SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ (phần 3)

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 3)

Nguyễn Xuân Quang

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị, phát âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=)  có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* : dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Dan. = Đan Mạch.

Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Du = Hòa Lan

Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Fr = Ph áp

Ge = Đức.

Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”, một siêu hệ tái tạo gồm ngữ hệ: Ấn-Âu ngữ, Uralic, Altaic, Dravidian Phi-Á và Eurasiatic.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Sp = T ân Ban Nha.

Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

Wel. = Welch.

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

*

*           *

A. MỘT TRĂM TỪ CHẨN ĐOÁN SỰ LIÊN HỆ GIỮA HAI NGÔN NGỮ ĐỀ NGHỊ BỞI MORRIS SWADESH.

(tiếp theo)

21. Dog

chó, cầy, khai, cún (chó con).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

.canis

Ý cane, Pháp ngữ chien, Hy Lạp kyon, Cổ ngữ Ái Nhĩ Lan cu, Welsh ci, Phạn ngữ svan, çvan, Avestan spa, Nga sobaka (lấy từ Iran ngữ là Median spaka), Armenian shun, Lithuania suo, gốc PIE *kwon-, chó.

.hund

Cổ ngữ Anh hund (dog), Anh ngữ hiện kim hound phát gốc từ Tiền-Germanic hundas (Cổ Saxon và Cổ Frisian là hund, Old High German hund, Cổ Norse hundr, Gothic hunds) và từ PIE * kuntos.

Vào thế kỷ 12 hund thường dùng chỉ chó săn như grey hound.

.dog

Nguyên ngữ của Anh ngữ dog còn là một bí mật lớn trong Anh ngữ. Thật sự dog chỉ tính chất dũng mãnh của một giống chó (Etymology Dictionary Oline).

Tính chất này thấy rõ qua các yếu tố sau đây:

1. cổ ngữ docga, một từ ít dùng, chỉ một giống chó rất mạnh, dũng mãnh (powerful breed), Pháp ngữ doque (thế kỷ 16), Đan Mạch dogge.

Như thế dog có thể mang nghĩa của một từ cổ có nghĩa mạnh, hùng mạnh.

2. dog dùng để chỉ giống đực của một vài động vật như dog-fox, chồn đực.

Cả hai trường hợp đều cho thấy dog liên hệ với đực, hùng, mạnh nghĩa là liên hệ với nọc.

Như vậy ta có thể dùng Việt ngữ qua hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que để tìm ra cái bí mật của nguồn gốc, nguyên ngữ của dog.

Ta thấy

.dog = /đốc/ = đọcnọc như kim nọc của loài ong (đọc ong = nọc ong). Đọc, kim nhọn mang dương tính có nghĩa là nọc, đực, dương, hùng, mạnh.

.dog = /đốc/ = đục (chàng) mang dương tính.

.dog = đốt (khúc, dóng cây như đốt mía), châm bằng nọc nhọn như ong cũng gọi là đốt.

.Theo d=n, dog = nọc. Nọc là đực như heo nọc.

.dog cùng âm với dock, cầu tầu.

Ngày xưa cầu tầu, bến tầu nguyên thủy chỉ là một cái cọc cắm bên bờ nước để cột thuyền. Dock là đọc, là nọc (cọc).

Dock là cây nọc, cây cọc cột thuyền thấy rõ qua Anh ngữ quay, Pháp ngữ quai, bến tầu.

Quay phát âm là /ki/ ruột thịt với cổ ngữ Việt ki, kì là cây; Pháp ngữ quai (/ke/) ruột thịt với (cây có thân thằng như cột, trụ), kè, cừ (đóng cừ)

là cây cọc cắm ở bở nước (sau này đổ đá thành kè đá), với que. Anh ngữ key chỉ các chổ đậu của thuyền bè như Key West ở Florida có cùng nghĩa với quay. Tóm lại dock là nọc, cọc, quay, quai là cây, cọc, kè que nguyên thủy dùng cột thuyền về sau thành bến thuyền, cầu tầu.

Như thế dog là đọc, là đục, là đốt, là nọc có nghĩa là nọc nhọn (biểu tượng cho đực, bộ phận sinh dục nam, hùng, mạnh).

Điểm này giải thích tại sao dog trong Anh ngữ có nghĩa là hùng, mạng, đực dùng để chỉ giống chó hùng mạnh và chỉ giống đực cho một vài động vật.

Việt ngữ có con chó sói gọi là con lang. Con lang là thú biểu của các Lang Hùng, Hùng Vương, vua mặc trời mang dương tính. Việt ngữ lang là chàng (trai), cũng là chàng (đục, vật nhọn, chisel) và cũng là mặt trời (mặt trời là dương cũng là đực, lang là con trai, đực cũng là mặt trời). Con trai vua Mặt Trời Hùng Vương gọi là quang lang, tức Mặt Trời sáng ngời. Hiện nay thường cho là quan lang và giải thích sai quan là ông quan (mandarin) của Trung Hoa. Thật ra quan là tiếng nôm Tày có nghĩa là chàng (Hoàng Thiếu Ân, Từ Điển Chữ Nôm Tày, NXB Khoa Học Xã Hội. Hà Nội 2003). (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Ta cũng thấy dog chỉ hùng mạnh, đọc, nọc, đực, dương qua cây dogwood, dịch là cây dương đào (Tự Điển Nguyễn Văn Khôn). Loại cây này có hoa lá đỏ, đào v à dog ch ỉ dương vì thế mới có tên là cây dương đào.

Như thế từ dog có một khuôn mặt chỉ con đực, con đục, con đọc, con nọc, con đốt (cây) mang nọc tính thấy cả trong Anh ngữ và Việt ngữ.

Ngày nay dog thành từ chỉ chung chó trong Anh ngữ hiện kim.

Việt ngữ

1. Mường ngữ cóo, Việt ngữchó liên hệ với cổ ngữ Ái Nhĩ Lan (hound, wolf)…

2. cún (chó con).

liên hệ với Cổ ngữ Anh hund (dog), Anh ngữ hiện kim hound (greyhound), Tiền-Germanic hundas, gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *kuon, kun-, PIE * kuntos, *kwon-, Nostratic *k’üjna, wolf.

3. cầy

Việt ngữ cầy chỉ chó, chồn chó. Cầy tơ nói lái lại là cờ Tây. Cầy biến âm với cây vì thế con cầy tiếng lóng là mộc tồn có nghĩa là ‘cây còn’. Nói lái lại cây còn là con cầy.

Cầy biến âm với cây cũng cho thấy chó mang dương tính vì cây là gậy, là cọc, là nọc. Cầy là cây, nọc, đọc là dock, là dog.

Ta cũng thấy canidae, canis có can– = Hán Việt can, Anh ngữ cane, Pháp ngữ canne (gậy), Việt ngữ cần, cành. Cảnh sát Mỹ gọi tắt quân khuyển là K-9 (canine). Anh ngữ K phát âm /cây/. Như thế cầy mang dương tính như dog.

Việt ngữ con cầy cùng vần với cây liên hệ với canis.

Theo biến âm kiểu cay cú ta có cầy = Ái Nhĩ Lan .

4. ki

Ki cũng chỉ chó, ta thường gọi là con ki ki. Ki biến âm với k ì, với cây, cầy với Welsh ci…

5. khai (phương ngữ bắc Trung Việt).

Khai biến âm với cầy (khai = kai = cầy giống như Lào Kai = Lào Cay).

6.

Má là chó như thấy qua từ đôi chó má.

Theo m=b=p, ta có má biền âm vối Avestan spa, spa có (s)pa = má.

7. mang, muông

Cổ ngữ Việt mang, muông, chó.

Trở về vừa đến đầu đường,

Thấy con muông đứng cửa hang nó chờ.

Hay

Bỗng nghe ngoài chốn tường hoa,

Tiếng con muông sủa từ xa lại gần.

(Trinh Thử).

Mang, muông liên hệ với Phạn ngữ çvan (chó), có –van = mang.

22. Louse

Chí, chấy.

Số nhiều là lice.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

nhiều khi chỉ cả bọ chét (flea). Flea có -lea = louse, lice.

.Cổ ngữ Anh lus, phát gốc từ Tiền-Germanic *lus (Cổ Norse lus, Trung Hòa Lan luus, Hoà Lan hiện kim luis, Old High German lus, Đức laus), Welsh lleuen và từ PIE *lus.

Phạn ngữ kita, côn trùng, bọ, kecakita, chí, chấy, Lith. Utê, Latv. Uts.

Ngoài ra Latin pediculus, chí, chấy.

.Ural ngữ.

*täje trong Finno-Urgic; Finn.: täi; Tây Cheremis: tij, Votjak: tej, Hung.: tetü.

.Ham.-Semetic

Ả Rập: k’ml, Ethiopia: k’wml, Ai Cập: Saidic Coptic: komf, koomef/ Hausa: k’uma, flea.

.Altaic

Evenki và Lamut: kumke, tile-;

Orochi: kumuba, tikte-, Gold.: čikte.

Các biến âm loại t (rr) như ta-, ti-, te-… liên hệ với Anh ngữ tick, ve, vắt.

Việt ngữ

chí, chấy.

chí, chấy liên hệ với Anh ngữ chigoe, chigger, jigger (những thứ bọ chét), Phạn ngữ kitiba (chí, chấy), keçakita, con chấy, kita (sâu bọ, côn trùng).

-mạt

mạt gà là con bọ gà, bọ chét gà, Mường ngữ mẽn mò là mạt gà.

Thái Lan ngữ mak, flea (bọ chét). Anh ngữ flea, bọ chét. Theo f=m, mạt = mak = (f)lea.

Pháp ngữ puce, bọ chét, theo p=m, puce = mạt (theo kiểu Phạn ngữ muka = mặt nạ).

Latin pediculus, chấy, chí, theo m=b=p, mạt = ped- (theo kiểu biến âm mặt mẹt).

Đây là một trong mười lăm từ được cho là quân bằng nhất dùng để so sánh xem hai ngôn ngữ có liên hệ với nhau không.

mọt

biến âm với mạt.

Mạt, mọt liên hệ với Màori ngữ (Thổ dân New Zealand, thuộc Đa Đảo) ‘insect’.

ve, vắt

Theo v = u, ta có ve, vắt = Lith. utê, Latv. uts.

Theo mt = ut = wt, ta có mạt = ve, vắt – utê, Latv. Uts.

Cũng nên biết thêm Hawaii ngữ thuộc nhóm Đa Đảo ngữ liên hệ với Việt ngữ có ukulele, đàn guitar Hawaii. Ukelele có uke là con bọ chét, lele, nhảy lẹ. Uke liên hệ với Lith.utê, Latv. uts, Việt ngữ ve, vắt, mạt.

23. Tree

cây

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngử Anh treo, treow (cũng có nghĩa là wood), phát gốc từ Tiền-Germanic *trewan (Cổ Frisian tre, Cổ Saxon trio, Cổ Norse tre, Gothic triu), từ PIE * deru (oak) (Phạn ngữ dru, cây, gỗ), daru (gỗ, thân cây ‘log’), Hy Lạp drys, oak, doru , gậy, giáo, Cổ Church Slavonic drievo, cây, gỗ, Serbian drvo, cây, drva, gỗ, Nga drevo, cây, gỗ, Czech drva, Ba Lan draw, gỗ, Lithuanian derva, gỗ thông, Cổ Ái Nhĩ Lan daur, Welsh derven, oak, Albanian drush, oak.

Trong huyền thoại cây sồi oak thường dùng chỉ chung cây.

Gốc drendro-, từ gốc Hy Lạp drendro-, dendron, cây, phát gốc từ PIE *der-drew-, từ gốc *deru, cứng, chắc dùng chỉ gỗ, cây.

Việt ngữ

cây

cây liên hệ với Phạn ngữ kàya, thân cây.

-Mường ngữ câl là cây liện hệ với Anh ngữ cane, Pháp ngữ canne (gậy, khúc cây).

gậy

biến âm với cây (g=c) liên với câl, Anh ngữ cane, Pháp ngữ canne.

nọc

liên hệ với Anh ngữ nog, cây cài, then cài bằng cây, với log, thân cây.

lộc

cổ ngữ Việt có nghĩa là cây như thấy qua bài ca dao:

Bồng bồng cái lộc ra hoa,

Một đàn vợ lính chẩy ra thăm chồng…

Từ lộc ở đây phải hiểu là thân cây trơ trụi lá. Cây mới có thể ra hoa. Có những loài cây mùa đông rụng hết lá chỉ còn thân cây lộc và đến mùa xuân lại ra hoa rồi mới ra lá như hoa đào, hoa mơ, hoa mận. Lộc là thân cây liên hệ với Anh ngữ log, thân cây, khúc thân cây. Vì thế cái lộc ra hoa chỉ các loại cây này. Ta cũng thấy lộc = nọc, cọc, cây. Còn hiểu lộc là lá non, theo tôi, không đúng. Lá non làm sao mà ra hoa được.

nốc

thuyền, ghe.

Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

(Tục ngữ).

Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Nguyên khởi nốc là thuyền độc mộc khoét từ một thân cây, một khúc cây “log” (dug-out). Nốc liên hệ với Anh ngữ nog (cái chốt bằng khúc cây), log (thân cây).

Theo n=l, nốc = lốc. Lốc chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

Cô lô cô lốc,

Một nghìn ghính ốc đổ vào lồn cô.

Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim “lốc” là dạng nam hóa của nốc (giống như lõ của nõ).

Như thế nguyên thủy nốc là thuyền độc mộc. Nốc là thuyền là ghe. Ghe có một nghĩa là bộ phận sinh dục nữ.

Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn ghe, ăn đồ.

(ca dao).

Nếu muốn chửi rủa ai thì đem biếu ba chén chè và hai quả cau. Ba chè nói lái lại là ghe bà. Cho ăn ba chè là cho ăn ghe bà. Hai quả cau biểu tượng hai trái nang (cổ ngữ Việt Mường nang là cau như mo nang là mo cau), nang cũng có nghĩa là trứng. Hai quả cau là hai quả trứng của phái nam.

Theo gh = k, ghe = khe, ke, kẽ. Ghe là ke là kẽ, là khe chỉ bộ phận sinh dục nữ (cổ ngữ ke chỉ bộ phận sinh dục nữ, Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes).

Theo chuyển hóa k= gh như ké = ghé, kê = ghế (cái đòn kê để ngồi là dạng nguyên thủy của ghế ngày nay), ta có ke = ghe . Ghe chỉ bộ phận sinh dục nữ nên ta có từ “ghế” tiếng nói trại đi của từ “gái”. Con ghế có ghe. Phi Luật Tân Tagalog ngữ gay là ghe biến âm với gái, theo g=c, gay = cây. Rõ ràng ghe, gay là thuyền độc mộc khoét từ một khúc cây và liên hệ đến gái, bộ phận sinh dục nữ (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Rõ ràng nốc, là lốc là ghe là bộ phận sinh dục nữ.

Cổ ngữ Việt cũng có từ dốc, đốc chỉ thuyền, bộ phận sinh dục nữ. Trong Từ Điển Việt Bồ La có từ dốc chỉ cơ quan sinh dục nữ. Theo n=d như này = đây, ta có nốc = dốc, đốc. Đốc cũng chỉ cơ quan sinh dục đàn bà như thấy qua từ mồng đốc chỉ hạt tình (clitoris). Mồng đốc là cái mồng thịt ở cái đốc, cái nốc phái nữ.

Ta cũng thấy nốc, đốc là ghe thuyền liên hệ với Anh ngữ dock (đọc, nọc cột thuyền, cầu tầu).

Qua Việt ngữ ta thấy nốc, đốc, ghe liên hệ với nước (theo Dịch nước có một khuôn mặt thuần âm, thái âm), bộ phận sinh dục nữ có giống cái,  nên giải thích tại sao từ ship của Anh ngữ có giống cái.

.Lộc

Hán Việt lộc, con hươu. Con hươu là con hèo, con nọc, con vật có sừng. Theo l=n, lộc = nọc = log.

Lục

Hán Việt lục là biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục.

Ngày xa xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cái cọc, cái nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng.

Ta thấy rõ lục = log.

lóc

Việt ngữ có từ đôi lăn lóc với lăn = lóc. Lóc chính là Anh ngữ log. Ta nói ngủ lăn, ngủ lóc là ngủ lăn lóc như khúc cây chính là to sleep as a log.

đa

Là loại cây thiêng liêng biểu tượng cho Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế, Cây Đời Sống là tiêu biểu cho tất cả loài cây. Đa liên hệ với Phạn ngữ daru.

tre

Tre (bamboo), loài cây thân thẳng như cây cột, trụ cùng mặt chữ với Trung cổ Anh ngữ tre, Cổ Norse tre, cây, gỗ liên hệ với Cổ ngử Anh treo, treow (cũng có nghĩa là wood), phát gốc từ Tiền-Germanic *trewan (Cổ Frisian tre, Cổ Saxon trio, Gothic triu)…

thụ (Hán Việt),

Cây, theo d=th, liên hệ với PIE * deru (oak), Phạn ngữ dru, cây, gỗ dru+ma, daru. gỗ, thân cây ‘log’, Hy Lạp drys, oak, doru , gậy, giáo, Cổ Church Slavonic drievo, cây, gỗ, Serbian drvo, cây, drva, gỗ, Nga drevo, cây, gỗ, Czech drva, Ba Lan draw, gỗ, Lithuanian derva, gỗ thong, Cổ Ái Nhĩ Lan daur, Welsh derven, oak, Albanian drush, oak.

gỗ

liên vệ với Anh ngữ wood, theo g=v, gọt = vót, ta có gỗ = wo(od), với Đức ngữ holz, Hòa Lan hout, gỗ (theo g=h, gồi = hồi).

guốc

Nguyên thủy guốc là hai miếng gỗ lót chân để đi. Ta có guốc = wood. Ta thấy rất rõ người Hòa Lan có đôi guốc quốc hồn quốc túy làm bằng hout. Theo g = h, guốc = hout.

ván

thường chỉ miếng gỗ mỏng như tấm ván, làm bằng gỗ như bộ ván liên hệ với Anh ngữ plank, tấm ván. Theo p = v ta có p(l)an(k) = ván. Ván cũng liên hệ với Phạn ngữ vana-, woods (rừng), cây, gỗ.

bàn

Bàn nguyên thủy chỉ là một tấm gỗ, một tấm ván. Theo v=b, ván = bàn.

Bàn liên hệ với Anh ngữ board (plank), phát xuất từ Tiền-Germanic *burdam (Cổ Norse bord, Hòa Lan bord, Đức brett, plank, và từ PIE * bhrdh, board.

Với nghĩa liên hệ với gỗ, board có nghĩa là plank, ván, table, bàn.

Việt ngữ ván đi đôi với tấm. Qua từ tấm ván ta có tấm = ván. Anh, Pháp ngữ table = tấm (b=m) = ván.

bảng

Bảng cũng chỉ là một tấm gỗ. Board có một nghĩa là bảng như blackboard, bảng đen.

Bảng liên hệ với board, PIE *bhrdh, board.

Ta cũng thấy, theo b=p, bảng, bản (gỗ) = plank.

ghế

Nguyên thủy ghế chỉ là một khúc cây, khúc gỗ kê đít để ngồi, ngày nay còn thấy qua từ đòn kê. Theo gh =kh = k như ghe = khe = ke (bộ phận sinh dục nữ) ta có ghế = kê.

Theo gh = ch như ghếch = chếch, ta có ghế = chair (/che/).

rừng

Nơi có nhiều cây, Hán Việt lâm, rừng viết bằng hai chữ mộc, cây hợp lại.

Rừng biến âm với Anh ngữ jungle, rừng.

24. Seed

hột, hạt

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Anh sed, soed, ‘thứ đem gieo; hạt; mầm’ phát gốc từ Tiền Gemanic *sediz, hạt, hột (Cổ Norse sad, Cổ Saxon sad, Cổ Frisian sed, Trung Hòa Lan saer, Old High German sat, Đức saat, Armenian ngữ hat (grain); W., Br. had (seed)); từ PIE * se-ti-, gieo hạt, từ gốc *se- gieo hạt

Nghĩa rộng ra là con cháu, dòng giống.

Việt ngữ

hột, hạt , hạt giống, mầm hạt, mầm giống…

hột, hạt liên hệ với Breton had, Armenian hat, hạt. Theo h=s (hói = sói), hạt, hột liên hệ với Cổ Norse, Cổ Saxon sad, Tiền-Germanic *sediz.

25. Leaf

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

.Cổ Anh ngữ leaf, lá, phát gốc từ Tiền-Germanic *laubaz (Cổ Saxon, Cổ Norse lauf, Cổ Frisian laf, Hóa lan loof. Old High German loub, Đức laub, Gothic laufs lá); có lẽ từ PIE *leup, bóc, lột vỏ.

.Tibeto-Burman ngữ *lap, lá.

.Amerind

tộc Penutian chi Yokuts ngữ *t’/dap (Greenberg, 1987, 153-54, No 134), lá.

Việt ngữ

liên hệ với Tiền Germanic *laubaz…

Anh ngữ leaf có lea- = lá.

hoa lí có mầu lá liên hệ với leaf, leave (/li/).

lộc

Hán Việt lộc (lá non), ruột thịt với lục (mầu xanh của lá non, mầu lục) như lục diệp, lục diệp tố.

Lộc, lục liên hệ với lí, leaf.

lột

lột là bóc (bóc lột) những lớp mỏng như lá liên hệ với PIE *leup, bóc lột, cũng liên hệ với lá.

26. Root

phần dưới đất của cây.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Anh ngữ muộn rot, phát gốc từ nguồn Scandinavia họ hàng với Cổ Norse rot (rễ), phát gốc từ Tiền-Germanic *wrot (Cổ Anh ngữ wyrt, rễ, cỏ, cây, Old High German wurz, Đứx wurz, cây ‘plant’, Gothic waurts, rễ) và từ PIE * wrad-.

Việt ngữ

rễ

liên hệ với Anh ngữ root, Pháp ngữ racine, Tây Ban Nha ngữ raíz, Bồ Đào Nha ngữ raiz, Ý radice, Latin radix, Đan Mạch rot, Thụy Điển rot là rễ… với PIE * wrad-.

Theo biến âm kiểu dễ dãi, ta có rễ= rai-.

rẹn (phương ngữ Huế).

là rễ liện hệ với PIE *wrad.

cội, căn cội

Hán Việt căn liên hệ với Phạn ngữ carana, rễ, gốc.

27. bark

vỏ cây

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ Norse borkr (vỏ cây), phát gốc từ Tiền-Germanic * barkuz có lẽ liên hệ với Low German borke.

Việt ngữ

vỏ (cây).

Là lớp bao, lớp bọc cây. Ý nghĩa này thấy rõ qua các từ biến âm với vỏ như vớ là vật bao chân, người Bắc gọi là bí tất (socks); vở (sách vở) nguyên thủy làm bằng vỏ cây; con vờ là loài phù dung chỉ sống một thời gian ngắn ngủi lúc tinh sương. Khi mặt trời mọc, con vờ biến mất chỉ còn vỏ xác trên mặt sông vì thế mới có câu xác như vờvợ là nòng, nàng, nường (túi, bao) (xem wife).

Theo v = b, ta có vỏ liên hệ với Cổ Norse borkr, vỏ; với Tiền-Germanic *barkuz.

vải.

vải biến âm với vỏ. vải (nguyên thủy vải làm từ vỏ cây).

Vải liên hệ với Pháp ngữ vêtement, quần áo, vest (áo vét), Phạn Ngữ vastra, vasi (quần áo). Phạn Ngữ vap, to weave, dệt cũng liên hệ với vải.

vóc

một thứ vải. Vóc biến âm với bọc liên hệ với cổ Norse borkr, Tiền-Germanic *barkuz.

bố

làm bằng vỏ cây như bao bố, vải bố, bỏ (cổ ngữ Việt, Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhodes).

Bố ruột thịt với Cổ Norse borkr. Theo biến âm kiểu bác bỏ, ta có bark = *barkuz = bác = bỏ = bố.

Bố liên hệ với Anh ngữ burlap, vải bố, lưới bố (giữ đất không bị lở).

bóc

Việt bóc thường đi đôi với vỏ (bóc vỏ) hàm nghĩa vỏ liên hệ vói borkr, *barkuz.

28. Skin

da, bì.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Cổ ngữ Norse skinn, da thú, phát gốc từ Tiền-Germanic *skintha (Cồ Anh ngữ scinn, Old High German scinten, Đức schinden, lột da, da, phương ngữ Đức schind, da trái cây) và từ PIE *sken, cắt bỏ, lóc, gốc *sek, cắt

Ngoài ra, Anh ng ữ hide, da thú, Pháp ngữ peau, da.

Việt ngữ

da

Da có nghĩa là lớp bao ngoài, lớp bọc, túi bọc thân người. Da biến âm với dạ, cái bao bọc, túi như dạ dầy (bao tử, bọc ruột đựng thức ăn), dạ con. Da là túi, bao bọc thấy rõ qua Thái ngữ nang là da. Việt ngữ nang là bọc, túi. Hán Việt là da. Bì có một nghĩa là bao bọc ví dụ cân trừ bì là cân trừ bao, trừ bọc. Việt ngữ là thứ quả cùng họ nhà bầu (bầu bí) nên cò cùng nghĩa với bầu (bào, bao). Ta có từ đôi bầu bì.Vũ trụ hư không là một cái bọc, cái túi, cái trứng (nang) vì thế mà chúng ta cũng dùng từ da cho bầu trời ví dụ như màu xanh da trời.

Việt ngữ da liên hệ với Lett. …da, Lith. oda, (skin), Gr. derma, derm-, (skin).

cùi (lớp bọc như cùi bưởi, cùi cam)

cùi biến âm với Pháp ngữ cuir (da), Latin cutis.

kén

Kén là cái nang, cái bọc kín bao bọc con nhộng. Với nghĩa bao che kín này thấy rõ qua chứng kén qui đầu (phimosis).

Ta thấy rõ da là cái bọc, bao che kín qua từ Anh ngữ hide có nghĩa là da (thú) mà cũng có nghĩa là che, kín, ẩn nấp.

Kén liên hệ với skin, da, ta có kén = (s) kin. Ta cũng thấy skin có nghĩa là kín như hide, (s)kin = kín (bọc, quây che lại) như bao kín lại, bịt kín lại.

Kén, skin liên hệ với PIE *k[h]er-/*k[]or-, da, vỏ bao.

mo

Cái bao, bọc như mo nang là cái bao hoa cau. Mo liên hệ với Anh ngữ maw, một cái túi trong bao tử loài nhai lại.

Với nghĩa này, Việt ngữ mo có thể dủng để giải nghĩa từ Pháp ngữ peau. Peau đọc là /pô/ biến âm với “mô” (p=m). Peau là “mô”, là mo, là bọc, bao. Peau là mo, là nang, là da (bọc túi nang).

Theo m=p, mo = Pháp ngữ peau là da.

29. Flesh

xác thịt, thịt.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Phần lớn Ấn-Âu ngữ thịt chỉ thân xác là flesh và thịt dùng làm thực phẩm gọi là meat. Từ flesh vì thế có nghĩa chính yếu chỉ body và ngược lại những từ chỉ body cũng dùng chỉ ‘flesh’, ví dụ Lettic miesa chỉ flesh và cũng chỉ body. Trong Việt ngữ cũng vậy, thịt thường là thịt ăn nhưng cũng có nghĩa là thể xác như từ xác thịt (thường có từ xác đi kèm để phân biệt). Họa hoằn flesh mới dùng chỉ thịt ăn như to eat flesh, ăn mặn trongtuần chay, hàm nghĩa tôn giáo là “ăn thân xác”. Việt ngữ thịt thường chỉ phần mềm che chở, bao bọc quanh phần cứng như xương, hột (trái cây). Với nghĩa này flesh chỉ cả phần thịt, cơm tức phần mềm của trái cây. Còn thịt dùng làm thực phẩm nhiều khi được gọi theo sự cắt, xẻ, làm thịt và ngay cả chỉ việc giết để cúng tế (meat).

Theo Buck, những từ chỉ body, cơ thể dùng trong Tân Anh ngữ như là body, dead body, corpse. Một vài từ nguyên thủy chỉ phần chính thân thể trunk để phân biệt với tay chân và phản ánh quan niệm, ý nghĩa như “swelling (phồng), curved (cong), bulging shape (phình, mẩy)…, cũng có vài từ chỉ flesh (4.11).

Cổ ngữ Anh floesc (flesh, meat), Cổ Frisian flesk, Middle Low German vlees, Đức fleisch. Cổ Norse flesk (thịt heo, thịt ba chỉ). Không biết chắc nguồn gốc, có lẽ từ Tiền-Germanic * flaiskoz-.

Việt ngữ

athịt với nghĩa nghiêng nhiều về xác thịt, thân xác, thể xác.

.mẩy

Việt ngữ mẩy có một nghĩa là thân, mình (body). Ta có từ đôi mình mẩy suy ra mình = mẩy. Mẩy là thân mình thấy rõ qua câu “đầu chấy, mẩy rận” (đầu đầy chấy, mình đầy rận).

Như đã nói ở trên, theo Buck thân, mình cũng hàm nghĩa“swelling, bulging shape”. Việt ngữ mẩy (thân hình) cũng có nghĩa là phồng, phình (swelling, bulging shape) như hạt lúa, hạt thóc rất mẩy. Theo m = ph (mập mạp = phốp pháp), mình (body) = mẩy = phình (swelling).

Theo b = m (bay = mày), body = móc, theo biến âm kiểu móc máy ta có móc =  mẩy. Vậy body = móc = mẩy = mình.

Theo f = b = m (fat, phì = béo = mập), flesh có fesh = mẩy, mình (body).

.vóc

Là thân thể như ăn vóc học hay (ăn để có vóc người) và vóc là dáng, vẻ người như vóc người, như vẻ người (“mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, Nguyễn Du, Kiều).

Theo b = v (băm = vằm), vóc liên hệ với body (thân thể). Body có bod- = vóc. Vẻ, vóc liên hệ với Phạn Ngữ vapus, vera là body.

.vỏ, xác

Thân mình với ý nghĩa vỏ che, lớp bao, xác. Ta có từ đôi thân xác (một ý nghĩa của flesh).

Xác với nghĩa là bao, vỏ, thấy qua các từ Việt ngữ lột xác (rắn), xác như vờ. như đã nói ở trên, con vờ là loài phù dung chỉ sống một thời gian ngắn ngủi lúc tinh sương. Khi mặt trời mọc, con vờ biến mất chỉ còn vỏ xác trên mặt sông vì thế mới có câu xác như vờ.

Xác liên hệ với Phạn ngữ çarira, covering (bao che). Theo c = x (car = xa, xe), ta có çar- = xác. Hy Lạp ngữ kalupto, cover có kal- = xác.

.xác chết, thây, thi (tử).

Xác liên hệ với Anh ngữ cadaver, carcass, corpse, Phạn ngữ çava-, có cad-, car-, çav-, cor- = xác.

. b. Thịt ăn với nghĩa là cắt, xẻ.

Thịt dùng làm thực phẩm nhiều khi được gọi theo sự cắt, xẻ.

Việt ngữ có từ đôi xẻ thịt nghĩa là thịt có hàm nghĩa xẻ, cắt.

Thịt để ăn có nghĩa là cắt, chặt như Latin carò, Ý, Tây Ban Nha, Lỗ Ma Ni ngữ carne, Pháp ngữ chair (thịt) charnu (xác thịt) và charcuterie, người bán thịt lợn, thịt nguội có car-, cha- = xả, xẻ, cắt, chặt liên hệ với Hy Lạp ngữ keiro-, shear. Shear chính là Việt ngữ xẻ, xén, sén, sắn; với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *ker, cut, cắt. Cut chính là Việt ngữ cắt. Cũng nên biết Việt ngữ kéo (vật để cắt, sén) cũng có cùng gốc *ker- này.

c. Thịt với nghĩa miếng ăn.

Với nghĩa này thịt là meat chỉ phần mềm che chở, bao bọc quanh phần cứng là xương. Meat thú vật thường dùng làm thực phẩm.

Miếng là cổ ngữ Việt chỉ thịt. Ta còn thấy rõ qua hững câu nói “một miếng giữa làng hơn một sàng xó bếp”, “có tiếng mà không có miếng”… Miếng gì mà quan trọng như thế? Hiểu theo nghĩa ở đây, hiển nhiên là miếng thịt. Từ  miếng Việt ngữ rõ nhất vừa có nghĩa là mảnh, phần vừa có nghĩa là thịt. Thời xa xưa con người còn sống thành bộ lạc, bắt được một con thú đem về xẻ ra từng miếng chia nhau ăn. Ngày nay ở vùng quê Việt Nam còn tục xẻ thịt, “đánh đụng” rồi chia phần, chia miếng. Ta thấy rõ, miếng là thịt. Thịt với nghĩa cắt xẻ ra từng miếng là thịt ăn.

Thật vậy, trong Ấn Âu ngữ thịt cũng có nghĩa là miếng, là phần thịt theo nghĩa xả, xẻ, chặt ra từng mảnh từng miếng. Gothic mimz, mammò (meat); Lettic miesa, Nga ngữ mjaso, Phạn ngữ mànsa-, màs-… gốc IE *memmo-, *mes- (thịt) đều có hàm ý là miếng. Ái Nhĩ Lan ngữ mìr, ‘portion, morsel’ (miếng, phần, mẩu). Pháp ngữ viande (thịt) có vian(de) = mian = miếng (v=m).

Miếng chính là thịt và liên hệ với Anh ngữ meat và với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ IE *memmo-, *mes- (thịt).

d. Thịt là giết.

Thịt dùng làm thực phẩm nhiều khi được gọi là làm thịt và ngay cả chỉ việc giết để cúng tế.

Việt ngữ có từ đôi giết thịt có nghĩa là thịt = giết. Ta cũng nói làm thịt, ăn thịt nghĩa là giết ví dụ như làm thịt, ăn thịt con gà, con heo là giết con gà con heo, nó bị làm thịt rồi = nó bị giết rồi. Theo th = d  (dư = thừa) ta có thịt = dịt = diệt = giết.

Tại sao chúng ta gọi thịt là giết? Thuở còn ăn lông ở lỗ con người giết thú vật làm thịt ăn vì thế giết nghĩa là thịt (ăn).

Từ thịt Việt ngữ còn mang chứng tích của sự tế lễ bằng cách giết sinh vật. Chúng ta thuộc chủng Hồng Bàng thờ Mặt Trời nguyên thủy tế người, tế máu như thấy ở người Aztec, Maya, họ moi trái tim tế mặt trời (Maya ruột thịt với Cổ Việt có cùng DNA với Cổ Việt, xem Sự Tương Đồng Giữa Maya và Cổ Việt). Cổ Việt giết người tế mặt trời còn thấy trong bài Sở Từ của Tống Ngọc đã tả bọn Đông Di và Nam Man giết người để tế thần. Văn Cao có câu hát ‘thề phân thây, uống máu quân thù’.

Pháp ngữ tuer (giết) có gốc từ Latin tùtàre, tùtàrì “make safe (tùlus), protect, protect oneself against…” Tại sao giết để được che chở? Từ tuer chính là Việt ngữ tế, thịt. Hy sinh là tự hiến thân mình hay giết người, giết sinh vật, thịt sinh vật cúng dâng tế thánh thần để được phù hộ, che chở… Hán Việt tế cũng có nghĩa là cứu giúp như tế bần, cứu tế, y tế. Vậy Pháp ngữ tuer chính là giết, tế, thịt. Anh ngữ sacrifice (giết, hy sinh), có sac(rifice) liên hệ với Hán Việt sát, giết. Sát, sacer nguyên thủy là một sự việc thiêng liêng, ngày nay người Tây phương chỉ còn hiểu sacrifice do sacer với nghĩa thiêng liêng mà không còn biết sacer là sát, là giết, là thịt, là tế (dĩ nhiên cũng hàm nghĩa thiêng liêng)…

Cổ ngữ Anh tiber, tifer(ì?), Gothic tibr là dạng song hành với Cổ ngữ Nordic tafn, Armenian ngữ taun ‘feast, festival’, Latin daps ‘sacrificial feast, feast’, Hy Lạp dapto ‘devour, rend’ (ăn tươi nuốt sống, ăn ngấu nghiến, cấu xé) (Walde-P 1.764, Falk-Torp 1240). Ta thấy rõ tib-, tif là tế sinh vật liên hệ với thịt, tế lễ…

Thịt với nghĩa giết liên hệ với Anh ngữ rite, tế lễ. Theo r = d (ràn = dàn), rite = diết. Thời cổ  có hiến tế người và vật, ngay cả hiện nay giết sinh vật là một điểm chính trong rite, tế lễ.

Tóm lại, về diện biến âm mẹ con (th = t) thì Thịt liên hệ với thết, tế, giết tức liên hệ với Pháp ngữ tuer (giết) có gốc từ Latin tùtàre, tùtàr với Cổ ngữ Anh tiber, tifer(ì?), Gothic tibr là dạng song hành với Cổ ngữ Nordic tafn, Armenian ngữ taun ‘feast, festival’,

30. Blood

Máu.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Theo Buck trong Ấn-Âu ngữ, blood thuộc hai nhóm họ hàng, nhóm thứ nhất không rõ nguyên nghĩa nguồn cội xa xưa (“remoter semantic source”), nhóm thứ hai hàm nghĩa “raw flesh, raw” (“thịt sống, sống, còn chẩy máu”) hay “blood outside the body, of a wound, gore” (“máu ngoài cơ thể từ vết thương, máu đông lại” ). Những từ khác có gốc từ “red” (đỏ) (notably in Sanskrit), “wound” (thương tích), “vein” (tĩnh mạch) và có lẽ “flow, gush” (chẩy, phun, ùa ra) hay tương tự như vậy (tr. 206).

.Cổ Anh ngữ blod, phát gốc từ Tiền-Germanic *blodam (máu) (Cở Frisian blod, Cổ Saxon blôd, Cổ Norse blod, Trung Hòa Lan bloet, Hóa Lan bloed, Old High German bluot, Đức blut, Gothic blop), từ PIE *bhlo-to- (ùa chẩy ra, vọt ra, sưng) hay tóe ra.

Mặt khác, trong các nhóm Ấn Âu khác có các từ chỉ máu như PIE *esen- (Hy lạp trong thơ văn ear, Cổ Latin aser, Phạn ngữ asrk.

.Hittite: esshar.

Nhóm thứ hai, PIE *krew-, máu ở vết thương (Latin cruour “blood from a wound,” Greek kreas “meat”).

Latin sanguis, Greek haima, m áu.

Việt ngữ

máu

máu liên hệ với Hy Lạp nhữ hema-, hemo-, aima, ema (anemia, không có máu, thiếu máu).

me,

Ta có từ đôi máu me, máu mê cho thấy máu = me = mê.

Me, mê liên hệ với aima, ema, hema-, hemo-.

mủ

máu liên hệ với với mủ. Việt ngữ có từ đôi máu mủ với mủ = máu. Máu mủ ở đây phải hiểu là một thứ huyết thống, cùng chung máu mủ. Mủ cũng có nghĩa là chất nuôi dưỡng giống như máu ví dụ như mủ cây (nhựa cây). Mủ ở đây khác với mủ (pus) do nhiễm trùng (mủ = pus). Máu mủ là ruột thịt. Rõ ràng blood có boo- = mủ = máu.

Ta cũng thấy theo h=g, gi, huyết = giết.

tiết

tiết có nghĩa là máu như tiết canh (‘canh’ máu), tiết gà, chọc tiết, cắt tiết.

Tiết ruột thịt với giết (xem trên).

huyết

Hán Việt huyết là máu.

Tác giả Bình Nguyên Lộc cho rằng huyết không phải là từ Hán Việt mà do cổ ngữ Thái hơad. Quan thoại ngữ máu là xẹ. (Lột Trần Việt Ngữ, tr.233).

Thái Lan ngữ hiện kim leuat liên hệ với blood. Với b câm, -lood = leuat. Huyết liên hệ với hema-, hemo-.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: