TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP: NGỌ LÀ NGUẬY LÀ CHẬY

(*Nếu cần, bấm hai lần vào Tựa Bài để mở bài).

TÊN NÔM NA MÁCH QUÉ CỦA 12 CON GIÁP.

NGỌ LÀ NGUẬY LÀ CHẬY

Nguyễn Xuân Quang

Xuân lại về, chúng ta lại tìm hiểu tên con Ngọ của năm Giáp Ngọ năm nay. Trong các bài viết trước đây, chúng ta đã biết tên 12 con giáp không phải là do người Trung Hoa phát kiến ra. Chúng ta là Việt Mặt trời rạng ngời, có một nền văn minh Hừng Việt chói chang, dựa trên nòng nọc, âm dương, Chim-Rắn, Tiên Rồng, Việt Dịch Nòng Nọc, thờ Vũ Trụ, thờ Mặt Trời còn ghi khắc lại trong sử đồng Đông Sơn, có nền văn minh sông biển giỏi về thủy vận nên rất rành về niên lịch, năm tháng, thiên văn. Cổ sử đã ghi Việt Thường đã có Việt Dịch nòng nọc ghi trên lưng rùa về thời Đạo Đường, vua nhà Chu sai chép lại gọi là lịch rùa. Vì thế  người Việt cổ có niên lịch, năm tháng mang tên bằng tiếng Việt là một chuyện có thật. Thật vậy, tác giả Bùi Huy Hồng trong bài “Mấy Nét Về Thiên Văn Học Thời Hùng Vương” đã viết “Ở Cam-pu-chia còn lưu lại đến ngày nay một cuốn lịch cổ nhất là lịch Bầu Ràn (634 AD) dùng 12 tên con giống tiếng Việt và tiếng Mường…” (Hùng Vương Dựng Nước, 1972, t. III, tr. 299).

Nếu tên 12 con giáp này của Việt Nam thì chúng bắt buộc phải có nghĩa thuần Việt, nghĩa là phải hiểu theo kiểu nôm na mách qué của những người Việt dân dã chứ không phải hiểu theo nghĩa bác học. Để chứng minh tên của 12 con giáp đều là tên thuần Việt, có nguồn gốc Việt Nam, ta không phải chỉ dựa vào Hán ngữ, mà ta phải dựa vào tất cả ngôn ngữ loài người trong đó có Ấn Âu ngữ (Anh, Pháp ngữ…) vốn ruột thịt với các từ thuần Việt.

Qua các bài viết vào những mùa xuân trước đây, chúng ta đã biết:

.Hợi là con heo, lợn

Hợi, heo là con hoi, con oi; lợn là con lờn. Việt ngữ lợn biến âm với lờn, nhờn liên hệ với nhớt, dầu, mỡ.

Hợi là con heo, con hoi, con huile, con oi, con oil, là con lợn, con lờn, con nhờn…

.là con chuột.

Tí là tí ti, nhỏ, bé, lắt, nhắt, Tí là con bé tí, con tí, con chút, con chuột, con lắt, con lẻ. Con tí là con tiny… (theo r=l, con lắt = con rat). Mường ngữ rề là con chuột = Anh ngữ rat, chuột, Rề = lẻ, lẽ (tiền lẻ là tiền nhỏ; vợ lẽ là vợ bé, vợ nhỏ).

.Sửu là con trâu.

Sửu liên hệ với Việt ngữ sẩu là sừng (xin khúc đầu những xương cùng sẩu…), sậu (cứng), cứng liên hệ với sừng (c=s). Con trâu là con châu, con sẩu, sậu con sừng (ch =s như chữa = sửa). Trâu là con có sừng ở đầm ao nước.

Con trâu là con châu con câu con cow (nghĩa lệch) giống như buffalo (trâu) có bu- = bò.

Sửu, trâu là con sẩu, con sậu, con sừng.

.Dần là con cọp.

Dần biến âm với dằn, vằn. Con Dần là con dằn, con vằn. Con cọp có lông vằn. Tôm vằn gọi là tôm cọp… Tiger có ti- biến âm với “tie” (dải, đai, cà vạt) liên hệ với Việt ngữ tau, tao (dải, dây, tua), đai (dải dây cột), Pháp ngữ tigre có ti- biến âm với ty, tơ (dải dây)… Tiger, tigre là con dây, con vằn, con dần.

.Mão, mẹo là mèo. Mão, mẹo biến âm với Việt ngữ mấu, bấu, vấu, với Anh ngữ maul (cào xé bằng móng vuốt). Con mão, con mẹo, con mèo là con mấu, con maul, con cấu, con quào:

        Tuổi mẹo là con mèo ngao,

        Hay cấu hay quào, ăn vụng quá tinh

(vè)

Con mão là con mấu, con mâu, con maul…

.Thìn:

Thìn biến âm với thắn, Mường ngữ có nghĩa là con rắn, với thận (con rắn nước lớn, con trăn nước anaconda). Con Thìn là con thắn (rắn), con thận là con rắn nước lớn, con trăn nước (anaconda), con thằn (có gốc thằn lằn, cá sấu), thìu (rắn nước), con thuồng (luồng)…

.Tỵ

Tỵ là con ty, con tơ, con tie (Anh ngữ), con dải, con rắn.

Bây giờ ta đi tìm từ và nghĩa nôm na nguồn cội của Ngọ.

Ngọ Là Gì?

clip_image002

Xuân Giáp Ngọ 2014, Bellagio, Las Vegas, USA.

Trước hết ta thấy ngọ và ngựa biến âm với nhau. Theo qui luật biến âm o = ua như Mường ngữ rò = rùa; mô = mựa (không); lò = lùa (gió); ló = lúa; bổ = búa…, ta có ngọ biến âm với ngựa; ngọ = ngựa.

Ta cũng thấy biến âm theo kiểu cò cưa, ta cũng có ngọ = ngựa.

Như đã biết, tên loài vật nhìn chung chung được gọi dựa theo:

-một cá tính đặc thù của con vật như về hình dáng bên ngoài ví dụ như chim nông là loài chim nước dưới mỏ có cái túi, cái nang rất đặc thù để xúc cá (nông biến âm với nang như nôm với nam, với nầm). Ta đã thấy trong 12 con giáp, con Dần là con dằng, là con vằn vì con cọp người có sọc, có những đường vằn.

-một tính cách sống đặc biệt thuộc đời sống sinh học ví dụ con nhái là con nhẩy, con cọp là con chộp (vồ mồi), con gấu là con cấu, con bấu, con bear là con paw, con bấu. Trong 12 con giáp, con Mão là con Mấu, con Bấu. Mão chỉ con thú có Mấu vuốt nhọn, có tính Maul, bấu, cấu, cào là con mèo.

Như thế con ngựa cũng vậy. Tên Ngọ bắt buộc phải được gọi theo một cá tính hình dạng đặc thù hay một đặc tính sống, sinh học chuyên biệt của con vật. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc.

Có tác giả cho rằng tên ngựa là biến âm của:

1.-Hán Việt ngự là ngồi, ngọa. Từ đó suy diễn ra con ngựa là con ngồi, con dùng để cỡi, cưỡi, để chuyên chở đồ vật. Vì thế mà có tác giả cho rằng ngựa biến âm với ngồi. Con ngựa trong mười hai con giáp có tên là ngọ. Con ngọ là con ngồi, con cỡi, con cưỡi, con chở đồ đạc.

Ta thấy ngay tính chất ngồi, cưỡi và chở đồ này là tính ‘nhân tạo’ của con người khai thác con vật, nếu không muốn nói là ‘hành hạ’loài vật để phục vụ loài người, tuyệt nhiên không phải là tính bẩm sinh hay tính thiên nhiên đặc thù của con vật. Con ngựa không phải trời ra sinh ra nhằm mục đích để cho con người ngồi, để làm ‘thân trâu ngựa’.

2.-Hán Việt ngự là đề phòng, phòng ngự, ngự biến âm với ngừa. Nghĩa nguyên thủy của ngự là người cầm roi hay cương ngựa để điều khiển từ đó suy diễn ra ngự là dây cương (Chữ Ngọ, từ sợi dây cương đến con ngựa” của An Chi đăng lần đầu tiên trên “Kiến Thức ngày nay” số 413 Xuân Nhâm Ngọ 2002, dẫn lại trong Nguyễn Cung Thông, Nguồn Gốc Việt Nam của tên 12 con giáp – Ngọ- Ngũ -ngựa, phần 13).

Ngựa là con vật có dây cương.

Tươg tự như trên ta thấy ngay con ngựa nguyên thủy phải có tên gọi trước khi được thuần hóa để cỡi và được trang bị dây cương.

Như thế giống như các con thú khác trong 12 con giáp, từ ngựa như đã nói ở trên, bắt buộc phải được đặt tên theo cá tính đặc thù của chính con vật. Người tiền sử khi thấy con ngựa, lúc đó chưa có tên, nhìn theo một cá tính đặc thù nào đó đặt tên cho nó. Một trong những cá tính đặc thù và chuyên biệt nhất của ngựa là gì?

Tính Chất Đặc Thù, Chuyên Biệt của Ngọ, Ngựa.

.Ngọ biến âm với ngo. Thái ngữ ngo, ngoo là rắn. Rắn là con lăn, là con run (Anh ngữ). Theo r=l, run = lăn. Run là chậy, là lăn (như xe lăn bánh = xe chậy). Con trăn là con trườn. Con lươn cũng là con trườn, con lăn cùng họ nhà trăn, rắn. Như thế ngọ liên hệ với lăn, chậy, trườn… với chuyển động.

Ta có từ ngo ngoe. Nếu hiểu theo diện là từ láy nghĩa là ngoe là thành tố láy của ngo, tức có cùng nghĩa với ngo (là rắn) thì ngo ngoe có nghĩa là nhúc nhích như rắn, run, sâu… thuộc cùng họ nhà rắn. Nếu hiểu theo từ đôi thì ta có hai từ riêng rẽ là ngongoe. Như đã nói ở trên, ngo là rắn, là lăn. Ngoe là vật để bơi như cái dầm, cái tay chèo của con cua (cái ngoe cua). Khi bị bắt ra khỏi nước hai ngoe cua chuyển động như chèo thuyền. Ta có con ngóe biến âm với ngoe cũng là con vật có tính đặc thù là chuyển động. Con ngoé thuộc loài con nhái, con nhẩy. Như thế ngo ngoe và ngoe, ngóe cũng hàm nghĩa cử động, chuyển động, chậy, nhẩy.

.Ngọ biến âm với ngó thấy qua từ đội ngó ngoáy có nghĩa là nhúc nhích, cử động.

.Ta có từ đôi ngọ nguậy, ngọ ngậy.

Ngọ nguậy, ngọ ngậy là biến âm của ngó ngoáy cũng là nhúc nhích hàm ngữ cử động, chuyển động.

.Từ đôi ngọ ngoẹ chỉ em bé cựa quậy và khóc ọ oẹ.

Như thế tóm lại con ngọ là con có cá tính đặc thù là cử động, chuyển động.

Cử động, chuyển động này liên hệ với động tác đặc biệt nào của con ngọ?

Trước hết ta thấy ngay qua các tên nôm khác chỉ ngọ, ngựa:

.

Con ngựa còn gọi là con vó như thấy qua từ đôi vó ngựa: vó = ngựa.

Theo ng= v như ngắn = vắn; ngồng = vồng; ngóng = vọng; ngơ = vờ (giả)…, ta có ngọ = vó.

Con ngọ là con vó. Vó có nghĩa là chân, móng, vuốt. Vó biến âm với vọ. Vọ là loài chim có móng vuốt như kên kên. Vọ liên hệ với Anh ngữ vulture, kên kên. Cú vọ là những loài chim có móng vuốt. Ở ngọ, ngựa, vó chỉ chân, móng. Loài ngựa có móng bấu xuống mặt đất để chậy cho nhanh. Anh ngữ hoof, móng (như móng ngựa) liên hệ với hook, móc.

Như thế con ngựa gọi theo vó cho thấy tính chất cử động đặc thù của ngựa liên hệ với chân, móng, chậy.

.bó

Vó có dạng cổ là . Bó là móng, vuốt như bó ngựa (Alexandre de Rhodes, Từ Điển Việt-Bồ-La).

Theo b = f (như bành = fành, Anh ngữ boot, giầy ruột thịt với foot, chân), ta có bó = Tiền-Germanic *fo(t), foot.

Như thế ta thấy rất rõ con ngọ là con vó, con móng, con bó, con foot, con *fot, con chân, con cẳng. Rõ ràng tính chất của tính chuyển động đặc thù của ngọ, ngựa liên hệ đến bốn chân, bốn cẳng, bốn móng của nó.

.câu

Con ngọ, con ngựa cũng còn gọi là câu: thời gian như bóng câu qua cửa sổ.

Câu có nghĩa là ngựa con liên hệ với Anh ngữ colt, ngựa con.

Ta cũngthấy rõ qua từ đôi vó câu, nghĩa là ta có vó = câu. Con ngọ con câu là con vó. 

Như thế ngọ qua tên câu liên hệ vó cũng chỉ sự cử động, chuyển động do chân, cẳng có vó, có móng.

Tóm lại con ngọ có tính cử động, chuyển động đặc thù liên hệ với móng, cẳng, chân. Đó là CHẬY.

Ngọ, Ngựa là Con Chậy.

.ngọ là con chậy.

Ngọ là con vó, con vọt. Vọt là chậy như nó vọt mất rồi; xe vọt qua nhanh là xe chậy nhanh. Theo v=d, vọt = dọt, chậy, nó dọt mất rồi.

Như đã biết, dạng cổ của vó là bó. Con ngọ là con bó con bon. Bon là chậy như ngựa nản chân bon, xe chạy bon bon, nước chẩy bon bon. Chẩy biến âm với chậy. Chẩy là một hình thức của nước chuyển động, nước chậy.

Bon biến âm với Hán ngữ bôn, chậy như thấy qua từ đôi bôn tẩu (bôn = tẩu).

Ta cũng thấy con câu là con chậy qua nhóm từ bóng câu qua cửa sổ.

Như đã nói ở trên ta có từ láy ngọ nguậy nghĩa là ngọ = nguậy và qua ngọ ngậy ta có ngọ = ngậy.

Theo o = ay như dợ = dây, đó = đấy, gió = giấy (cây gió dùng làm giấy), …, ta có ngọ = ngạy.

Ta cũng thấy rất rõ biến âm kiểu mó máy, mò mày, vò vầy (vầy vò), ta cũng có ngọ = ngạy.

Như thế ngọ = nguậy = ngậy.

Ta cũng thấy, theo biến âm ua = ay như cua = cáy; sứa = say; dưa = dây [vài loài dây thực vật có quả ăn được gọi chung là dưa (d=t, dưa = tua, tao) như dưa hấu, dưa gang, dưa leo; cần phân biệt với dưa có nghĩa là chua (d=ch) như dưa cải], ta có ngựa = ngạy.

Theo biến âm kiểu ngứa ngáy, đưa đẩy, mưa mây (mây mưa), sưa say (say sưa), ta cũng có ngựa biến âm với ngạy.

Theo ua = uay như cựa = quậy, khua = khuấy (động), quả = quấy (quấy quả), ta có ngựa = nguậy.

Tóm tắt lại, ta có ngọ = ngựa = nguậy = ngậy,

Cuối cùng theo ng = ch, như ngán = chán; ngó = chộ, ngất = chết (từ đôi chết ngất); ngổng = chổng…, ta có ngọ, ngựa = nguậy = ngậy = chậy.

.ngựa ruột thịt với chậy.

Theo ng = c như ngăn = cản (từ đôi ngăn cản), ngắt = cắt, câm = ngầm, ngậm (ngậm câm), Mường ngữ ngào = Việt ngữ cào; ngẩu thay = cấu tay…, ta có ngọ, ngựa = PIE *kurs-, chạy.

Rõ hơn, theo ng = k = kh như Mường ngữ ngái = kiệu (củ), ngất = khuất (ngất xỏ = khuất gió), ngẽ là khe, ta có ngọ, ngựa = PIE *kurs-, chậy.

Ta cũng thấy, theo biến âm kiểu cua cáy, ta có *kurs- = cua = cạy = chạy.

Trong ngôn ngữ Việt, ngựa thường đi đôi với xe, ta có từ đôi ngựa xe (Ngựa xe như nước, áo quần như nêm), nghĩa là ngựa gắn bó mật thiết với xe, xa: ngựa = xe, xa. Ngựa xe như nước cũng cho thấy ngựa xe chậy như nước chẩy. Vì chậychẩy biến âm mẹ con với nhau nên mới ví ngựa xe chậy với nước chẩy.

Theo x = c = ch, ta có xe, xa = car = cart = chariot, ruột thịt với Phạn ngữ châra, going, motion, course, phát từ PIE *krsos, xe, có nguồn gốc PIE * kurs-, chạy.

Như thế ta có ngựa = xe = chậy.

Tóm lại con ngọ, con ngựa, con nguậy, con ngậy là con chậy.

Bằng Chứng Chậy Nhanh là Tính Đặc Thù của Ngựa.

Trong ngôn ngữ và văn học thế giới có rất nhiều dữ kiện cho thấy tính chất thiên nhiên đặc thù của con ngựa là chậy nhanh. Chậy nhanh như bay, như gió. Chỉ xin nêu ra một vài ba ví dụ như bóng câu qua cửa sổ, Ngựa Phi Đường Xa (nhạc Lê Yên), phi mã, tẩu mã (cam tẩu mã là chứng lở loét miệng lan nhanh như ngựa chậy)…

Ngoài ra trong các trò giải trí dùng loài vật thì ngựa là con vật dùng để chậy đua nổi tiếng nhất.

Đối Chiếu Với Ấn Âu ngữ

Bây giờ ta hãy so sánh với Ấn Âu ngữ để kiểm chứng và xác thực vì tôi đã chứng minh có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Ấn Âu ngữ (Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ).

Có hai dòng nguyên ngữ của horse.

Thứ nhất theo nhóm Germanic: Cổ Anh ngữ hors, phát từ gốc tái tạo Tiền Germanic *hursa- (Cổ Norse hross, Cổ Frisian hors, Trung Cổ Hòa Lan ors, Hòa Lan hiện kim ros, Old High German hros, Đức r “horse”), có nguồn gốc không rõ, nối kết bởi một vài người với PIE *kurs-, chạy (cursor, con chạy, Latin currere, Pháp ngữ courrir; “to run”).  Dòng này hiện nay vẫn còn dung rất phổ thông.
Thứ đến, từ Ấn-Âu thông thường được đại diện bởi Latin equinus, phát từ PIE *ekwo- “horse” (Hy Lạp hippos, Cổ Irish eohm Cổ Anh ngữ eoh, Gothuc aiwa-, Phạn ngữ acva, Avestan aspa-, Old Church Slovanic ehu-, tất cả có nghĩa là ngựa) (thấy xuất hiện từ năm 1765).

Gốc này không bền nên trong Anh ngữ cũng như trong nhiều ngôn ngữ Ấn Âu khác đã mai một dần.

Đối chiếu với Việt ngữ, ta thấy:

.ngọ = horse

Theo biến âm ng = h, ta có ngọ, ngựa = Cổ Anh ngữ hors = gốc Tiền- Germanic *hursa, PIE *kurs-, chạy.

Biến âm ng = h là biến âm họng. Để vững chắc thêm, ta kiểm chứng biến âm ng = h này với chữ viết Hangul Đại Hàn. Chữ viết Hangul được cho là một thứ chữ rất thông minh dựa trên nòng nọc, âm dương, Dịch lý và các vị trí của miệng lưỡi, môi, mũi, cổ họng… (xem Chữ Viết Hangul và Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

Ta thấy rất rõ cách diễn giải các mẫu tự này ruột thịt với nhau.clip_image004clip_image005

Hai mẫu tự [ng] và [h] trong chữ viết Hangul của Đại Hàn.

Ta thấy rõ trong chữ [h] clip_image006có chữ clip_image007 [ng]. Ta cũng thấy [ng] có hình vòng tròn có một khuôn mặt biểu tượng cho lỗ họng và chữ [h] có một phần treo trên lỗ họng tức phần giống lưỡi gà (epiglotte). Rõ ràng [ng] và [h] đều là âm họng và biến âm với nhau. Ngọ, ngựa và horse cũng vậy.

Ta có ngọ = horse = Tiền-Germanic *hursa-.

.ngựa

Theo biến âm kiểu chữa chạy, ngứa ngáy ta có ngựa = ngạy và theo ng = ch, ta có ngạy = chạy = PIE * kurs-, chậy (theo biến âm kiểu cua cáy, ta có kurs- = cạy = chạy).

Như thế ta có ngựa = chạy = PIE *kurs-, chậy.

.

Theo v = h như vá = hóa (đàn bà); vài = hai; vớt = hớt …; giữa Hán Việt ngữ: viên = hoàn; vạch = hoạch (định)…, ta có vó = hor- = horse.

Ta có vó = ngọ = horse.

Vó biến âm với vọt, dọt (chậy). Dọt liên hệ với Hòa Lan hiện kim ros, Old High German hros, Đức roß, ngựa.

.o

với ng câm tức bỏ đi ng (ng=0), ta có ngọ = ọ. Ta thấy ngọ = ọ = Trung cổ Hòa Lan ors.

Ta có ọ = ngọ = ors.

.câu

như đã nói ở trên, câu (ngựa non) = colt, ruột thịt với PIE *kurs-, chậy, PIE *ekwo, ngựa.

Một lần nữa ta thấy rõ như hai năm là mười, tên horse liên hệ tới cẳng, chân và chạy giống như Việt ngữ.

Việt ngữ xác thực nguồn gốc nghĩa ngữ horse liên hệ tới PIE * kurs-, chậy.

.hứa

Hán Việt hứa viết là 許 còn đọc là hổ, hử theo Tập Vận, Vận Hội … Biến âm từ Ngũ Ngọ thành hứa (Nguyễn Cung Thông, đã dẫn ở trên).

Ta thấy rõ hứa = hổ = horse.

.

/Ma/ thấy trong Hán Việt và trong các ngôn ngữ khác ở Bách Việt cổ như Quảng Đông, Triều Châu, Hẹ và Thái Lan, Lào… chỉ ngựa.

Mã liên hệ với Anh ngữ hiện kim mare, Cổ ngữ Anh mere (Mercian), myre (Tây Saxon), giống cái của mearh, ngựa, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *markhjon- (Cổ Saxon meriha, Cổ Norse merr, Hòa Lan merrie, Đức mähre, ngựa cái), được coi là có nguồn gốc từ tiếng Gaul (Irish và Gaelic marc, Welsh march, Breton mark, ngựa).

.cộ

Từ nôm cộ chỉ loại xe hai bánh do loài vật hay người kéo. Ngày nay có loại gọi là xe ba gác (ba gác do bagage).

Ngựa dùng để kéo cộ, liên hệ với cộ, theo ng = c (ngăn cản), ta có ngọ = cộ.

Ta thấy rất rõ ngọ, cộ liên hệ với chậy qua cộ = PIE *kurs-, chậy.

.xe, xa

Ta có từ đôi xe cộ nghĩa là xe = cộ. Xe biến âm với Hán Việt xa.

Như đã nói ở trên , từ đôi ngựa xe nghĩa là ngựa gắn bó mật thiết với xe, xa giống như cộ.

Theo x =c = ch, ta có xe, xa = car = cart = chariot, ruột thịt với Phạn ngữ châra, going, motion, course, phát từ gốc từ PIE *krsos, có nguồn gốc PIE * kurs-, chạy.

Như thế ta có ngựa = xe = chậy.

.cút

Việt ngữ cút có nghĩa là chậy, lẩn nhanh, lủi mất, chậy biến mất như nó cút mất rồi (nó trốn chậy mất rồi), cút đi, chim cút là loài chim có tính lủi trốn, chậy trốn. Cút biến âm với chút, chót, chọt. Ta có từ đôi chậy chọt nghĩa là chậy = chọt. Ta thấy rõ theo ch = d (chăng dây = dăng dây), chọt = dọt (dọt là chậy: nó dọt mất rồi).

Hiển nhiên cút liên hệ với PIE * kurs-, chậy.

Và ta cũng thấy theo ng = ch, con ngọ là con chọ, con chọt, con chậy.

Tổng kết lại, các từ Việt ngữ chỉ ngọ, ngựa, vó, câu đều liên hệ tới cử động, chuyển động, tới móng, chân, cẳng tới chậy và cũng giống như thấy trong Ấn Âu ngữ horse có nguồn gốc từ PIE *kurs-, chạy. Chậy là Thiên Tính Đặc Thù của ngọ, ngựa, horse.

Kết luận

Tóm lại, rõ như ban ngày con Ngọ là con Ngọ Nguậy, là con nguậy, con ngậy, con Chậy. Con ngựa là con ngậy, con chậy. Con vó là con vọt, con dọt; con bó là con bon và Ấn-Âu ngữ horse, Tiền-Germanic *hursa-, ngựa cũng liên hệ tới PIE * kurs-, chậy.

Con ngọ, ngựa là con horse, con Tiền-Germanic *hursa, con câu là con PIE *kurs-,  chậy, PIE*ekwo-, ngựa

Vậy rõ như ’con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua’, con ngọ, con ngựa là con CHẬY.

Chậy là một thiên tính đặc thù của ngựa, còn tính cỡi, chở, phòng ngừa chỉ là tính ‘nhân tạo’. Tên của ngọ, ngựa phải được đặt theo thiên tính của con vật và phải có nghĩa nôm na và phát từ một gốc nôm na.

Con ngọ là con nguậy, con chậy.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: