bậnh tâm thần, điên, loạn trí.

Ngoài ra trăng cũng dùng ám chỉ người có tính khí hay thay đổi, bất thường vì trăng thay đổi, tăng giảm độ sáng theo tuần trăng.

Những khuôn mặt tiêu cực này thuộc về khuôn mặt âm, thái âm. Ở đây ta thấy rõ ngôn ngữ học Ấn Âu nói riêng cũng như ngôn ngữ học Tây phương và cả thế giới đều có ít nhất hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương, theo Dịch lý mà ta thấy rất rõ trong Việt ngữ (Tiếng Việt và Dịch Lý). Hiện nay các nhà ngôn ngữ học Tây phương không nhìn ngôn ngữ học dưới lăng kính nòng nọc, âm dương, Dịch lý nên mới chỉ giải nghĩa theo một con mắt, thường là con mắt phải của xã hội phụ quyền cực đoan hiện nay. Dùng tính nòng nọc, âm dương trong Việt ngữ sẽ giúp hiểu thấu đáo ngôn ngữ Ấn Âu và cả ngôn ngữ loài ngưòi.

74. Star

sao.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ steorra từ gốc Tiền-Germanic *sterron (Cổ Saxon sterro, Cổ Frisian stera, Hòa Lan ster, Old High German sterro, Đức stern, Dan Mạch stierne, Gothic staino) có nguồn cội từ PIE*ster- ‘star’ (Phạn ngữ star, Hittite shitta, Hy Lạp aster, astron, Latin stella, Breton aterenn, Welsh seten ‘star’)

Trung cổ Anh ngữ sterre, Latin sidus, stella, sao, Tây Ban Nha ngữ estella, sao, Phạn ngữ tárá, sao. Có nghĩa gốc là sự tỏa ra của ánh sáng.

Việt ngữ

.sao

Sao là sáng. Cũng như mặt trời, mặt trăng, sao cũng có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương. Mường Việt cổ gọi sao là “nàng sáng” và theo duy dương gọi là ông sao. Ta có bài đồng dao “Một ông sao sáng, hai ông sáng sao”.

Theo s =sh, ta có sao = shine, sáng.

Như vậy sao = shine, một vật sáng, chiếu sáng.

.sáng

như đã nói ở trên, sao là sáng. Ta thấy star có sar = sáng.

Sao liên hệ với star, Phạn ngữ stará, Avestan star, IE *ster-

.tua rua

Tên một vì sao, tua rua biến âm với Phạn ngữ stará, sao.

.tinh

Hán Việt tinh là sao. Tinh sao. Tinh cũng có nghĩa là sáng như thấy qua từ đôi sáng tinh (sáng = tinh), tinh mơ là mờ sáng, minh tinh là ngôi sao sáng.

Từ đôi tinh tú ta có tinh = tú (xem dưới).

.tinh tú

như vừa nói ở trên tinh = tú. Tú hàm nghĩa sao, sáng. Tú biến âm với (xem dưới).

.tá

Tá là lửa, sáng như thấy qua từ đôi tá hỏa và nhóm từ tá hỏa tam tinh. Qua từ đôi tá hỏa ta có tá = hỏa (lửa). Đi với tam tinh (ba sao) nên ta thấy rõ tá cũng liên hệ với tinh, sao. Tá ruột thịt với Táo, thần bếp lửa, với táo có nghĩa là khô (liên hệ với lửa, nắng) như quả táo là trái của loài cây chịu khí hậu khô nóng; táo bón là phân khô cứng…

Tá liên hệ với Ba Tư ngữ tar, thần Lửa. Mường ngữ Tá chỉ các lãnh tụ ngành lửa, mặt trời như Tá Cài Tá Cần; với Việt ngữ đa có một nghĩa là lửa, sáng như gò Đống Đa là gò đống Lửa (trong khi Đống Lã là Đống Nước) (Tá Cần, Tá cài cũng gọi là Đá Cần, Đá Cài), bánh đa là bánh hình tròn nướng lửa mang hình ảnh mặt trời.

Ta thấy , , tinh tức với sao ruột thịt với star, Phạn ngữ tárá, sao.

75. Water

nước.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

-Ấn Âu ngữ

Cổ Anh ngữ wæter, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *watar (Cổ Saxon watar, Cổ Frisian wetir, Cổ Norse vatn, Hòa Lan water, Old High German wazzar, Đức wasser, Gothic waro ‘water’), có nguồn gốc từ PIE *wodor/*wedor/*uder- từ gốc *wed- (Hittite watar, Phạn ngữ udrah, Hy Lạp hydror, Old Church Slavonic và Nga ngữ voda, nước, Latin unda, sóng…).

Các nhà ngôn ngữ học nhận thấy cũng giống như lửa fire, water có hai nguồn gốc từ ngữ là *ap- và *wed. Dòng thứ nhất theo Phạn apah, aka là dòng động (‘animate’) chỉ nước chuyển động và dòng thứ hai chỉ nước là chất bất động (‘inanimate’) tức tĩnh. Đây chính là hai dạng nòng nọc, âm dương theo Dịch lý, Việt ngữ cũng vậy (Việt ngữ và Dịch Lý) mà các nhà ngôn ngữ học Tây phương không biết.

-Các đại tộc khác

Xem ở dưới để tránh viết đi viết lại hai lần.

Việt ngữ

Việt ngữ nước có nhiều khuôn mặt theo nòng nọc, âm dương, Dịch lý. Nước nói chung mang âm tính. Nước thiếu âm ở dạng hơi tức thiếu âm (dương của âm) là nước Khảm (ứng với Thần Long, Long Nữ); nước thái âm ứng với Khôn (ứng với Vụ Tiên); nước thái âm ngành nọc dương tức nước chuyển động như sóng, biển, sông ứng với nước Chấn Lạc Long Quân. Điều này giải thích rõ ràng tại sao trong Ấn Âu ngữ có hai dòng nước động và tĩnh tức dương và âm.

a-Biến âm theo nguyên âm.

Nguyên âm là âm, tiếng đầu, nguồn cội của tiếng nói loài người nối tiếp, chuyển tiếp từ tiếng kêu, tiếng nói của loài vật toàn là nguyên âm (xem Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người trong Tiếng Việt Huyền Diệu).

1. Biến âm theo u

Theo tôi u là từ cổ nhất là nguồn gốc ngôn ngữ loài người (xem Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người trong Tiếng Việt Huyền Diệu).

Việt ngữ u là vú, là mẹ là nguồn nước dinh dưỡng (sữa) đầu đời của con người; ú là từ trẻ thơ, dạng giản lược của bú, uống ruột thịt với nước (xem drink); là đọng nước; ùa là chẩy mạnh ra; ướt, úng (sũng nước như úng thủy), ủng là giầy lội nước. Ủng biến âm với Anh ngữ ugg, loại giầy ủng mùa đông đi mưa, tuyết… liên hệ với

Latin unda, sóng, Phạn ngữ udrah, PIE * uder-, nước; với Mông Cổ (Altaic) usun, nước, Evenki ùakma, Gold uama, sóng.

2. Biến âm theo v

Ta có u=v như ùa cơm = và cơm (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt Bồ La). Trong nhiều Ấn Âu ngữ cũng có u=v.

Gốc chữ Việt va-, nước.

gốc chữ va- là nước: (cỏ và là cỏ mọc bên bờ nước); là chẩy ra nước (vã mồ hôi), hất nước lên (vã nước lên mặt); vại, vật đững nước, vàm, đầm cửa sông; vắt (vặn nước ra)…, liên hệ với Anh ngữ vat (thùng lớn); Đức, Nga ngữ voda nước, vodka, rượu, Cổ Norse vatn, hồ, nước, Avestan vairi, hồ.

Gốc va- liên hệ với Uralic ngữ: Mordvidian ved, Cheremis vәd, Hungary viz, nước.

3. biến âm theo v = vv = uu = w.

.Gốc Việt va- = Đức ngữ wasser, nước = Uralic *wete.

. ướt

.ướt = Anh ngữ wet liên hệ với PIE *wodor/*wedor- phát từ gốc *wed-, nước.

.ướt = uuat ( u =w và o=a như hột = hạt) = wat = water.

Ta có water = wet = ướt.

.uống, úng, ùa

uống, úng, ùa = water liên hệ với PIE *uder, nước.

4.biến âm theo các nguyên âm khác.

Trong Việtngữ có biến âm giữa các nguyên âm: u= a=e =o= I, như mụ = má, mạ = mẹ = mợ = mị (Mị Nương = Mẹ Nàng).

. ang, ảng, ao, ào, ẩm (ướt), ấm, é…

Ang, ảng là vật chứa nước, ao là bọc nước, vũng nước; ào là ùa chẩy ra; ẩm là ướt; ấm là vật nấu nước; é là hột hung quế cho vào nước phồng lên làm nước giả khát… liên hệ với:

./ Ấn Âu ngữ

Phạn ngữ aka, nước, đẻ ra gốc aqua-, nước Tây Ban Nha ngữ aqua, nước).

Pháp ngữ eau, nước;

./ Sumer ngữ

Có những nghiên cứu cho rằng Sumer ngữ liên hệ với Phạn ngữ (Stephen Oppenheimer, Địa Đàng ở Phương Đông)

Liên với Sumer a, es (s có ă), nước;

./Altaic

Chuk. -Kamch.: miền Đông Kamch., Azamch, Azimch và Tây Kamch có i là nước và Nam Kamch. Có ii, nước (theo Jochelson).

./ Phi Á (Afroasiatic)

Ham.-Sem.: Berber: Tashelhit aman/Chad.: Angas am

b-Biến âm theo phụ âm

-theo M

Như đã nói ở trên ta có u, o = m (u = mụ, o = mợ).

Việt ngữ mưa, móc (sương giọt), (sa mù), mây, mạch (nước), mương (rãnh nước), múc (lấy nước lên), mọng (nhiều nước), mốc meo (do ẩm nước)… liên hệ với:

./ Ấn Âu ngữ

Tây Ban Nha ngữ mar, Pháp ngữ mer, biển, Anh ngữ marine, thuộc về biển, IE *mori, biển; gốc *meu ‘moist’ ẩm ướt; *mor- ‘bog’ (body of water).

./Afroasiatic

Ham.-Semetic: *mw ‘water, liquid’, Semetic.: Ả Rập: mà?u, Do Thái mayim, Ethiopia mày, Akhad mù, Ai cập mw, mhj.

./Altaic

Mông Cổ mören, sông; Evenki và Lamut , Gold muә, Mãn Châu muke, nước; Đại Hàn mul, mur, mir, nước; Chuk.-Kamch, Chuk và Korak mimәl, nước; Tây Kamch. meml, nước (theo Jochelson).

./Ngôn Ngữ của chúng Ta Nostratic

Nostratic *märä ‘having liquid’, *mEwV hoặc *mäw ‘water, liquid’.

-Theo N

Ta có m=n như mạ = nạ, ná (mẹ) (chờ được nạ thì má đã sưng); mái = nái; mút = nút (sữa, lưỡi)…

Gốc Việt ngữ na- là nước.

(lã), nước ngọt, nà, ruộng nước, nê, bùn nước, nác, Cổ ngữ Việt nác là nước:

Trăm rác lấy nác làm sạch

(tục ngữ)

Người Huế còn dùng từ nác; nát, trạng thái nhũn ra vì nhiều nước: ví dụ nấu cơm nhiều nước sẽ bị nát: “trên sống dưới khê, tứ bề nát bét”, tan nát: cho vào nước tan ra; nầm, vú, mẹ, người cung cấp sữa.

Nước là Mẹ của sự sống, cũng tiêu biểu và đồng hóa với mẹ, nữ, âm. Nước vì thế có giống cái. Rõ nhất qua anh ngữ các từ liên hệ với nước có giống cái ví dụ ship (tàu thuyền), nation (nước, quốc gia)… Nầm liên hệ với Thái ngữ “nàm” là nước như “nàm pla” là nước mắm; nậm, vật đựng nước, rượu; nấu, đun chín thức ăn với nước như nấu cơm. Miền Trung dùng từ nấu cùng chung với từ luộc như “khoa nấu” là khoai luộc. Phần nhiều nấu có cho thêm các thực phẩm phụ vào. Nấu ngược với nướng; nốc, thuyền nhỏ, vật di chuyển trên nước; nước, chất lỏng, nguồn gốc của sự sống; nước, chỉ một quốc gia, chính phủ như nước Việt Nam, hiện nay dùng từ nhà nước. Một quốc gia có nguồn gốc nguyên thủy từ một bờ nước, một bến nước. Khi còn sống từng bầy, từng bộ lạc, con người thường phải tìm đến sống bên một nguồn nước. Rồi nếu tiện lợi, định cư lại luôn, lập thành xóm làng và bảo vệ vùng đất đó thành một quốc gia vì thế mà tên quốc gia gọi là nước. Tất cả những nền văn minh lớn của nhân loại đều xuất phát từ những dòng sông lớn. Ví dụ điển hình là các bộ tộc thổ dân Bắc Mỹ còn tự gọi mình là nation. Anh Mỹ Pháp gọi nước là “nation” có gốc “na-“ nat-” liên hệ với Việt ngư nã (nước), nát (tan, liên hệ với nước).

Tất cả các từ Việt ngữ có gốc na- kể trên liên hệ với Ấn Âu ngữ và các tộc ngôn ngữ khác có gốc na- có nghĩa dính dáng tới nước ví dụ như:

. Với Ấn Âu ngữ

nác

.nác liên hệ với Phạn ngữ naga (snake, serpent), rắn, biểu tượng cho nước. Ta cũng thấy nác = (s)nak(e).

.nác liên hệ với narcissus, hoa thủy tiên, loài hoa mọc bên bờ nước, tên lấy theo tên một chàng trai trẻ đẹp trai Narkissos trong thần thoại Hy Lạp. Narkissos tương tư với hình bóng của chính mình phản chiếu trên mặt suối rồi khi chết biến thành hoa thủy tiên. Ta có nác = nar- có nghĩa là nước.

.nước

-với nghĩa nhà nước quốc gia

Liên hệ với Anh, Pháp ngữ nation, nước, quốc gia;

-với nghĩa liên hệ với tầu bè

Liên hệ với nautic, Latin nauticus thuộc về thuyền tầu, Hy Lạp ngữ nautikos, đi biển, nau, tầu thuyền, navigation, thủy hành, navy, hải quân, PIE *nau-, tầu thuyền.

Theo n = t (nâng niu = tang tiu), ta có *nau = tầu.

.nao nao, nôn

Ta thấy rõ Việt ngữ nao nao (cảm giác nao nao buồn nôn khi đi tầu thuyền) = *nau, tầu, thuyền. Qua từ láy nôn nao ta có nôn = nao = nausea (buồn nôn) có gốc *nau, tầu thuyền.

-Với Altaic ngữ

Đại Hàn ngữ nara, nước, quốc gia.

-Với Afroasiatic

Ai Cập ngữ:

.mẫu tự N biểu thi bằng hình sóng nước.

clip_image004

Phải chăng người Ai Cập cổ phát âm N là Na giống gốc Na-, nước?

.nahar

l à sông có gốc na- là nước. Con sông chính của Ai Cập là sông Nile. phát âm theo Anh ngữ là /nai/. có gốc na-. Nhìn tổng quát nahar, Nile đều khởi đầu bằng mẫu tự N, nước.

.nag

l à làng.

Nag liên hệ với Việt ngữ nác, nước. Làng là dạng sơ khởi của nước, quốc gia thành hình bên một bờ nước.

Ai Cập cổ tương đồng mật thiết với Việt Nam về văn hóa (Sự Tương Đồng Giữa Cổ Ai Cập cổ và Cổ Việt). Họ nguyên thủy cũng thuộc dòng âm, nước như Lạc Việt, thấy qua sự kiện là hư không biến qua Biển Vụ Trụ Nun trước (Nun chính là Việt ngữ Nông) vì thế ngôi nhà làng nag của họ có gốc nác, nước. Điểm này cho thấy ngôi nhà cộng đồng của chúng ta nguyên thủy, nhất là vào thời mẫu hệ gọi là nhà nàng có gốc na-, nước và qua thời phụ hệ thì gọi là nhà lang và từ làng phải hiểu theo hai giống cái và đực. Làng = l(ang) + (n)àng.

Nhà làng theo duy dương, thời phụ quyền ngự trị gọi là nhà lang như người Mường, nhà làng như chúng ta gọi ngày nay nhưng nguyên thủy và vào thời mẫu quyền gôi là nhà nàng (ăn khớp với qui luật L là dạng nam hóa của N, Tiếng Việt Huyền Diệu). Ta có nag = nàng.

……

Biến âm n = đ

như này = đây, ta có nác = đác

Đác, cổ ngữ Việt, Mường có nghĩa là nước liên hệ với tiêng Môn dak, nước. Darlac chỉ chỗ ở bên hồ nước. Dak Tô: nước vú tức sữa; đước, loài cây mọc dưới nước; đà, là nước. Sông Đà có thể hiểu là sông Nước. Đà Nẵng có từ Đà có nghĩa là nước; đá, nước đông cứng lại; đê, vật ngăn nước tràn ra; đầm, vùng đất thấp có nước; đầm, ngâm trong nước như trâu đầm; đìa, đầm nhỏ như đìa cá; đẫm, nhiều nước; đập, vật chặn nước…

Ta thấy:

đác liên hệ với dragron rồng, có d®ag- = đác. Rồng là linh vật có gốc rắn (nước) snake = nác, tương đương với naga có nag- = nác, nước.

đầm, đẫm, dầm (nước) liên hệ với Anh ngữ damp, ướt, ẩm.

đập (nước) đê với liên hệ dam.

đê liên hệ với dike (đê).

Biến âm n = l

Như nòng = lòng (súng), ta có nác = lác, nước.

Lác, nước, hồ (ở Đà Lạt có hồ Lác); lác, cỏ mọc dưới nước dùng đan giỏ, dệt chiếu; lạc, ruộng nước, lạc điền. Dân làm ruộng nước gọi là Lạc dân; lạc là loài cá giống rắn; Lạc Long Quân vị vua Rồng có gốc nước, rắn;

lác đác (lác = đác, nước), mưa lác đác là mưa lưa thưa vài hạt; luộc, nấu thức ăn với nước không cho thêm gì cả. Luộc biến âm với nước…

Ta thấy:

.lác, lạc, lác đác liên hệ với Anh ngữ lake, hồ, Cổ Pháp ngữ lack, Latin lacus, ao hồ, Cổ Irish loch, hồ ao (Loch Nesh, quái vật ở Hồ Nesh)…

……

Và còn nhiều biến âm khác nữa.

Đây là một trong danh sách mười lăm từ được cho là quân bằng nhất theo các nhà ngôn ngữ học Nga dùng để so sánh xem hai ngôn ngữ có liên hệ với nhau hay không.

76. Rain

mưa.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong Ấn-Âu ngữ một số từ mưa liên hệ với nước, các từ khác với chẩy, trút, đổ nước, ướt.

Cổ Anh ngữ regn, ‘rain’, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *regna- (Cổ Saxon regan, Cổ Frisian rein, Cổ Norse

regn, Hòa Lan regen, Đức regen, Gothic rign ‘rain’) coi như từ nguồn gốc PIE *reg- ‘moiture, wet’, có thể cho ra Latin rigare ‘to wet, moisten’ (làm ướt), cho ra ‘irrigation’, dẫn nước.

Việt ngữ

.mưa.

-Việt ngữ mưa liên hệ với nước rơi từ trời do mây.

Với nghĩa này mưa liên hệ với Cổ ngữ Irish muad, mây,  với Phạn ngữ varșa, mưa, vàri, nước, mưa, chất lỏng (m=v).

-với nghĩa trút nước, đổ nước, xối nước.

với nghĩa này mưa = Anh ngữ pour, down pour mưa như trút nước.

-với nghĩa nước tổng quát.

Liên hệ với Pháp ngữ mer, Tân Ban Nha mar, biển.

.rào

Mưa dào hay rào.

Theo d = s (dái = sợ, khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương = sh, ta có dào = Anh ngữ shower, mưa dào, với Phạn ngữ dhâra ‘a shower’ (dào = dhâr-) và với Nga ngữ dožd, mưa.

.móc

Móc là sương. Móc liên hệ ruột thịt với mưa thấy qua từ đôi mưa móc. Ta có mưa = móc. Ta thấy m óc = fog, sương mù, sa mù (c = g ở cuối chữ).

.rãnh

dẫn nước, dòng nước chẩy (flow).

Ta thấy rain biến âm với rãnh.

Mưa với nghĩa này liên hệ với rain, mưa và với drain, cống rãnh như thấy qua Latin rigare ‘to wet, to moisten’ sinh ra irrigation liên hệ với rain, rãnh, drain.

Ta thấy rất rõ rãnh = rain = drain.

.vũ

Hán Việt vũ là mưa liên hệ với Phạn ngữ varșa, mưa.

77. Stone

đá, sỏi, sạn (trong y học: kidney stone, sỏi, sạn thận).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ stan chỉ đá thường, đá quí, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *stainaz (Cổ Saxon sten, Cổ Frisian sten, Cổ Norse stein, Đan Mạch steen, Hòa Lan steen, Old High German stein, Đức stein, Gothic stains), có nguồn gốc từ PIE *stoi-no-, dạng hậu tố của gốc *stai- ‘stone’ cũng có nghĩa là cứng stiffen (Phạn ngữ styayate trở thành cứng; Avestan stay- ‘heap’ (đống), Hy Lạp stia, stion ‘pebble’ (đá cuội), Nga ngữ stiena ‘wall’ (tường).

Việt ngữ

. đá

Việt ngữ đá liên hệ với Phạn ngữ dṛṣad-,’rock, large stone, mill stone’, *dṛs-, ‘hard, hardness’, cứng (Mann 1984-1987:164-165).

Theo đ = l, ta có đá = Hy Lạp ngữ lâas, Latin lapis, đá = Anh ngữ lapidary, thuộc về đá, bằng đá, khắc trên đá; lapidate, ném đá cho người nào chết.

.lèn

núi đá, phương ngữ Thanh Hóa gọi núi đá là lèn:

Dù cho biển cạn, lèn nghiêng

Ta thấy lèn liên hệ với Hy Lạp lâas, Latin lapis.

Với nghĩa cứng, rắn:

.Thấy rõ qua từ đôi chai đá. Chai = đá. Như đã nói ở trên ở phần horn, chai là lớp sừng da cứng lại anh ngữ gọi là corn. Theo s=c, sừng = c ứng.

Đá liên hệ với Pháp ngữ dur, cứng.

Qua từ đôi cứng đơ, cứng đờ, ta có đơ, đờ = dur = **dṛs-, hard, hardness = đá.

.Qua từ đôi cứng rắn ta có cứng = rắn. Theo biến âm kiểu lăn lóc ta có rắn = rock = Cổ ngữ Anh rocc, Latin rocca, đá. Như thế đá với nghĩa rắn = rock. Ta cũng thấy rock còn có nghĩa là lắc lư, đong đưa như thấy qua từ rocking chair và rock and roll, lăn lóc. Ta có rock = lócroll = lăn. Lăn lóc, lóc lăn cũng là một đặc tính của đá:

Gió đưa hòn đá lăn cù,

Con chị có thiếu thì bù con em.

(ca dao).

Như thế rắn = lăn (giống như con rắn là con lăn) = lóc = rock.

.sạn

Đá nhỏ, đá cuội,

Sạn liện hệ với Phạn ngữ açan-, ‘rock’, Avestan asan- ‘stone’.

Latin calculus, sạn, sỏi, đá cuội. Theo s =c (sắt = cắt), ta có sạn = cal(culus).

.sỏi

biến âm với sạn.

Sỏi liên hệ với PIE * stoi-no-. Ta có sỏi = s(t)oi-.

.cuội

Đá nhỏ như sỏi sạn liên hệ với Pháp ngữ caillou, Bồ calhau đá cuội, với calculus, sạn và với PIE *kaghlo- ‘pebble’.

.tảng

Qua từ đôi đá tảng, tảng đá ta có tảng hiện hệ với đá.

Tảng liên hệ Cổ ngữ Anh stan, đá. Ta có tảng = (s)tan.

78. Sand

cát.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ sand phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *sandam (Cổ Frisian sond, Cổ Norse sandr, Hòa Lan zand, Đức sand), có nguồn gốc từ PIE *bhs-amadho (Hy Lạp sammos ‘sand’; Latin sabulum ‘coarse sand’, Pháp sable, Ý sabbia), dạng hậu tố (suffixed) của gốc *bhes- ‘to rub’.

Việt ngữ

.cát

Cát với nghĩa sát, chà. Cát là do đá bị sức chà sát, xay sát, ma sát tạo ra hay dùng để chà sát, đánh bóng như sand-paper là giấy nhám làm bằng cát để chà sát.

Với nghĩa này, theo c=s, ta c ó cát = s át = Pháp ngữ, Đức sable = Ý sabbia = Latin sabulum, cát.

.cát

với nghĩa do gốc sạn nghiền nhỏ ra. Theo s=c, sạn = sát = cát.

Ta có cát = sạn = sand.

.sa

Hán Việt sa là cát.

Ta thấy sa liên hệ với Việt ngữ sát, Pháp ngữ, Đức sable, Ý sabbia, Latin sabulum, với sand…

79. Earth

đất.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ eorpe ‘ground, soil, dry land’ dùng cho thế giới ‘material’ world (t ức Trung Th ế cõi Ngư ời ngược với Thượng thế và Hạ Thế [used for ‘the (material) world’(as opposed the heavens or underworld)] (On Line Etymology Dictionary), phát từ gốc tái tạoTiền-Germanic *erth (Cổ Saxon ertha, Cổ Frisian erthe, Cổ Norse jörd, Hòa Lan aarde, Old High German erda, Đức erde, Gothic airƥa), có nguồn gốc từ PIE *er- ‘earth, ground.

Ta thấy ở đây, đất dùng cho ba Tam Thế chứng tỏ thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh và Vũ Trụ giáo hiện diện trong đại tộc ngôn ngữ Ấu-Âu giống như trong Việt ngữ (xem Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Đông Nam Á). Đây là một bằng chứng cho thấy Việt ngữ và Ấn Âu ngữ liên hệ với nhau qua cùng văn hóa.

Việt ngữ

.đất

.Liên hệ với Anh ngữ dirt (bẩn, đất), Cổ ngữ Irish dú ‘place’, Albanian dhe ‘earth, land’, Phạn ngữ dhâra ‘the earth’, *IE dhgh-em ‘earth’, PIE *deq[h] (h nhỏ và cao).

.Theo đ = t (như đuột = tuột, thẳng), ta có đất = Ý terra, Pháp terre, Tây Ban Nha tierra, đất.

.với đ câm như đẩy = ẩy, ta có đất = ất = earth.

.bùn

đất trộn nước, bẩn.

liên hệ với Pháp ngữ boue, bùn.

Theo b=m, bùn = Anh ngữ mud, bùn =  Đức schmutz bẩn, bùn = Tiền-Germanic *mud-, PIE * (s)meu-/*mu- [Buck], thấy trong nhiều từ liên hệ với ước hay bẩn.

.mùn

chất hữu cơ thực vật mủn, mềm nhũn ra dùng làm phân bón.

Mùn biến âm với mủn (nhũn nát ra), với mềm nhũn.

Mùn = Trung Cồ Anh ngữ molsh (tính từ) ‘soft, moist’ = Đức mollig ‘soft’ = PIE*mel- ‘soft = Anh ngữ mulch, mùn có gốc nghĩa là ‘soft’ như Việt ngữ.

bụi

-bụi là đất nhuyễn khô tung lên.

Qua từ đôi bụi bặm, bụi bậm ta có bụi = bặm = bậm.

Bặm, bậm chính là Phạn ngữ pâḿçu, bụi. Rõ ràng pâm- = bậm.

Ta có bụi = bậm, bặm = Phạn ngữ ‘pâḿçu.

-bụi là mù là mờ.

bụi là mù. Qua từ đôi bụi mù, ta có bụi = mù và qua bụi mờ ta có bụi = mờ.

Mù này do đất khô tung bay lên. Hán Việt trần (bụi) viết với bộ lộc (con hươu có đặc tính là chạy để thoát thân. Hươu biểu tượng cho núi, đất khô khi chậy tung bụi mù lên). Ta cũng thấy, theo b= m, ta có bụi = mụi = muội (đèn). Mụi, muội đèn là bụi khói đen bốc lên ở ngọn đèn dầu.

Với nghĩa này, bụi liên hệ với Cổ Anh ngữ dust, phát từ gốc Tiền-Germanic *dunstaz (Đức dunst ‘mist’, ‘vapor’) có gốc từ PIE **dheu- ‘dust, smoke, vapor’.

Ta có bụi = mù = mờ = mist =  smoke, khói = vapor (mờ hơi nước).

Theo b=d như bẹp = dẹp, ta có bụi = dust = PIE *dheu- ‘dust, smoke, vapor’.

.chốn

nơi chốn, vùng đất.

Theo ch = d = z (ch ăng = d ăng = z ăng), ta có chốn = zone, vùng, miền, khu vực.

.châu

quận, huyện.

theo ch = c (châu chấu = cào c ào), ta có châu = county. County có cou- =/cao/ = câu = châu (giống như biến âm giữa cow, bò cái = châu, trâu (với nghĩa lệch).

80. Cloud

mây.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ clud ‘mass of rock, hill’ liên hệ với clod, có ý diễn tả ‘raincloud’, đám hơi nước tụ lại thành

từng cụm mây trông như đống đá trên đồi. Cổ ngữ Anh thông thường là weolcan, ‘cloud’.

Việt ngữ

.mây

-với nghĩa ‘mass of rock, hill’ thì ta thấy cloud ứng với từ cụm mây. Qua từ đôi cụm mây ta có cụm = mây, cụm liên hệ thắm thiết với mây. Ta c ó c ụm = clud = cloud.

-với nghĩa liên hệ với mưa, nước

liên hệ với Cổ ngữ Irish muad, mây, với Phạn ngữ payoda, mưa, nước do payas-da hợp lại, có pà- là nước. Pà- đẻ ra mưa, Tây Ban Nha mar, Pháp ngữ mer, biển.

-với nghĩa thực sự là mây liên hệ với Phạn ngữ megha-, Avestan maèɣa, IE *mbh-, mây.

.mưa

Qua từ đôi mây mưa, ta có mây = mưa (mây tạo ra mưa).

Mưa đã nói ở trên.

.mù

Mây thường đi đôi với mù. Mây mù. Mù ở đây là một dạng sương mù, sa mù.

Mù liên hệ với mịt (xem dưới). Mù ruột thịt với IE * muR, sương.

.mịt

Qua từ láy mù mịt, ta có mịt = mù.

Mịt chính là Anh ngữ mist, mù sương, mù mịt.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: