SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ (4).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 4)

Nguyễn Xuân Quang

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị, phát âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* : dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Dan. = Đan Mạch.

Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Du = Hòa Lan

Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Fr = Ph áp

Ge = Đức.

Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”, một siêu hệ tái tạo gồm ngữ hệ: Ấn-Âu ngữ, Uralic, Altaic, Dravidian Phi-Á và Eurasiatic.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Sp = T ân Ban Nha.

Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

Wel. = Welch.

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

*

* *

A. MỘT TRĂM TỪ CHẨN ĐOÁN SỰ LIÊN HỆ GIỮA HAI NGÔN NGỮ ĐỀ NGHỊ BỞI MORRIS SWADESH.

(tiếp theo).

31. Bone

Xương.

Xương theo hai dòng nghĩa. Xương là phần cứng của thân thể (trong khi thịt là phần mềm) và xương là phần rường cột, là ‘cốt’, sườn của thân người.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

-Ấn Âu ngữ

.bone

Old English ban, xương, ngà (tusk), phát gốc từ Proto-Germanic *bainam (Cổ Frisian ben, Cổ Norse bein, Đan Mạch ben, Đức bei), trong các ngôn ngữ này cũng có nghĩa là “shank of the leg” (ống chân, xương ống chân) mà không có trong Anh ngữ.

.os, osseous xương, xương xẩu (bony).

Latin Trung Cổ ossous, Latin osseus, bony, of bone, gốc từ os (ossis), xương, từ PIE * os-, *ost-, xương [Phạn ngữ asthi, Pháp ngữ osseux, Welsh asgwrn, Armenian oskr, Albanian asht, Avestan ascu-, xương ống chân (shinbone xương, Greek ostrakon, vỏ sỏ)].

-Hitte

hashtai-, xương.

Việt ngữ

1. xương chỉ phần cứng.

.xương

theo x=c, xương = cương = cứng. Theo c=s, xương = sừng (vật cứng). Ta có xương = cứng = sừng.

Như thế Việt xương theo nghĩa cứng ruột thịt với sừng liên hệ với Phạn ngữ çriđga, sừng.

.xẩu (sẩu)

là biến âm của xương thấy qua từ đôi xương xẩu, ta có xương = sẩu. Sẩu, sậu có nghĩa là cứng như khoai sậu là khoai cứng, chim sáo sậu là sáo đá. Mường ngữ khũ là đá. Theo kh = s như khẽ = sẽ (kh Mường ngữ = s Việt ngữ như khả = sá), ta có khũ (đá) = sũ = sẩu (xương) = sậu (cứng, cứng như đá), sáo sậu = sáo khũ = sáo đá.

Sẩu là cứng liên hệ với xương. Sẩu, xẩu biến âm với sỏ, sọ. Sọ là bao, hộp cứng như sọ người, sọ dừa. Ta cũng thấy rõ như đã nói ở trên sẩu, xẩu = sỏ = sọ = cứng. Ta thấy rõ đầu là sọ, là xương là sẩu (hàm nghĩa cứng) qua bài đồng dao “Rồng Rắn”:

Xin khúc đầu,

Những xương cùng sẩu…

Sọ là sẩu, là xương có nghĩa là cứng cũng thấy qua từ Latin cranium. Cranium phát gốc từ Hy Lạp kranion, sọ liên hệ với kara, đầu, bắt nguồn từ gốc PIE * ker-, sừng, đầu (xem horn).

Rõ như hai năm là mười ban, bone, os, cranium đều hàm nghĩa cứng như Việt ngữ xương.

Sẩu, sừng, sọ liên hệ với Lith. kaulas, Lett. kauls, xương, với PIE *ker, horn, head (x = s = k).

.báng

gõ vào đầu như báng đầu; trâu bò húc bằng sừng như trâu báng nhau. Báng hàm nghĩa vật nhọn như sừng thấy qua từ đôi báng bổ (bổ có nghĩa là búa, chém chằng búa, một vật nhọn, đi đôi với báng là chém húc bằng sừng).

Ta thấy rất rõ báng ruột thịt với sừng liên hệ với Old English ban, phát gốc từ Proto-Germanic *bainam có nghĩa là bone, tusk, ngà (vật cứng, nhọn cũng liên hệ với sừng).

Ngà là một thứ răng nanh, răng nhọn của động vật. Nanh là nọc nhọn thấy rõ qua từ đôi nanh nọc. Theo biến âm n=đ (này = đây), nanh = đanh (đinh), vật nhọn như nọc nhọn. Đanh cũng hàm nghĩa cứng như thấy qua từ đôi đanh đá. Đanh = đá (theo nghĩa cứng như đá).

Như thế qua Việt ngữ, ban, *bainam là bone, tusk cũng hàm nghĩa cứng vật nhọn như sừng, cùng nghĩa với từ xương của Việt ngữ.

.sò, ốc.

Việt ngữ cũng có từ (oyster) chỉ loài nhuyễn thể có vỏ bọc cứng như đá. Sò có vỏ hộp cứng rõ ràng biến âm với sọ (hàm nghĩa hộp cứng). Như đã nói ở trên, Hy Lạp ngữ ostrakon, vỏ sò liên hệ vối os, xương.

Ốc là loài nhuyễn thể có vỏ cứng như sò. Ta thấy rõ ốc biến âm ruột thịt với os, liên hệ với ostrakon.

2. xương là ‘nòng cốt’, rường cột, khung, sườn của thân.

Như đã nói ở trên, xương liên hệ với shank of the leg (ống chân, xương ống chân và cũng có một nghĩa là nọc, cột, nọc chống đỡ thấy trong Cổ ngữ Frisian ben, Cổ Norse bein, Đan Mạch ben, Đức bei).

.hom

Ta có từ xương hom của cá chỉ xương nhỏ hai bên người cá tức xương sườn cá. Theo Paulus Của trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, hom: cái sườn, cái cộng, cái cốt; hom tranh: sườn bằng tre chẻ nhỏ để mà đánh tranh…

Ta cũng nói gầy hom hem trơ sườn, trơ xương ra. Hom là gầy trơ sườn cùng nghĩa với ốm (gầy). Với h câm hom = ốm (ốm hom hem).

Hom, ốm (với nghĩa gầy trơ sườn, trơ xương) liên hệ với Hitte hashtai-, Phạn ngữ asthi-, PIE *os-, *ost-, xương.

.o

Qua từ các từ láy ốm o gầy còm, ta có ốm = o = gầy = còm. Còm là gầy ốm. Theo c=h (cùi = hủi), còm = hom.

Như thế ta có o = ốm = hom (hem). O liên hệ với PIE *os-, *ost-, xương.

.cốt

Hán Việt cốt, xương thuộc nhóm xương với nghĩa là rường cột.

Cốt liên hệ với Cổ ngữ Giáo Hội Slavic kosti, Nga ngữ kost, xương, với Nga ngữ kotlety, Latin costa, Pháp côte, Tây Ban Nha ngữ costilla, sườn…

32. Grease

mỡ súc vật, mỡ, dầu mỡ, chất béo.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

.grease

Angglo-French grece, Cổ Pháp gresse, craisse (mỡ súc vật, fat), Pháp hiện kim graisse, phát gốc từ Latin crassia mỡ thú vật chẩy lỏng, từ Latin crassus, mỡ đặc (Tây Ban Nha grasa, Ý grassa)…

.fat

Cổ ngữ Anh foett (fat, fatted, plump, obese), phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *faitaz (fat) (Cổ Frisian fatt, Cổ Norse feitr, Hòa Lan vet, Đức feist), có nguồn gốc từ PIE *poid (fat, nhiều nước, *peie- to be fat, phù, sưng); Hy Lạp pion (fat), Latin pinguis (fat), Phạn ngữ payate, phù sưng, thừa dư…

.cheese

‘chi’, phô mai (fromage).

Pháp ngữ fromage có gốc từ formage, từ Latin Trung Cổ formaticum, một chuyển hóa từ Latin forma, hình dạng, khuôn đúc. Latin Trung Cổ casei forma, phô mai.

Cheese là ‘chất béo đặc nhào nặn thành khuôn’. Theo g=c=ch, grease = /gri/= cheese.

Cổ ngữ Anh cyse, phát gốc từ Tây Germanic *kasjus (Đức kasi, Hòa Lan haas, Tây Ban Nha queso, Latin caseus…).

Chi nguồn gốc không rõ, có lẽ từ PIE *kwat-, lên men, hóa chua.

.butter

chất béo, bơ (phiên âm từ Pháp ngữ beurre).

Việt ngữ

.mỡ

mỡ là chất béo lấy từ heo, lợn. Mỡ liên hệ với Thái Lan ngữ moo là con heo. Con heo là con mỡ vì thế mới ví là mập như heo. Heo, hợi (tuổi hợi là tuổi heo) là con huile (Pháp ngữ, dầu mỡ). Dầu mỡ bị oxýt có mùi hoi, oi. Hoi liên hệ với hợi, heo, huile. Oi ruột thịt với Anh ngữ oil, dầu. Con heo, con hợi là con hoi, con oi. Con lợn là còn lờn, con nhờn (liên hệ với dầu mỡ). Nhờn biến âm với nhầy, nhớt (dầu nhớt).

Hợi, hoi, oi hàm nghĩa mỡ thấy rõ qua từ ointment là thuốc mỡ.

Theo m=p, pork, porc (Pháp ngữ) thịt heo; pig, con heo, có po- = mo, mỡ.

.mỡ liên hệ với Tân Ái Nhĩ Lan muc, Welsh. moc, Tây Ban Nha marrano (heo) với Bồ ngữ massa, mỡ, Anh ngữ marrow (tủy xương, có nhiều chất béo, mỡ), Phạn ngữ vasâ, tủy xương, mỡ.

.mồ

biến âm của mỡ ví dụ như mồ hôi (chất dầu mỡ hoi, hôi do da tiết ra), mồ hóng (chất dầu đen ở nhà bếp) , mồ hòn (trái tròn có dầu làm sà phòng). Mồ hôi là mỡ hoi.

Mồ hôi, bồ hôi liên hệ với con mỡ, con hoi, con hợi, con heo, con lợn cũng thấy trong Ấn Âu ngữ ví dụ Anh ngữ bồ hôi là sweat liên hệ với swine, Gothic swein (heo cái); Latin sùdor, Pháp ngữ sueur, Tây Ban Nha sudor… (mồ hôi) liên hệ với Việt ngữ sề (lợn nái), Latin sùs, Cổ ngữ Anh sù (lợn sề)…

.bồ

bồ là dạng cổ của mồ ví dụ bồ hôi = mồ hôi; bồ hóng = bồ hóng… (m=b). Bồ cũng có nghĩa như mồ, mỡ.

Bồ liên hệ với béo, với Anh ngữ boar (heo đực), pork, porc (thịt heo), Pháp ngữ beurre (bơ), Anh ngữ butter (bơ).

.bở

Qua từ ghép hay láy béo bở, ta có bở = béo. Như thế bở ở đây không có nghĩa là dễ rời ra. Bở ở đây cùng nghĩa với béo là biến âm của bồ, cùng âm với Pháp ngữ beurre.

Bở liên hệ với bồ, beurre, boar (heo đực).

.béo

như đã nói ở trên béo liên hệ với bồ (mồ, mỡ) beurre, butter và với Tây Ban Nha ngữ brea, dầu hắc (hắc in, tar). Mường ngữ pẻo (béo) liên hệ với PIE * peie-, to be fat.

.hoi

Mùi sữa do các chất béo trong sữa bị oxýt-hóa như miệng còn hoi mùi sữa.

Hoi liên hệ với Pháp ngữ huile, dầu mỡ.

.oi

với h câm hoi = oi, ta cũng nói oil mùi sữa.

Oi liên hệ với Anh ngữ oil, dầu.

.gây

Mùi của mỡ như gây gây mùi mỡ nhất là mỡ bò, cừu.

Tương tự như hoi, oi, ta thấy gây biến âm với grease.

.màng

Qua từ đôi (hay láy) mỡ màng, ta có mỡ = màng. Theo luật từ đôi hay láy, màng ở đây có nghĩa là mỡ (ngay cả màng với nghĩa là lớp màn mỏng, lớp váng cũng thường chỉ lớp màng, lớp váng chất béo trên mặt thức ăn).

Màng với nghĩa mỡ này liên hệ với Bồ ngữ manteiga, Tây ban Nha ngữ mangtequilla, bơ có ma- man- liên hệ với màng.

.mập

mập, mạp (mập mạp) có nghĩa là béo (tiếng Bắc), có nhiều mỡ. Mập liên hệ với mỡ.

Theo f=m (phường = fường = mường), ta có mập = mạp = fat.

.phì

Là mập quá cân như mập phì, phì lũ, béo phì, phát phì.

Theo ph =f (phỏng = fỏng), phì = fat.

Ta cũng thấy qua từ đôi mập phì, ta có phì = mập, do đó phì = mập = fat.

.phệ

béo phệ, bụng phệ.

Ta có phệ = fat.

Theo ph = s = x (phình = sình, bụng), ta có phệ = xệ, mập trông thấy xệ ra, xã xệ là ông xã mập. Xã xệ và lý toét là ông xã mập và ông lý ốm.

.phẹt

theo phát âm, fat = /phét/ = phẹt, phèn phẹt (mập quá cái mặt trông phèn phẹt).

.phốp pháp

fat = pháp = phốp.

.chi

Cổ Việt nuôi heo không nuôi bò trâu nhiều, chúng ta không làm cheese, fromage nên không có hai từ này tuy nhiên hai từ này có gốc từ chất béo liên hệ với các ngôn ngữ Ấn Âu khác nên cũng liên hệ với các từ chất béo Việt ngữ.

Ta thấy cheese = /chi/ = Hán Việt chi là dầu.

Theo ch = c = g, /chi/ = /gri/ = grease.

Ta cũng thấy với r câm, /gri/ = gi = Hindu ghee (mỡ lỏng).

.chiên

là làm thức ăn làm chỉ dùng dầu, mỡ mà thôi như chiên cá, cơm chiên.

Chiên có chi (Hán Việt dầu), liên hệ với Anh ngữ cheese, với Hindu ghee (mỡ lỏng) với grease /gri/.

.phi

Dùng dầu mở ‘chiên’ như phi hành, phi tỏi, hành phi.

Phi biến âm mẹ con với phì (mập) liên hệ với fat, ruột thịt với fry (chiên, rán).

.chua

Nếu hiểu cheese có lẽ là chất béo lên men chua PIE *kwat thì cheese liên hệ với chua.

33. Egg

trứng.

Trứng có hình tròn mang tính sinh tạo.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh œg, Trung Cổ Anh ngữ eye, eai, Cổ Norse egg, có gốc từ Tiền-Germanic *ajja(m) (Cổ Saxon, Trung Cổ Hòa Lan, Hòa Lan, Old High German, Đức ei; gothic ada), có lẽ phát gốc từ PIE *oyyo-, trứng (Cổ Giáo Hội Slavonic aja, Nga jajco, Breton ui, Welh wy, Hy Lạp oon, Latin ovum); có lẽ sinh ra từ gốc *awi-, chim

Việt ngữ

1.Trứng cò hình tròn nòng O.

.trứng

Trứng biến âm với tròng, lòng (tròng, lòng đỏ, tròng, lòng trắng). Lòng là dạng hiện kim của nòng. Theo n=v như níu = víu, nòng = vòng (tròn). Nòng trong chữ nòng nọc vòng tròn-que viết là vòng tròn O. Trứng có gốc từ chữ nòng vòng tròn O. O tròn như quả trứng gà, học trò bị ăn trứng là ăn số không 0 (số 0 cũng có gốc từ chữ nòng O). Trong Việt ngữ trứng gọi theo hình dạng có hình nòng vòng tròn O (có loại trứng chim hình tròn vo). Điểm này cũng được xác thực là trứng thường đi đôi với từ quả như quả trứng hay hột (hột gà, hột vịt, hột vịt lộn). Quả và hột có hình tròn. Mặt khác ta cũng có từ nang có một nghĩa là trứng. Nang là biến âm của nòng (vòng tròn). Nang cũng có nghĩa là cái bọc, cái túi hình nòng.

Như thế từ trứng của Việt ngữ có gốc từ tròng, lòng, nòng ruột thịt với nang (túi, bọc tròn có một nghĩa là trứng).

Với nghĩa này, trứng liên hệ với tất cả các từ Ấn Âu ngữ khởi đầu bằng chữ nòng vòng tròn O như gốc o, oo-, tức với PIE * oyyo- (Cổ ngữ Anh œg, Hy Lạp oon, Latin ovum, Pháp ngữ oeuf …) và với các ngôn ngữ khác là biến âm của o như a (Thụy Điển ngữ agg), như e (Anh ngư egg), như u (Gael. ubh)..

Có tác giả cho rằng nguồn gốc các từ trứng khỏi đầu bằng O và các biến âm của O của Ấn Âu ngử có lẽ phát gốc từ gốc *awi- chim. Đây có thể chỉ là một suy diễn hay hiểu theo nghĩa muộn, theo duy dương của xã hội phụ quyền về sau. Chim là lửa, mặt trời có sau không gian thái âm nước. Theo xã hội nguyên thủy theo duy âm như Việt Nam thì từ bọc, nang hư không chuyển qua biển không gian, nước trước rồi mầm dương lửa, mặt trời mới xuất hiện. Như đã thấy, Việt ngữ trứng, nang chỉ bọc sinh tạo phía âm (xem dưới) hình tròn nòng O đã bắt nguồn từ Vũ Trụ Tạo Sinh dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương, nghĩa là trước khi chim xuất hiện.

.nang

Như đã nói ở trên, nang có một nghĩa là trứng có hình bao, bọc, tròn nòng. Trứng biến âm với tròng, lòng, nòng, nang. Nang là trứng thấy rõ qua quả cau (xem Cau ở dưới).

2. trứng mang nghĩa sinh tạo, sinh nở, sinh đẻ, mầm sinh, mầm mống.

Trứng mang nghĩa mầm mống sinh tạo nên có cả hai phái vì thế có hai thứ trứng: trứng cái và trứng đực.

Trứng Vũ Trụ phân cực ra làm hai cực âm và cực dương. Tròng trắng Vũ sinh ra không gian, âm, tròng âm, trứng âm và tròng đỏ Trụ sinh ra mặt trời, tròng dương, trứng dương.

So sánh với truyền thuyết Việt, bọc trứng Âu Cơ-Lạc Long Quân đội lốt Nang Vũ Trụ, theo duy dương tròng đỏ mặt trời Trụ sinh ra các Lang Hùng, con trai, tổ của dòng Vua Mặt Trời Hùng Vương theo dòng Mẹ, Nàng Lửa Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ lên núi. Nàng biến âm của Nang mang âm tính. Lang là dạng nam hóa của Nang tức Nang đực (Tiếng Việt Huyền Diệu). Theo duy âm tròng trắng Vũ sinh ra các (Mẹ) Nàng, tổ của các vợ vua Hùng thuộc dòng Chàng Nước Lạc Long Quân, xuống biển.

.Trứng cái, âm.

Thường thường trứng mang âm tính, như đã nói ở trên, trứng là tròng là nòng tức thuộc phía nòng, âm của nòng nọc, âm dương sinh tạo. Việt ngữ nang (trứng, bọc nước) có gốc na, ná, nạ (mẹ), biến âm với nàng, nương, nường (phái nữ, hàm nghĩa sinh đẻ, bộ phận sinh dục nữ).

Vì thế nhìn theo âm, thuần âm, thái âm, trứng nguyên thủy là bọc, túi nước như thấy qua từ trứng nước như dập tắt âm mưu giết người từ trong trứng nước. Cũng nên biết nước là mẹ của sự sống.

Việt ngữ o (mụ, cô), u (mẹ), người nữ sinh tạo, sinh con đẻ cái phía nòng O, cũng tiêu biểu như một thứ trứng sinh tạo ra con người.

.Trứng đực, dương.

Theo duy dương ta có trứng đực, trứng của phái nam tức trứng dái, trứng lang (xem Cà ở dưới).

Mường ngữ hột tảl, hòn dái. Tảl biến âm với Hán Việt đản là trứng chim, phì tản, trứng ngâm để được lâu ngày (mầu đen).

Việt ngữ có từ bò mộng tức bò dái. Theo biến âm m = b, mộng = bộng, bọng. Bọng có nghĩa là bao bọc, túi như bọng đái. Bọng cũng có nghĩa là nang thấy rõ qua từ cyst, nang, bọc, bọng ví dụ cystitis sưng bọng đái.

Tóm lại bọng, bọc là nang là trứng. Bò mộng là bò trứng dái, bò dái.

Trong nhiều ngôn ngữ Ấn-Âu trứng cũng có nghĩa nang, bọc, bìu dái như Lith. pautas, Lett. pauts (trứng, trứng dái), rõ ràng có pau- = bao.

.cà

Cà có một nghĩa là trứng. Anh ngữ cây cà là egg-plant.

Mường ngữ cà nhắc: mô tả quả trứng ở trong núi đang nở ra loài người (Nguyễn Văn Khang, Từ Điển Mường Việt, nxb Văn Hóa Dân Tộc Hà Nội).

Phù Đổng Thiên Vương có tên mẹ đẻ là Dóng có bản thể liên hệ với trống với sấm, là vị thần sấm dông như thấy qua câu “Ông Đổng mà đúc trống Đồng”. Thánh Dóng liên hệ với quả cà. Ông Dóng “hay hiện ra trong những ngày đầu hè có dông, lúc cà đã đậu trái”…. “Từ lâu người ta đã thờ ông Đổng, cha Khổng lồ ở một cái miếu cổ và cúng ông bằng bát cơm, dĩa cà cúng chay vào tiết mưa dông đầu hè (mồng chín tháng tư âm lịch). Theo các cụ, trước và trong ngày ấy bao giờ cũng có gió bão, sấm chớp và có mưa to. Các cụ nói: đó là ‘ông Đổng về hái cà’ hay ‘gió hái cà’. Cũng từ lâu làng Dóng được gọi là kẻ Đổng có tục trồng riêng một sào cà để dành cho ông Đổng về hái “. Khi có giặc Ân, mõ rao tìm người ra cứu nước, ông Dóng rời chõng đá, đứng phắt dậy, vươn mình thành người khổng lồ nói với mõ:

Bay về bay dổng (2) vua bay,

Cơm thời bay thổi cho đầy bẩy nong,

Cà thời muối lấy ba gồng,

Ngựa sắt vọt sắt ta dùng dẹp cho…

Ông Dóng thích ăn cà, ăn hết ba gồng, ba gánh cà. Chỗ khác lại kể ông Dóng ăn liền một lúc hết:

Bẩy nong cơm ba nong cà,

Uống một hơi nước cạn đà khúc sông.

Người anh hùng dân tộc Phù Đổng thiên vương đã chỉ nhờ cơm cà mà đã có sức mạnh vô biên. Tại sao ông Dóng ăn cà muối mà có sức mạnh vũ bão như dông tố? Cà là trứng là bọc biểu tượng cho nang, trứng vũ trụ, không gian, khí gió. Ông Đổng ăn cà vào giống như ăn cả vũ trụ, khí gió vào người nên trở thành ông Thần Sấm dông gió. Chúng ta có một thứ cà dùng muối chua rất ngon được gọi là cà pháo. Có lẽ ông Dóng cũng đã ăn loại cà pháo muối chua này. Sấm nổ như pháo tống, pháo đùng. Ta có câu nói “sấm chớp đùng đùng”, “sấm nổ đùng đùng”. Ông Đổng ăn cà pháo vào trở thành ông Thần Sấm Dông gió nổ vang trời, nổ đùng đùng như pháo đùng (Ông Đổng Mà Đúc Trống Đồng, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Ở đây cà là nang, là trứng biểu tượng cho vũ trụ, bầu không gian, khí gió.

Đối chiếu với Thái Lan ngữ, khai là trứng có kha-, ka- = cà. Ngoài ra cà liên hệ với Thái Lan ngữ kra là bọc, túi, nang ví dụ kra thoong là chim nông (pelican), loài chim có cái túi dưới mỏ để xúc cá, kra pao là hầu bao. Nang có một nghĩa là trứng. Cà là nang, là trứng.

Một chứng bệnh lan truyền tình dục rất thường mắc phải và có biến chứng rất tai hại thấy qua bài đồng dao:

Cậu lậu quả cà,

Cậu già cậu chết,

Thổi nồi cơm nếp,

Đem ra ngoài đồng,

Đánh ba tiếng cồng,

Cậu ơi là cậu!

Bài đồng dao này cho thấy ông cậu này bị chứng bệnh lậu đã lan đến quả cà. Quả cà chỉ hòn ngọc phái nam còn gọi là trứng dái, trứng.

Tóm lại cà là trứng.

Cà liên hệ với Nga ngữ jajco, Serbo-Croatian jajce ‘egg’… có ja- = chà (theo j = ch như Java = Chà Và) = cà

.cau

Cau cổ ngữ Việt và Mường ngữ là nang (mo nang là mo cau). Như đã biết, nang có một nghĩa là trứng. Quả cau có hình quả trứng, bổ đôi ra trông giống một quả trứng luộc bổ đôi. Mã Lai ngữ pinang, pénang có nang là cau.

Đảo Pinang, Pénang là Đảo Cau.

Hán Việt binh lang là cau. Pinang, Pénang biến âm với binh lang. Lang là dạng dương hóa của nang. Hán ngữ nghiêng nhiều về dương tính dùng L, dạng nam hóa của N. Xin nhắc lại là Trung Quốc không ăn trầu cau, nên binh lang, lang lấy từ Mường Việt nang. Trong truyện Trầu Cau, Lang Sinh chết biến thành cây Lang, cây Nang, cây Cau trong khi Tân Sinh chết biến thành tảng đá vôi. Tân biến âm của tảng hàm nghĩa đá (tảng đá), Cổ ngữ Anh stan, đá có s(t)an là sạn (sỏi, đá nhỏ, sỏi đá) và (s)tan liên hệ với tảng (đá) và với Tân. Tân có Tâ- = đá (t=d), Tân = tảng.

Tên thực vật của cau là areca catechu. Areca thuộc họ cây kè arecaceae. Catechu lấy từ Mã Lai ngữ kachu chỉ chất lấy từ vài loại cây vùng nhiệt đới có tính làm co rút (thu liễm) dùng để nhuộm, thuộc da và làm thuốc. Catechu lấy ra từ hạt cau dùng làm thuốc trị sán lãi ở thú vật. Ta có ca- = cà, có cat- = cau.

Phạn ngữ khaidira, cau. Ở đây, qua Phạn ngữ ta cũng thấy cau có nghĩa là cà, là trứng. Khaidira có khai- = Thái Lan ngữ khai, trứng, có kha- = cà, cau (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt).

Tóm lại cau là nang, là cà, là trứng ruột thịt với Thái Lan ngữ khai, trứng, với Phạn ngữ khaidira, cau.

Qua Việt ngữ ta thấy trứng là tròng, là lòng, là nòng, là nang, là cà, là cau gọi theo nghĩa của triết thuyết vũ trụ tạo sinh dựa trên nguyên lý nòng nọc, âm dương, theo Dịch lý (nòng là âm biến âm với nang; nang là bọc, túi, trứng liên hệ với trứngvũ trụ; cà cũng biểu tượng cho bọc, trứng vũ trụ thấy qua truyền thuyết ông Dóng, Phù Đổng Thiên Vương; cau cũng liên hệ tới Vũ Trụ Tạo Sinh, nòng nọc, âm dương hôn phối, có một khuôn mặt dùng trong hôn nhân,  thấy qua Truyện Trầu Cau) trong khi trứng trong Ấn Âu ngữ nếu cho là có gốc từ trứng chim thì quả thật là theo quan niệm đã muộn và theo duy dương.

.noãn

Hán Việt noãn liên hệ với nang. Qua từ đôi noãng nang, ta có noãn = nang.

34. Horn

sừng, vật hình sừng, các vật đâm ra, còi, kèn (làm từ sừng).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Theo Buck, trong Ấn-Âu ngữ “most of the words for ‘horn’ belong to a single group of cognates which includes words for horn, head, summit, etc” (tr.208) (hầu hết các từ dùng cho horn thuộc một nhóm họ hang gồm các từ chỉ sừng, đầu, đỉnh, chỏm). Việt ngữ cũng vậy, từ đôi sừng sỏ cho thấy sừng = sỏ = sọ.

Phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *hurnaz (Đức horn, Hòa Lan horen, Gothic haurn, và từ PIE *ker-, sừng, đầu, phần trên cùng của thân thể (Hy Lạp karnon, Latin cornu, sừng, Phạn ngữ srngam, sừng, Ba Tư sar, đầu, Avestan sarah- đầu, Hy Lạp koryphe, đầu, Latin cervus, hươu (con sừng), Welsh carw, hươu).

Việt ngữ

.húc, hẻo

Việt ngữ húc là đâm, chém bằng sừng (trâu bò húc nhau). Mường ngữ hẻo (húc) bằng sừng:

Con chim bay mới dẻo,

Con moong hẻo mới tài.

(Hoàng Anh Tuấn, Truyện Thơ Mường, nxb KHXH, Hà Nội, 1986 tr. 80).

Mường ngữ có câu hẻo nai đạnh có nghĩa là sừng hươu đực.

Húc, hẻo ruột thịt với horn.

.hươu

Thú đực có sừng.

Con hươu, con hưu, con hiêu là con hèo (roi, vọt, nọc, cọc), con hẻo tức con sừng. Ta thấy rõ con hart (hươu đực) là con gạc (theo g=h như hồi = gồi, ta có hart = gạc), con sừng. Pháp ngữ cerf, hươu ruột thịt với gốc PIE * ker-, sừng.

Như thế hươu liên hệ với horn.

Ở đây ta có thể dùng Việt ngữ để giải thích nguyên ngữ của Anh ngữ hart, hươu đực, hươu sừng (chỉ loài hươu đực mới có sừng ngoại trừ giống tuần lộc reindeercon cái có sừng ). Con hươu sừng hart là con gạc. Và ta cũng thấy hart liên hệ mật thiết với hard, cứng, giống hệt như Việt ngữ sừng ruột thịt với cứng.

.sừng

liên hệ với Avestan srù, horn; sarah-, đầu; New Persian surù, horn ; Phạn ngữ çringa (r có chấm, n có huyền), çira liên hệ với sừng.

.ke, kè, kẻ, ké, kèo, cọc

Ke biến âm với que; kè (cọc cắm ở bờ nước, biến âm với cừ, đóng kè, đóng cừ); kẻ (que thẳng, thước kẻ), kì (biến âm với ki, cây) liên hệ với gốc Hy Lạp ker-, keras (sừng), Pháp ngữ cerf (hươu), PIE *ker-, sừng.

.sẩu, xẩu

như đã biết, sẩu là cứng có một nghĩa là sừng (xem bone). Sẩu liên hệ với Gothic haurn, sừng (s=h, sói = hói), PIE * ker-, sừng, đầu, chỏm.

.sỏ, sọ

Qua từ đôi sừng sỏ, ta có sừng = sỏ = sọ (đầu sọ cũng hàm nghĩa cứng như cứng đầu, đầu sừng, đầu sỏ). Điểm này đúng như Buck đã nhận thấy như đã nói ở trên, trong Ấn-Âu ngữ “most of the words for ‘horn’ belong to a single group of cognates which includes words for horn, head, summit, etc”.

.cọc

sừng là một thứ cọc nhọn. Tiếng nôm Tày cộc, Quảng Đông ngữ coọc (Hán Việt giác) là sừng, ruột thịt với Việt ngữ cọc là vật nhọn, là sừng, con cọc là con hươu sừng, hươu đực (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

Cọc, cộc, coọc liên hệ với Latin cornus, Ý ngữ corno, Pháp ngữ corne, sừng và với Anh ngữ horn (theo c=h như cùi = hủi, ta có corn- = horn).

.chai (cứng).

Chai có một nghĩa là cứng như chai đá, chai sạn (đá, sạn sỏi là những vật cứng, cứng như đá). Chai biến âm với chà (nước uống chà, chè, Hindu gọi là chai). Chà là sừng, nai chà là hươu sừng (Bình Nguyên Lộc). Chà là nhánh, cành cây như chổi chà là chổi làm bằng nhánh cây nhỏ. Chà thấy rõ là sừng khi giải phẫu từ chạng (chẽ cây). Cắt bỏ ng, chạng còn lại chạ biến âm với chà, chạc, gạc (ch=g) (xem Giải Phẫu Tiếng Việt). Tóm lại chai là chà có một nghĩa là sừng liên hệ với gốc Phạn ngữ kar-, to be hard (cứng), (theo k=s, kar- = sạn) và với PIE * ker-, sừng.

Anh ngữ corn chỉ lớp sừng ở da mọc dầy lên thành một cục chai cứng ở chân. Corn liên hệ với cọc, cộc, coọc, với Latin cornus, Ý ngữ corno, Pháp ngữ corne, Anh ngữ horn, sừng.

.khãu

Mường ngữ khãu là ngô, bắp. Theo kh = s (khẽ = sẽ), khãu = sậu, cứng.

Khãu liên hệ với sậu là cứng, với sẩu là sừng giống như Anh ngữ corn, ngô bắp, có hột gọi là kernel (chỉ chung hột cứng) liên hệ mật thiết với corn, chai, cứng, Latin cornus, Ý ngữ corno, Pháp ngữ corne, với horn, sừng, với gốc PIE * ker-, sừng.

Ta thấy rất rõ Mường ngữ khãu (ngô, bắp) ruột thịt vớí Anh ngữ corn (ngô, bắp) cùng có nghĩa là cứng liên hệ với  sừng.

.gừng

Theo g=s (gội = sối), gừng = sừng. Gừng là loại củ có hình sừng. Ta thấy rõ qua Phạn ngữ çriđgavera, gừng, có çriđga, sừng và vera, vóc, dáng, thân. Ta cũng thấy çringa có çing- = sừng. Gừng và ginger ruột thịt với Phạn ngữ çriđga, sừng. Gừng = ging- của ginger.

.còi

Nguyên thủy còi có thứ làm bằng sừng thú vật.

Theo biến âm kiểu còi cọc (không lớn, không phát triển), ta có còi = cọc = Latin cornus, Ý ngữ corno, Pháp ngữ corne, Anh ngữ horn, sừng.

.kèn

Cũng có thứ nguyên thủy làm từ sừng như còi. Ta có từ đôi kèn cựa với nghĩa hiện kim là chèn ép, lấn ép. Ta có kèn = cựa. Cựa có một nghĩa là vật nhọn như sừng ví dụ cựa gà. Có thể nguyên thủy kèn cựa là lấn ép nhau bằng vật nhọn, khí giới nhọn. Kèn liên hệ với PIE * ker-, sừng.

34. Tail

đuôi, phần cuối, phần tận cùng của động vật, ngoài ra ở một vài loài vật đuôi tương đương với chân, tay.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh tœgl, tœgel, phát từ gốc t ái t ạo Tiền-Germanic *tagla- (Old High German zagal, Đức zagel, đuôi, phương ngữ Đức zagel, dương vật, Cổ Norse tagl, đuôi ngựa), có nguồn cội từ PIE *doklos, đuôi, có thể từ gốc *dek-, vật dài và mỏng.

Việt ngữ

1. với nghĩa là đuôi

.đuôi

Theo đ = ta c ó đuôi = Mường ngữ tuôi liên hệ với tail.

Đuôi liên hệ với PIE *doklos, đuôi

.theo

Anh ngữ tailgate, theo đuôi. Qua từ đôi theo đuôi tức đuôi = theo. Ta c ó theo biến âm với tail (/teo/). Rõ ràng theo = teo = tail = đuôi.

.đuổi

đuổi biến âm của đuôi. Bài đồng dao Rồng Rắn có câu:

Xin khúc đuôi,

Tha hồ mà đuổi.

cho thất rõ đuổi ruột thịt với đuôi.

Qua từ đôi theo đuổi ta có đuổi = đu ôi = theo = teo = tail.

. đeo

Ta có từ đôi đeo đuổi tức đeo = đuổi = đuôi. Đeo đuổi cũng có nghĩa là đeo đuôi, theo đuôi.

Theo đ = t, đeo = teo = tail (/teo/).

.đèo

Việt ngữ đèo có một nghĩa là mang phía sau lưng, sau đuôi. Đèo bòng có đèo là mang phía sau lưng, sau đuôi và bòng là bồng là bế.

Theo đ=t, đèo = đeo = tail.

2. với nghĩa là phần cuối.

.cuối

cuối liên hệ với Latin cauda, Ý ngữ coda (đuôi), Pháp ngữ queu, Anh ngữ queue, nối đuôi.

3. với nghĩa là tay.

Đuôi vài loài vật dùng để nắm giữ như loài khỉ dùng đuôi để nắm cành cây tương đương với tay.

Ta có tay với nghĩa là cầm, nắm, lấy (take) (xem hand) tương đương với tail.

Tay = take = tail.

4. với nghĩa bộ phận sinh dục nam.

giống như phương ngữ Đức zagel, dương vật, Việt ngữ đuôi cũng có nghĩa là bộ phận sinh dục nam thấy qua câu ca dao:

Chồng người đi nguợc về xuôi.

Chồng tôi ngồi bếp lòi đuôi ra ngoài.

36. Feather

lông chim, lông vũ, cánh mũi tên, chim, bờm lông, chùm lông mũ.

Trong Ấn-Âu ngữ feather phần lớn liên hệ với bay, cánh.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh feder số nhiều là cánh, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *fethro (Cổ Saxon fethara, Cổ Norse fiopr, Thụy Điển fjäder, Hòa Lan veder, Old High German fedara, Đức feder, Gothic tagl, hair), có nguồn cội từ PIE *pet-ra, l ông do gốc *pet- bay.

Việt ngữ

.lông

Việt ngữ cũng hàm nghĩa gió, liên hệ với bay như thấy qua biến âm của lông là lộng ví dụ lộng gió, gió lộng,

gió lồng lộng. Từ đôi lồng bồng với bồng có nghĩa là gió dậy (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị). Theo b=v, bồng = Latin volare = Pháp ngữ voler, bay.

Như thế lông = bồng = volare = voler, bay.

.bay

.theo f=b, fea- = bay.

Ta cũng thấy bay liên hệ với PIE *pet, bay với PIE *pet-ra, lông.

.phe phẩy

gió nhẹ, quạt nhẹ. Ta thấy phe biến âm với feather /phe-dơ/.

.phê

Tình trạng bay bổng khi dùng một vài loại ma túy.

Phê liên hệ với feather hàm nghĩa bay, với phi, bay (xem dưới), PIE *pet-ra, lông, *pet, bay.

.phi

Hán Việt phi, bay. Theo f=fl=ph, có fea- = fly = phi = bay = feather.

37. Hair,

tóc, lông (người, thú, cây), đầu tóc.

Tóc lông thường có hai nghĩa là che chở và là những sợi nhỏ.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh hœr, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *khœran (cổ Saxon, Cổ Norse, Old High German har, Cổ Frisian her, Hòa Lan và Đức haar là hair), có l ẽ có nguồn gốc từ PIE * ghers, to stand out (nhô ra, lồi ra, nổi bật, chống lại), to bristle (dựng lên, xù lên, nói về lông).

Việt ngữ

1. tóc lông có nghĩa là che:

.che

Việt ngữ có từ đi đôi mái tóc với tóc = mái. Mái là nóc nhà che mưa nắng. Mái biến âm với môi là phần che miệng, với mai, vật che (như mai rùa, mai cua, tóc mai là tóc che thái dương), mài (vẩy che như mài ốc che miệng ốc), mày (lông che mắt), mui (mái che thuyền, xe như mui thuyền, mui xe…), mi (mi = mày, chúng mi = chúng mày), lông mi che mắt giống như lông mày. Theo t=n (túm = núm), tóc = nóc, mái che.

Theo h=ch (hết = chết), hair = /he/ = che, cùng nghĩa với nóc = tóc.

Lưu ý Việt ngữ tóc chỉ có nghĩa là ‘hair’che đầu mà thôi chứ không chỉ lông che hạ bộ hay lông thú theo những nghĩa khác của hair. Điểm này cho thấy tóc liên hệ mật thiết với nóc che đầu. Như thế hair của Anh ngữ chỉ chung cả tóc, l ông, tức là có nghĩa chính là che chở. Ta có tóc = nóc che (đầu) = che = /he/ = hair, liên hệ với *khœran (ch=kh nh ư chênh = kênh), với PIE * ghers (ch = gh như chair = ghế) có một nghĩa là che.

Ta cũng thấy mặt chữ Pháp ngữ cheveu, tóc có che- liên hệ với *khœran, ghers = Việt ngữ che.

2. có nghĩa là sợi nhỏ

Qua từ đôi tơ tóc ta có tóc = tơ. Việt ngữ tóc có tó- = tơ. Việt ngữ búi tó với từ có thể là dạng giản lược của tóc (rơi mất chữ c). Tó liên hệ với tơ, tóc.

.chỉ

chỉ là sợi nhỏ, sợi tơ nhỏ để khâu vá. Chỉ liên hệ với Phạn ngữ chikura, tóc, với gốc Hy Lạp tricho-, tóc như

trichogen, chất kích thích mọc tóc, trichinos, tóc; Pháp ngữ chignon (búi tó)… Tóc là sợi tơ, là ty, là chỉ.

.kẽ

Việt ngữ hiện nay kẽ chỉ khe nhỏ như kẽ ngón tay.

Tuy nhiên qua từ đôi kẽ tóc như đường tơ kẽ tóc ta có kẽ liên hệ mật thiết với tóc, kẽ = tóc. Tại sao ta không dùng kẽ tơ đường tóc hay dùng một từ có nghĩa khe nhỏ nào khác đi đôi với tóc mà dùng kẽ tóc? Kẽ tóc phải hiểu là nhỏ như sợi tóc, kẽ đồng hóa với tóc.

Có thể từ xa xưa kẽ đã có liên hệ với tóc nên mới đi đôi với nhau và như vậy có lẽ kẽ liên hệ với hair (k= h, kết = hết).

Rõ nhất ta thấy tóc, Mường ngữ thắc (tóc) biến âm với Gothic tagl, hair.

38. Head

đầu, thủ, cái, hoa.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh heafof, phần chóp của thân thể, người đứng đầu (thủ lãnh), thủ đô, phát từ gốc tái tạo Tiền-Germanic *haubudam (Cổ Saxon hobid, Cổ Norse hofud, Cổ Frisiab haved, Hòa Lan hoofd, Đức haupt, Gothic haubip, đầu), có nguồn cội từ PIE * kaput-, đầu (Phạn ngữ kaput-, Latin caput, đầu).

Việt ngữ

Người Việt Nam có câu mắng chửi “đầu lâu hoa cái nhà mày”. Bốn từ “đầu lâu hoa cái” đi cùng với nhau có cùng nghĩa: đầu = lâu = hoa = cái. Lâu (Hán Việt) có nghĩa là đầu như thấy qua từ đôi đầu lâu. Trong truyện chưởng của Kim Dung có nhân vật Khô Lâu Trúc người gầy như “cái đầu khô (cái sọ khô) cắm trên cây tre”…

.đầu

Theo Lê Ngọc Trụ trong Tầm Nguyên Tự Điển Việt Nam, đầu là tiếng Hán Việt nhưng theo Bình Nguyên Lộc, đầu là tiếng nôm. Theo tôi, đầu phát nguồn từ một ngôn ngữ cao hơn mà Hán và Việt cùng lấy từ chung một gốc cao đó.

Đầu liên hệ với Phạn ngữ dhâ+tu, nguyên tố (primary substance) có dhâ- = đầu.

.tầu, thầu

Theo đ = t (đuột = tuột, thẳng) ta có đầu = Mường ngữ tầu, thêm hơi vào ta có tầu = thầu, tiếng Quảng Đông (thuộc Bách Việt). Tầu liên hệ với Cổ Irish ngữ taul, trán, người đứng đầu; Welsh tal, trán (ta thấy rõ tal = trán), phía trước, đầu (end), với Pháp ngữ tête, Ý testa, đầu…, PIE *t[h]әl-, head, top, end, chief.

.hoa cái

hiểu chung là sọ người (Lê Ngọc Trụ). Tuy nhiên ta có thể tách ra thành hoacái dựa theo luật đi chung với nhau thấy qua bốn từ đi với nhau đầu lâu hoa cái.

-hoa

có nghĩa là đầu, lớn như chữ viết hoa = Anh ngữ caps, capitals, chữ hoa, chữ lớn, có cap- là đầu (xem dưới). Hoa liên hệ với head.

-cái

có một nghĩa là đầu, đứng đầu như thợ cái. Cái liên hệ với cả, với PIE *kaput, đầu.

.sỏ, sọ

sỏ lợn là đầu lợn, đầu sỏ.

như đã nói ở trên sỏ biến âm với sẩu, xẩu hàm nghĩa đầu, với sò (loài nhuyễn thể có vỏ cứng như xương như hộp sọ).

Sỏ, sọ, sẩu, xẩu, sò liên hệ với skull, sommet, summit, với PIE *k[h]or-, điểm cao nhất, chóp, đỉnh, đầu, sừng.

.hồi, gồi

hồi là đầu nhà biến âm với gồi. Qua từ gồi ta thấy rõ hồi có nghĩa là đầu. Ta có cây gồi lấy lá làm nón đội đầu và lợp nóc nhà. Rõ ràng gồi liên hệ với nón, Anh ngữ hat liên hệ với head, Pháp ngữ chapeau liên hệ với cáp, cap), với nóc nhà, tức liên hệ với đầu.

Gồi liên hệ với Anh ngữ gable (hồi), Nga ngữ golova, đầu, với Old High German gibil (gable), Gothic gibla (gable, pinnacle), Cổ ngữ Iceland gafl (gable), với PIE *g[h]eh[h] (gable, pinnacle, head).

Ta có hồi (đầu nhà) liên hệ với head, gốc tái tạo Tiền Germanic *haubudam, đầu.

.chốc, trốc

phương ngữ Huế trốt là đầu, đứng đầu, trước tiên, cả, lớn nhất. Mường ngữ tlốc là đầu, đầu tiên như ăn trên ngồi chốc.

Ăn thì cúi chốc,

Kéo nốc thì than.

(ca dao)

Nốc là thuyền. Ăn thì cắm đầu xuống còn kéo thuyền thì than.

với h câm, chốc = cốc (xem dưới). Chốc biến âm với chóp, chỏm (xem dưới).

.cốc

Cốc thường hiểu là vật dùng để uống nước như ly, tách. Tuy nhiên như đã nói ở trên, với h câm chốc = cốc, như thế cốc có một nghĩa là đầu, sọ.

Cốc ruột thịt với Anh ngữ cup, cốc uống nước. Cốc = cup.

Thời thượng cổ con người thường dùng sọ làm vật đựng nước, uống nước. Phật giáo Tây Tạng La-Ma dùng những cốc bằng sọ người dâng vật cúng lễ. Ta có thể kiểm chứng lại, trong ngôn ngữ Middle High German có “koft“, ‘drinking cup’, tuy nhiên vài khi cũng có nghĩa là sọ, đầu (hence sometime ‘skull, head’) (REW 8682).

Như vậy chốc = cốc = cup = koft, sọ, đầu.

.cáp

cáp là cứng thấy qua từ đôi cứng cáp với cáp = cứng.

Như đã biết cứng là sừng, là sỏ, là đầu ví dụ từ đôi cứng đầu nghĩa là cứng = đầu. Ta thấy rõ cáp = cứng = đầu.

Cáp liên hệ với đầu với Anh ngữ cap, mũ, vật chụp, đậy (nắp) lên trên như mũ nón, Latin caput, đầu Tây Ban Nha ngữ cabeza, đầu, Pháp ngữ chapeau, mũ, Phạn ngữ kapâla, sọ, với PIE * kaput, đầu.

Hán Việt  có từ thủ cấp (đầu). Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt Từ Điển, theo luật nhà Tần ai chém lấy được đầu giặc thì được tăng cấp nên gọi là thủ cấp. Tuy nhiên nếu áp dụng qui luật từ đôi thì ta có thủ = cấp và cấp có nghĩa là đầu. Cấp biến âm với cáp. Cấp có thể có nguồn gốc về ngôn ngữ học liên hệ với PIE *kaput.

(xin nhắc lại, thành tố láy trong Việt ngữ hiện nay cho là vô nghĩa, nhưng tôi khám phá ra chúng đều có nghĩa, chúng có cùng nghĩa hay cùng gốc nghĩa với từ chúng láy. Thành tố láy có thể là một từ cổ Việt, có khi còn bị chôn vùi ở đâu đó mà ta chưa biết hay là một từ có trong các ngôn ngữ liên hệ với Việt ngữ. Từ cáp ở đây là một ví dụ điển hình) (Tiếng Việt Huyền Diệu).

.chỏm

chỏm có nghĩa là đỉnh (chỏm núi) hàm nghĩa đầu.

Theo ch = s như chữa = sửa, ta có chỏm = Pháp ngữ sommet, Anh ngữ summit, chỏm, đỉnh.

.chũm

biến âm với chỏm có nghĩa là đầu như chũm cau.

Vú em nhu nhú chũm cau,

Để anh bóp thử có đau không nào?

(Ca dao)

Theo ch = s, chũm = Anh ngữ summit.

.chóp

Cũng có nghĩa là đỉnh, đầu như chóp núi, chóp bu, chóp biến âm với chỏm.

Với h câm, chop = cop liên hệ với Đức ngữ kopt, đầu, với cap…

Theo ch = t (chốt = tốt, con cờ tướng), ta có chóp = Anh ngữ top, đầu.

Mường ngữ tồ là nón liên hệ với Anh ngữ top, đầu, Pháp ngữ tête, đầu…

39. Ear

Trong Ấn-Âu ngữ tai liên hệ với nghe, âm thanh, nhận biết (như nghe thấy mùi thơm = nhận biết có mùi thơm).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh eare, tai phát từ gốc t ái t ạo Tiền-Germanic *auzon (Cổ Norse eyra, Đan Mạch ore, Cổ Frisian are. Cổ Saxon ore, Hòa Lan oor, Đức ohr, Gothic auso.), có nguồn cội từ PIE *ous với cả nghĩa là nhận biết (Hy Lạp aus, Latin auris, Old Church Slavonic ucho, Cổ Irish au, tai), Avestan usi, ‘hai tai’.

Việt ngữ

1. Tai với nghĩa liên hệ với tiếng động, âm thanh.

.Mường ngữ iếng, iểng (nghe)

như

 iểng vua phân chia đoỏn khả

có nghĩa là nghe vua phân chia đoỏn sả (đường sá?)

(Trương Sỹ Hùng, Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, Đẻ Đất Đẻ Nước, nxb Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 1995, t.II, tr. 937).

Theo qui luật t câm như tổ = ổ, ta có tiếng = iếng, Như thế Mường ngữ iếng là nghe ru ột thịt với tiếng. Ta cũng thấy tiếng ruột thịt với tai qua từ đôi tai tiếng (tai = tiếng) như thế ta có Mường ngữ iếng (nghe) = tiếng = tai.

Rõ như ban ngày iếng liên hệ với tai, với ear. Ta cũng thấy iếng (nghe) liên hệ với Anh ngữ hear, nghe và với h câm, hear = ear (xem dưới).

Tóm lại iếng (nghe) liên hệ với ear, với hear.

.tai

Qua từ đôi tai tiếng ta thấy tai liên hệ ruột thịt với tiếng, tai = tiếng.

Với nghĩa tiếng, Việt ngữ tai liên hệ với với tone (tiếng, âm), tune (âm điệu), Pháp ngữ ton (tiếng, âm, điệu, âm thanh, thanh điệu).

Với t câm, tai = ai. Theo biến âm ai = ia như vái = vía, phái = phía, ta có tai = ai = /ia/ = ear.

Theo biến âm kiểu ai tai (ô hô ai tai), ta có tai = ai = ear liên hệ với tone, ton, tune.

Tóm lại tai = ai = ia = ear.

.tăm

Qua từ đôi tăm tiếng, tiếng tăm, ta có tăm = tiếng và qua tai tiếng, ta có tai = tiếng.

So sánh tăm tiếng > < tai tiếng, ta có tăm = tai.

Tăm liên hệ với Pháp ngữ tempe, Anh ngữ temple, màng tang, thái dương, bên tai, Latin tympanum, màng nhĩ (xem dưới).

Tăm (= tiếng = tai) cũng liên hệ với Pháp ngữ tambour, Ả Rập ngữ tabl, Anh ngữ drum, trống, dụng cụ bộ gõ tạo ta tiếng, âm thanh. Tăm liên nhệ với Phạn Ngữ tam (t có chấm ở dưới), imitation sound (bắt chước tiếng động, âm), Phạn Ngữ tâmkrita, tiếng động, âm, Phạn Ngữ dam, to sound, làm thành tiếng, tạo ra tiếng, tạo ra âm thanh.

.tang

Tang cũng hàm nghĩa là tai, gần tai, ở hai bên giống như hai tai ở hai bên ví dụ như màng tang, tang trống. Bằng chứng hùng hồn nhất là Chàm ngữ tang có nghĩa là tai. Trung Nam nói màng tang là bị ảnh hưởng Chàm, trong khi miền Bắc nói theo Hán Việt gọi là thái dương.

Tang hàm nghĩa tai, có nghĩa tai như Chàm ngữ liên hệ với Pháp ngữ tempe, Anh ngữ temple, temporal (màng tang, thái dương), với Mã ngữ tempeleng, một thứ hoa tai hình hộp (xem dưới).

.tầm

Ta thường nghe câu hát:

Đêm qua tát nước đầu đình,

Để quên cái áo trên cành hoa sen.

Em có bắt được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà.

. . . . . .

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi TẦM em đeo.

Giúp em quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau.

Hay

Gái khôn con đã đến thì,

Để mẹ sắm sửa cho đi lấy chồng.

Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng,

Dép cong, nón trẫm với dây thao điều,

Đôi TẦM vàng rực con đeo…

Có người viết là đôi TẰM và giải thích bông tai giống như con tằm là sai. Có người viết là TRẦM hay giải thích TẦM là trầm, các ca sĩ cũng hát là “đôi trầm” đều sai cả. Trầm là thứ gỗ quí dân dã Việt Nam ít biết đến, chỉ dùng trong tín ngưỡng và làm vật dụng như quạt trầm dành cho giới vương giả mà thôi. Bông tai không bao giờ làm bằng gỗ trầm cả. TẦM, TẰM chính gốc là do Phạn ngữ “uttamsa” (m có dấu ngã ỏ trên) có nghĩa là “ear-ring” (hoa tai). Giải tự từ uttamsa có ut- là trên, “ut” đẻ ra Anh ngữ “up”, Gothic và Anglosaxon ut, Old High German uz (u có dấu mũ) có nghĩa là trên và -tamsa. Tamsa có tam-, như đã nói ở trên, liên hệ với Phạn ngữ tam, bắt chước tiếng động, tâmkrita, tiếng động, âm thanh, liên hệ với tai. Tams-liên hệ với tams (to adorn) trang sức, trang điểm, trang trí. Dĩ nhiên hoa tai là một thứ trang sức cho tai, ở tai. Tams cũng có nghĩa là “to shake”, rung. Đồ trang sức “rung”, “đu đưa” là hình ảnh của hoa tai. Vì thế đôi bông tai còn gọi là đôi tòng teng.

Ta cũng thấy tầm hay tằm đi đôi với “tang” qua từ đôi “tầm tang” có nghĩa là con tằm đi đôi với cây dâu như thế rõ như ban ngày tầm hay tằm là hoa tai đi đôi khắng khít với tang là tai.

Như vậy đôi tầm có nghĩa là đôi hoa tai liên hệ với Phạn ngữ uttamsa (hoa tai) một trăm phần trăm. Mã ngữ tempeleng (e đầu tiên có dấu ă): “a box on the ear”, hoa tai hình hộp, có tem- phát gốc từ Phạn ngữ tams, trang sức ở tai.

Tóm lại tầm (hoa tai) = tăm = tai = tang liên hệ với những từ Phạn và Ấn Âu ngữ đã nói ở trên.

(Xin mở một dấu ngoặc ở đây: ta thấy tầm và temp(eleng) của Việt và Mã ngữ đều liên hệ với Phạn ngữ vì thế khi so sánh Việt với Mã ngữ và cả với Nam Dương ngữ, ta phải biết chắc chắn chúng là thuần Mã, thuần Nam Dương ngữ, không có nguồn gốc từ Phạn ngữ. Trong danh sách so sánh của tác giả Bình Nguyên Lộc có rất nhiều từ Mã, Nam Dương có gốc Phạn, không thể kết luận các từ này đẻ ra Việt ngữ; đóng ngoặc).

.nghe

Nghe là chức vụ của tai. Anh ngữ hear (nghe) với h câm, hear = ear.

Với ngh câm (nghèo = eo, nghển = ển, nghẹo = ẹo), nghe = e = ear.

Như thế ta có nghe = ear.

.inh (tai), inh ỏi, ồn, ồn ào, ầm ỹ

là những tiếng động liên hệ với ear (tai), Tiền-Germanic *auzon, IE * au-, *aus, PIE *ous, tai.

.đồn

có một nghĩa là nghe như nghe đồn rằng, lời đồn, tin đồn… Theo đ = t như đuột = tuột (thẳng), ta có đồn = Mường ngữ tồn (đồn). Ta có đồn = tồn ruột thịt với Pháp ngữ ton, Anh ngữ tone, tune…

.mang

Có một nghĩa liên hệ tới tai như thấy qua bốn từ đi với nhau mang tai mang tiếng, ta có mang = tai = tiếng.

Và qua mang tiếng cùng nghĩa với tai tiếng, ta thấy rõ mang = tai.

(lưu ý, cần phân biệt mang tai là mang tiếng với mang tai tức màng tang là bên tai, từ mang có nghĩa là bên này như họ hai mang, với mạn như mạn thuyền, với Hán Việt bàng có một nghĩa là bên).

Mang (tiếng) ruột thịt với Mường ngữ măng là nghe (tức liên hệ với tai, tiếng).

Theo m= v (màng = váng), ta có mang = măng = vang (vang tiếng) = vẳng (vẳng tiếng, vẳng nghe).

Ta có mang = măng = vang = vẳng liên hệ với Phạn ngữ painjusha, tai. Ta có pain- = mang = măng = vang = vẳng.

40. Eye

Trong Ấn-Âu ngữ, phần lớn các từ mắt thuộc về một nhóm có di truyền tính. Các từ khác dựa trên ý niệm như “see”, “look”. “bright”, “sun”, “shining ball” (Buck, 4.21).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh ege (Mercian), eage (West Saxon), Trung cổ Anh ngữ eighe có gốc tái tạo Tiền-Germanic *augon (Cổ Saxon aga, Cổ Frisian age, Cổ Norse auga, Thụy Điển öga, Đan Mạch øie, Hòa Lan oog, Old High German ouga, Đức auge, Gothic augo, mắt), c ó nguồn cội từ PIE *okw-, nhìn (Phạn ngữ akshi, mắt, số hai, aksha, mắt, gốc Phạn ngữ ak, nhìn, Hy Lạp opsis, a sight, eidein, nhìn, Old Church Slavonic oko, Latin oculus, Hy Lạp okkos).

Việt ngữ

1. Mắt dựa trên ý niệm “bright” (sáng), “sun” (mặt trời), “shining ball” (quả cầu sáng).

.mắt.

Ta thấy rõ Việt ngữ mắt cùng âm với mặt chỉ vật sáng như mặt trời, mặt trăng, giống như Pháp ngữ vision, nhìn liên hệ với visage, mặt.

Mắt liên hệ với Tân Hy Lạp ngữ mati (mắt). Mắt ruột thịt với Phạn ngữ mrà-, bhà-, shine.

.ánh

Qua các từ đôi ánh mắt, ánh sáng, ta có mắt = sáng = ánh.

Ta có eye = /ai/ = ánh (ánh sáng, óng ánh).

.ảnh

ảnh, hình, bóng liên hệ với ánh sáng, nhìn, mắt.

Ảnh liên hệ với eye, với Hy Lạp ngữ eidolos, hình ảnh (có eid- = ảnh), với eidein, nhìn.

2. Mắt gọi theo sự nhìn, ngó.

.ẻl

Mường ngữ ẻl, ngắm liên hệ với eye.

.ngó

Việt ngữ ngó, với ng câm như ngù ngà ngù ngờ = ù à, ù ờ, ta có ngó = ó .

Ó liên hệ với Hy Lạp ngữ okkos, ophthalmos, omma, Latin occulus, Tây Ban Nha ngữ ojo, Pháp ngữ oeil, IE *okw, *okw (w nhỏ và cao).

. ý

Qua câu nói để ý đến = để mắt đến. Ta thấy mắt hàm ý tới nhận biết, nhận xét. Latin, Hy Lạp ngữ idea, cái nhìn, sự giống nhau của sự vật (do đó đưa tới một ý niệm). Ta c ó ý = idea = eye. Ở trên ta thấy eye = gốc Phạn ngữ ak, nhìn Phạn ngữ aksha, mắt

.coi

Việt ngữ coi, coi sóc liên hệ với Anh ngữ coach, Pháp ngữ cocher (trông nom, xem xét, chăm sóc, dìu dắt).

.soi

đưa lên ánh sáng để xem như soi trứng; ánh sáng của mặt sáng chiếu ra như mặt trời soi sáng, trăng soi liên hệ với see, nhìn, coi, xem, trông, thấy, nhận thấy, viếng, thăm, gặp.

.chói

biến âm với coi, soi (theo s=c, soi = coi, theo s=ch=sh, soi = chói) = shine.

.xem

có một nghĩa như coi như xem hát = coi hát.

Xem liên hệ với Cổ Anh ngữ seen, Anh hiện kim see, nhìn, thấy…

.xét

xét, soát (lục soát, kiểm soát). Qua từ đôi xem xét, ta có xét = xem, liên hệ với check (x=ch, xếp = chef), Phạn ngữ chaksk, to see, caksus, eye.

.lục

lục xem, lục xét, lục soát. Lục hàm ý xem, xét…

Lục liên hệ với look, /lúc/ nhìn, xem, nhìn về phía…, với Phạn ngữ lok, loc-, see.

.chiếu

chiếu liên hệ với với chói, soi, see. Trong đánh cờ, chiếu tướng có chiếu = check.

.chộ

(tiếng Huế), nhìn, trông liên hệ với check, Phạn ngữ chaksk, to see.

.liếc

đảo mắt nhìn nhanh, liên hệ với leer, liếc trộm, nhìn trộm.

.dòm

theo d= l = n=nh=ng, ta có dòm = lom = nom = nhòm = nhìn = ngó.

Ống dòm, ống  nhòm là dụng cụ quang học có thể nhòm xa, nhòm gần.

Dòm liên hệ với zoom, nhìn xa, nhìn gần và ngược lại.

.sát

Hán Việt sát như thị sát, liên hệ với Việt ngữ sét, xét, như đã nói ở trên với check…

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: