LIÊN HỆ VIỆT và ẤN ÂU NGỮ (phần 1).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NGỮ VÀ ẤN ÂU NGỮ.

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Những Chữ Viết Tắt và Qui Ước

-Chữ trong hai  gạch nghiêng /…/ thanh, thinh, âm, âm vị,  phát âm theo tiếng Việt, hay tiếng Anh.
-Dấu bằng (=)  có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.
-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú  = b(r)u- =  bú, vú (r câm)…
* : dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).
AA: Afro-Asiatic
Adv. = trạng ngữ (từ).
Affix: tiếp tố.
Alliterative: láy phụ âm đầu.
Alt = Altaic
Conj. = conjuction, liên từ
Copula = hệ từ
Drav. = Dravidian (Nam Ấn).
Ev. = Evenki
Fj. = Fijian
Gl. = Goldi, còn gọi la Nanai.
Ma. = Manchu (Mãn Châu).

Finn. = Phần Lan.
IE.=Indo-European (Ấn-Âu) ngữ.
Ital. = Italia.
Interjection = cảm từ như dạ, vâng, ôi chao.
Kart. = Kartvelian.
L. = Latin.
Ml. = Malay (Mã Lai).

Nostr. = Nostratic, “ngôn ngữ của chúng ta”.
Noun, danh từ.
Om. =  omato, tượng thanh.
Pai. = Paiwan.
PAN = Proto-Austronesian.
Participle, phụ từ, mạo từ.
Prefix = tiền tố, tiếp đầu ngữ.
Pron. = pronoun = đại danh từ, đại từ.
Scand. = Scandinavian.
Skt = Phạn ngữ.
Tag. = Tagalog.
Tung. = Tungusic, Đông Quốc (ngày xưa thuộc “rợ” Đông Di).
Tk. = Turkic.
Ural. = Uralic như  Phần Lan.
Verb = động từ, động ngữ .

.Ŝ  giống như sh trong Anh Ngữ  ví dụ ship.

*

*         *

Để so sánh sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ khác nhau, các nhà ngôn ngũ học so sánh hình dạng (morphology), ý nghĩa (semantics) và ngữ pháp của hai ngôn ngữ đó xem chúng có giống nhau hay không.

Theo các nhà ngôn ngữ học, “sự liên kết trung gian giữa âm và nghĩa là chiếc chìa khóa để tái kiến trúc lại ngôn ngữ trong quá khứ. Sự hiện diện của các từ có âm và nghĩa ngữ giống nhau suy ra rằng hai ngôn ngữ đó có cùng gốc tổ, ví dụ Pháp ngữ lait, sữa, Tây Ban Nha leche, ý latte. Dự trên âm của các từ con gái ‘sữa’ này, các nhà ngôn ngữ học có thể tái kiến trúc lại dạng Latin lacte. Sự so sánh giống nhau đó suy diễn ra rắng gốc Latin, Hy Lạp (Greek) và Phạn ngữ là con cháu của cùng một tổ tiên. Ví dụ từ three, số 3, trong Latin là tres, Hy Lạp là treis và Phạn ngữ là tryas… (William F. Allman, The Mother Tongue, US News & World Report, Nov. 5, 1990, pp 60-70).

Nhưng chúng ta không thể so sánh hết hàng ngàn, hang vạn từ của hai ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học Hòa Lan Holger Pedersen là người đầu tiên nhận thức ra rằng nghiên cứu sự so sánh phải giới hạn vào sự liên hệ của một số gốc/dạng thức căn bản quân bình bằng nào đó (certain number of stable basic roots/forms). Nhóm này không bao giờ hay ít khi trở thành chủ thể của sự vay mượn của một ngôn ngữ từ một ngôn ngữ khác (ZDMG vol.57, p.560 in German, translated into English bởi J.R. Kreuger, trích từ Global Linguistic Connection Eurolinga, Bloomington, 1983, p.82).

Sự quan sát của Peter Pedersen là một mẫu mực cho sự so sánh hai ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học hiện nay.

Nhà ngôn ngữ học tài ba Morris Swadesh đề nghị dùng một trăm từ căn bản quân bằng bền và gần đây các nhà ngôn ngữ học Nga, trong đó có Dolgopolsky, giảm xuống một danh sách chỉ còn 15 từ căn bản quân bằng bền.

Các từ căn bản quân bằng bền là những từ thế nào?

Các từ này là những từ, như đã nói ở trên, không bao giờ hay ít khi trở thành chủ thể của sự vay mượn của một ngôn ngữ, từ một ngôn ngữ khác. Các từ không quân bằng thường liện hệ tới văn hóa, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo… thường là đối tượng của sự vay mượn và thay đổi.

Các từ căn bản quân bằng bền thường gồm các nhóm từ như nhân sinh đại danh từ, phủ định từ, các từ về bộ phận thân người và các số đếm.

Tôi xin so sánh các từ Việt ngữ và Anh ngữ nói riêng và Ấn Âu ngữ nói chung theo danh sách 100 từ của Morris Swadesh đề nghị rồi sau đó kiểm chứng với 15 từ của các nhà ngôn ngữ học Nga. Sau nữa đi sâu vào các nhóm nhân sinh đại danh từ, phủ định từ, các từ về bộ phận thân người và các số đếm (một sồ đã đăng lên blog rồi).

A. MỘT TRĂM TỪ CHẨN ĐOÁN SỰ LIÊN HỆ GIỮA HAI NGÔN NGỮ ĐỀ NGHỊ BỞI MORRIS SWADESH.

Tôi xin so sánh dạng ngữ (morphemes) và nghĩa ngữ (semantics) của Việt ngữ và Ấn Âu ngữ dựa vào danh sách 100 từ c ăn bản quân bẳng bền do Morris Swadesh đề nghị.

1. I (tôi).

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít.

.Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Các nhà ngôn ngữ học đã nhận thấy:

.Gốc tái tạo Ấn-Âu ngữ IE * mi/-m

Latin mè, Anh ngữ me, Pháp ngữ moi, Ý ngữ mi, Bồ ngữ mim, Phạn ngữ mà, màm, PIE *me-/*mo-

là nhánh nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất sồ ít.

.Ural ngữ *mynd, tôi; Phần Lan ngữ mind.

. Altaic *min (I) (Ramstead 1957:79).

Còn thấy trong ngôn ngữ:

-Thổ Nhĩ Kỳ man, ban (a có chấm).

-Mông Cổ: trong văn chương bi (tổng quát của min).

-Goldi: mi (bi); trường hợp lệch min-

-Mãn Châu: bi (trường hợp lệch: min-).

. Ngôn Ngũ Của Chúng Ta Nostratic: *mi (I), lệch *mi-nV

.Việt ngữ

-Cổ ngữ Việt

.min (tôi).

Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi.

(Nguyễn Du, Kiều).

Mường ngữ min cũng có nghĩa là tôi như mo min (mo tôi), lời ông thầy mo xưng hô khi cúng tế.

.mỗ

mỗ (tôi, ta) liên hệ với PIE *me-/*mo-

-Việt hiện kim:

.mình.

Từ min là một tiếng cổ đẻ ra từ hiện kim mình. Min, mình là những từ liên hệ với dấu ngữ (sign language), người nói chỉ vào thân thể của mình mà xưng hô mình thế này, mình thế kia. Từ min, mình chỉ vào thân mình cũng hàm nghĩa đây và cũng thường đi đôi với từ đây thành từ ghép điệp nghĩa mình đây: như mình đây đâu có biết = mình đâu có biết = đây đâu có biết.

.tôi (tui), ta, tớ, tao (tau), đây.

Những nhân xưng đại danh từ ngồi thứ nhất số ít dùng phổ thông trong Việt ngữ là tôi (tui), ta, tao (tau), tớ, đây.

Đây là những từ người Việt hiện nay dùng hàng ngày trên cửa miệng. Nói một cách khác đây là những từ hiện kim, những từ tân tiến nhất. Câu hỏi được đặt ra là tại sao chúng ta lại xưng hô như thế? Những từ này do những từ cổ nào sinh ra? Mò tìm trong những áng văn cổ, ca dao tục ngữ, tôi thấy một dạng cổ gần nhất của từ này là từ đây. Đây đi đôi với đó. Đây cũng có nghĩa là tôi, ta, tớ như thấy qua câu ca dao:

Cho đây với đó nên đôi vợ chồng

Hay

Tình đây với nghĩa đó,

Như đọi nác đầy…

(Hát Dặm Hà Tĩnh).

Ta có thể đưa từ này lên bàn mổ. Theo biến âm đ = t như đuột = tuột (thẳng), ta có đây = tây. Theo a=ô như ái = ối (tiếng kêu đau), ta có tây = tôy. Lục tìm trong nhưng áng chữ nôm cổ như chữ nôm đạo Thiên Chúa thế kỷ 17, trong “Mô Thức Rửa Tội 1648 với Chữ Quốc Ngữ” có đoạn viết Tôy là Du ảo Cai Trâm cũ nghi bậi. . . (Tôi là Giu An Cai Trâm cũng nghĩ vậy…). Rõ ràng đây = tôy = tôi. Ta cũng có thể dựa vào qui luật biến âm y = i như Yên Báy = Yên Bái để thấy rõ là tôy = tôi. Như thế từ đây là dạng cổ của tôi.

.Theo biến âm o = u như ôi chao = ui chao, ta có tôi = tui.

.Theo biến âm ây = o như đây = đó, ta có đây = tây = tớ hoặc i câm, tôi = tớ.

.Theo o = a như hột = hạt, ta có tớ = ta.

.Theo o = ao như bồ = bao, cỏ = cảo, ta có tớ = tao.

.Theo o = au như đỗ = đậu, ta có tớ = tau.

Tóm lại tôi, tui, tao, tau, ta, tớ là biến âm và do từ đây sinh ra. Ngày nay ta còn thấy rõ dấu tích của nguồn gốc này qua các cách nói như tôi đây, tui đây, tao đây, tau đây, ta đây, tớ đây. Những từ này coi như là những từ ghép hay từ đôi điệp nghĩa.

Bây giờ ta thử đối chiếu với Ấn-Âu ngữ.

-Pháp ngữ je, tôi, phát âm là /dơ/ Theo biến âm d = t như dựa = tựa, ta có dơ = tớ. Vậy Việt ngữ tớ liên hệ với Pháp ngữ je.

– tương tự Tây Ban Nha ngữ yo =/dô/ = tớ.

Như thế Việt ngữ tôi, tao, ta, tớ. . . liên hệ với Pháp ngữ je, Tây Ban Nha ngữ yo.

Ngoài ra ta cũng thấy Nga ngữ (chi Slavic ngữ) ja (tôi) cũng biến âm với ta.

.Ai

Việt ngữ có một từ nhân sinh đại danh từ ngôi thứ nhất số ít tương đối cổ hiện còn dùng ở một vài nơi ở miền Bắc là từ ai.

Việt ngữ ai là tôi, ta, tớ.

Tôi nói ai là từ tương đối cổ vì trong ngôn ngữ thông dụng, từ ai ít còn được dùng nữa. Từ ai hầu như chỉ còn thấy dùng ở vùng quê hay trong ca dao tục ngữ. Ví dụ như câu nói: Ai đây đâu có cần có nghĩa là Tôi đây đâu có cần. Ta thấy rất rõ từ ai cũng đi đôi với từ đây giống như tôi đây, ta đây. Ai đây là tiếng đôi điệp nghĩa: ai = đây. Thật vậy theo đ câm như đấy = ấy, ta có đây = ây = ai.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng đã nhận ra ai có nghĩa là tôi. Ông đưa ra một biểu đối chiếu:

Sơ Đăng: A = tôi.

Nam Dương: A Ku = tôi.

Nhật Bổn: (Wat) A Ku (shi): tôi.

Thượng Cổ Việt: Ai = tôi.

Khả Lá Vàng: Ai = tôi.

Lào: Anh = tôi.

Mạ: Any = tôi.

(Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Việt Ngữ, tr.24).

So sánh với Anh ngữ I, (tôi) phát âm là /ai/, ta thấy cổ ngữ Việt ai chính là Anh ngữ I. I = /ai/ = ai.

Kiểm chứng với qui luật biến âm ai = i như cái gì = kí gì, ta có Ai = I. Việt ngữ ai, Anh ngữ I liên hệ với Đức ngữ ich, tôi.

Thâm cứu thêm ta cũng thấy nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít của Ấn-Âu ngữ cũng có nghĩa là đây. Ta thấy Đức ngữ ich, tôi, biến âm với Pháp ngữ ici, đây. Anh ngữ here, đây, phát âm là /hia/. Với h câm ta có hia= ia = Ý ngữ io, tôi, ruột thịt với ia, here. Trong Việt ngữ có biến âm ia = ai như phía = phái, vía = vái, mỉa = mai, vậy here (hia), ere, /ia/ = ai. Như thế Anh ngữ I cũng hàm nghĩa here, đây, y chang như Việt ngữ ai, ây, đây, tây, tôi… (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít trong Việt ngữ như tôi, tui, tao, tau, ta, tớ. . . phát gốc từ tiếng cổ đây. Từ cổ ai là dạng biến âm của đây và từ cổ min là thân mình, chỉ vào thân thể mình khi nói cũng hàm nghĩa đây. Những nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít trong Việt ngữ mang nghĩa đây cũng giống như trong các ngôn ngữ khác nhất là Ấn-Âu ngữ cũng mang ý nghĩa đây.

Tóm lại nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít của Việt ngữ ở dạng:

-Việt ngữ cổ

min, mỗ ruột thịt với PIE *mi-/ *mo-, *IE mi-/m.

-Việt ngữ kim :

. đây

khá cổ, từ này đẻ ra các từ hiện kim đang thường dùng và cho biết rõ nghĩa của các từ nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít: tôi, ta, tớ, tao, tau, tui.

Đây là các từ hiện kim ruột thịt với các từ Pháp ngữ je, Tây Ban Nha ngữ yo do từ đây đẻ ra,

.ai

hiện nay ít dùng. Đây là thể giản lược của đây. Đặc biệ từ ai này chính là âm /ai/ của Anh ngữ I.

Như thế qua từ số 1 trong danh sách 100 từ căn bản căn bằng bền ta thấy Việt và Ấn Âu ngữ nói chung và Anh ngữ nói riêng có liên hệ mật thiết với nhau kể cả từ cổ cho tới từ hiện kim.

Điểm đặc biệt và quí giá nhất là qua từ Việt ngữ đây, ai ta biết rõ được ý nghĩa của các từ nhân x ưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít của Ấn-Âu ngữ là gì.

2. Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít you.

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

.IE *tu, *t(e)w, *t- thou, thee.

.Anh ngữ thou, you, Pháp ngữ tu, toi.

.Sementic (Sem.)-Hamitic (Ham.)

.Sem. tiền tố động từ ngôi thứ hai: t-; Ả Rập: anta (thou); Hebrew attà (thou).

.Cushitic: Sidamo: ate, ati (thou), Somali: ădi, Saho: atu, Ai Cập: tw (t gạch đít), tw (giống đực), tn (t gạch đít),tn (giống cái).

.Uralic: *tyna, *tind (thou).

.Phần Lan: sina (a có hai chấm) (thou) (si-< *ti), .Morvinian: ton, Hung Gia Lợi: te.

.Altaic:

-Mông cổ: ci(n-) < *tin (thou), ta(n) (you).

-Chukchee-Kamchatkan: Đông Kamchadal (phương ngữ sông Kamchatka) tue (thou); Tây Kamvchadal: tuzanù (you), Chukchee: turi (you); Koryak:

Tuu (u thứ nhì có hai chấm ở trên) (you).

Việt ngữ

.Cổ ngữ Việt

Ngoài những nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít hiện kim như: anh, chị, em, ông, bà, mày, mi, từ cổ nhất của nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít là đó, đấy, đằng ấy… còn thấy nhiều trong cổ văn, ca dao tục ngữ, như trên đã thấy qua câu ca dao:

Cho đây với đó nên đôi vợ chồng.

Từ cổ đó đi cặp với từ đây là tôi.

Điều cần lưu tâm là từ đó dùng như một danh xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít chỉ dùng trong cách xưng hô trực tiếp, người đó phải hiện hữu trước mặt, đang đối thoại với người đây. Cần phân biệt từ “đó” chỉ người đó” tức người thứ ba như người đó đã đi rồi.

Ta có thể suy ra ngay là từ đây, tôi đã liên hệ với các tiếng ngoại ngữ nhất là Ấn-Âu ngữ thì từ đó, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít cũng phải liên hệ như thế. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc.

Thật vậy Anh ngữ that (đó, đấy) có một nghĩa là you (Swadesh, The Origin and Diversification of the Language, 1971, tr.141). Theo biến âm đ = t = th như đùng đùng = tùng tùng = thùng thùng (trống đánh), ta có đó = thó. Rõ như ban ngày đó = thó liên hệ với thou, với you. Đó, đấy = that = thou = you.

Ta cũng thấy Việt ngữ đó = tó liên hệ với Pháp ngữ tu, toi; với Latin tu, te, vos; với Phạn ngữ tva, tu, yuva, yu, yushma; với gốc Ấn-Âu ngữ *tu, *t(e)u, *t có nghĩa là thou, thee

.Mường ngữ

Người Mường được coi như là người cổ Việt ở vùng đất cao, núi.

Nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít Mường ngữ da (mày, anh, chi, em…): da ti no? là mày đi đâu? (Nguyễn Văn Khang, Từ Điển Mường Việt) ruột thịt với Anh ngữ you: da = you.

3. We (chúng tôi, chúng ta).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Trong ngôn ngữ Việt hiện kim, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều chúng tôi được dùng cùng một chữ tôi của nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất rồi kèm theo một chỉ định từ chỉ cho biết có nhiều người, đám đông, tập thể như chúng (chúng tôi, chúng ta, chúng bay, chúng nó) (chúng chỉ chung về con người, tập thể như quần chúng, đại chúng, chúng sinh), bọn (bọn tôi, bọn nó, bọn bay), đám (đám tôi, đám bay, đám nó)… Điểm này có nghĩa là trong cổ ngữ Việt nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít và số nhiều có thể đã dùng chung như nhau, chỉ khi nói đổi âm giọng đi để phân biệt giống như Anh ngữ you hiện nay (anh, các anh, bọn bay, chúng bay…). Một ví dụ soi sáng nhất là từ ta (tôi, chúng ta): nước ta có nghĩa là nước của chúng ta (our nation) khác với nước tôi (my nation). Ta vừa có nghĩa số nhiều và số ít. Ta dùng như số ít như ta không biết. Ta dùng với nghĩa số ít thường dùng bởi các người quyền thế, có tước vị cao như vua quan với ý nghĩa họ là đại diện cho đám đông, tập thể, quần chúng.

Việt ngữ ta, nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều hay số ít đều liên hệ ruột thịt với đây, này, nà, nì, nè… (here, this) và do đó với PIE *ne-/*no-/*n-s- (n có chấm dưới), với Phạn ngữ nau (số nhiều), nas (us); Latin nos (we, us), Pháp ngữ nous, notre…

Như thế Việt ngữ cổ ta dùng với nghĩa số nhiều liên hệ mật thiết với nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số nhiều của Ấn Âu ngữ.

Ta cho biết rõ nghĩa và sự tiến hóa từ cùng gốc với nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít. Ta biến âm của đây, này, nè…

4. This (đây, này, nè, nì, ni…)

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác

Anh ngữ this, these (đây, này, nè, nì, ni…) theo th=d=n liên hệ với, PIE *ne-/*no (root indicating demonstrative stem), Phạn ngữ ana- (this), ná (like, as)…

Việt ngữ

đây này, nè, nì, ni… ruột thịt với PIE * ne-/*no-, Skt ana-. Theo th=d=n, ni, nì, này, nầy, nè, liên hệ với this, these.

Đây là một trong mười lăm từ được cho là quân bằng nhất dùng để so sánh xem hai ngôn ngữ có liên hệ với nhau không.

5. That (đấy, đó, nấy, nớ, nọ, kia, kìa)

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

Anh ngữ that (là đấy, đó, nấy, nớ, nọ, kia, kìa) liên hệ với PIE *t[h]o, demonstrative pronoun stem, Lithuanian tàs (this, that)…OHG dass (that), Phạn ngữ tád (this, that), Hy Lạp ngữ tó (this, that), Latin ole, olus (that), IE * al-, *ol- (Pokorny, 1959:24-26), demonstrative pronoun stem.

1. đấy, đó, /dát/ = đấy liên hệ với

.ấy, ý, với đ câm đấy = ấy và với â câm ấy = ý và đó = ó, liên hệ với

2. nớ, nấy, nọ, theo th=d=n, that = nấy, nớ.

3. kia, kìa, Hy Lạp ngữ *ke như trong keivos (that), PIE *k[h]e-/k[h]i- (h nhỏ cao) liên hệ với Việt ngữ kia, kìa. Cũng nên biết từ that và this là biến âm của nhau giống như Việt ngữ đấy và đây nên trong Ấn-Âu ngữ đôi khi một từ có cả hai nghĩa đây-đấy (các ngôn ngữ này không có dấu để phân biệt âm như Việt ngữ, cùng một chữ phát âm khác đi sẽ có nghĩa là this hay that) ví dụ như Skt tad, ‘this, that’, Gr. tó, ‘this that’, Lithuanian tàs, ‘this, that’… Điểm này giải thích tại sao Việt ngữ kia, kìa (đấy) liên hệ với Anh ngữ here (đây). Theo k=c=h (kết = hết), kia, kìa = /hia/ phát âm của here. Và với h câm here = ere =/ia/ = ai = ây = đây (xem I) (và cũng = đấy)

that, đấy, đó, đằng ấy với nghĩa là anh, chị, em, mày (nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít)

that (đó, đấy) là “you” (Swadesh, The Origin and Diversification of the Language, 1971, tr.141). Theo biến âm đ = t = th như đùng đùng = tùng tùng = thùng thùng (trống đánh), ta có đó = thó liên hệ với “thou”, với “you”. Việt ngữ đó = tó liên hệ với Pháp ngữ “tu”, “toi”; với Latin “tu”, “te”, “vos”; với Phạn ngữ “tva”, “tu”, “yuva”, “yu”, “yushma”; với gốc Ấn-Âu ngữ *tu, *t(e)u, *t có nghĩa là “thou”, “thee”. . . Từ cổ nhân xưng đại danh từ ngôi thứ hai số ít là đó, đấy, đằng ấy… còn thấy nhiều trong cổ văn, ca dao tục ngữ, như trên đã thấy qua câu ca dao:

Cho đây với đó nên đôi vợ chồng

6. Who (ai, người nào, kẻ nào).

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

.Nostratic: *k’o (who).

.IE *kwi- *kwo, *k-wà (w viết nhỏ và cao); *mo-, nhành nghi vấn và tượng đối đại danh từ (stem of interrogative ang relative pronouns): Phạn ngữ ká-h, kà (who), Anh ngữ who, what, Pháp ngử qui, que.

.Uralic: *ku (who) (Phần lan ngữ kuka), *ke, *ki (who) (Phần Lan ngữ ken, Mordvinian kue, Hung Gia Lợi ki…).

,Altaic: Mông cồ: ken (who), Tungusic (Đông quốc): Goldi: haj (who), Chukchee-Kamchatkan: Tây Kamchadal k’e (who), Nam Kamchadal: kac (c có dấu ă) (who), Đông Kamchadal: ket (who)…

Việt ngữ

-Việt ngữ cổ

Cà, kia, kìa, kẻ.

Ai thường đi đôi với , kia, kìa như ai cà, ai kìa, ai kia. Ai cà, ai kia, ai kìa coi như là những từ đôi, từ kép điệp nghĩa, ta có , kìa, kia = ai.

.Cà chính là Phạn ngữ k-.

.Kia, kìa cà chính là Phạn ngữ k…, k-, IE: *k w i- *kwo-, *kw-… (w nhỏ và cao), Nostratic *k’o = ‘who’.

Rõ ràng k-, k’o = cà, kia, kìa.

.Việt ngữ kẻ (people) cũng có nghĩa là ai, ví dụ kẻ nào đó = ai đó. Ta cũng thấy rất rõ kẻ liên hệ với Anh ngữ who, Skt k -h, k… (who), Pháp ngữ qui, Latin quo…

Tóm lại ai, ai cà, ai kia, ai kìa có ai = cà, kia, kìa và kẻ liên hệ với Skt k -h, k…, Pháp ngữ qui, que… IE: *k wi- *kwo-, *kw-…, nghi vấn và liên quan đại danh từ (the stem of interrogative and relative pronouns). Rõ hơn ai liên hệ với Proto-Nostratic *?ay-, với PIE *?yo- (question mark without dot) (relative pronoun stem, interrogative and relative pronouns).

-Việt ngữ hiện kim ai.

Như đã biết, theo biến âm ai = ia như phái = phía, vái = vía (Mường ngữ wại = vía), mai = mỉa, ta có ai = ia. Như thế như đã nói ở trên, ai = ia = kia, kìa. Điều này cho thấy ai là dạng biến âm của kia, kìa, cà và ta có sự liên hệ với Ấn Âu ngữ và các đại tộc khác như trên.

Cùng với what, đây là từ được coi là nằm trong nhóm 15 từ căn bản ổn định nhất để so sánh sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ.

7. What (gì, cái gì, gì vậy, kí gì, chi, chi vậy)

Cần phân biệt

-what là danh từ như what có nghĩa là vật, cái, chuyện: what I like…, cái mà tôi thích, vật mà tôi thích…; với h câm, wat = vật.

What có nghĩa là mấy? what’s time is it? Mấy giờ rồi? Theo w=m, what = mấy.

như what has happened, chuyện gì xẩy ra thế?

what (nghi vấn và tương đối đại danh từ) (interrogative and relative pronoun stem) có nghĩa là gì, cái gì, gì vậy, kí gì, chi, chi vậy?

theo w=v, what = vật (h câm), theo w=v=q=c, wha- = cái (gì),

Ấn-Âu ngữ và các đại tộc khác.

. Nostratic: * mi (what)

.Latin quid, Tây Ban Nha ngữ qué, Bồ Đào Nha ngữ quê, IE *kw[h]i-/*kw/he/-.

Theo biến âm qu = v = w như quấn = vấn, quid, qué, quê = wha-, what.

Việt ngữ.

-gì?, cái gì?, gì vậy?, kí gì?, chi?, chi vậy?, chi rứa?…

Ta thấy theo g=k=c=ch, gì = kí, chi.

Ta thấy gì, kí, chi liên hệ với IE *kw[h]i-/*kw/he/-. Latin quid, Tây Ban Nha qué, Bồ quê, Pháp quoi…

-mô

.Việt ngữ mô cũng có nghĩa là what như mô rứa, chẳng biết cái mô cả. Mô liên hệ với Nostratic * mi (what), IE: *mo-/*me- (what),

Đây là một trong mười lăm từ được cho là quân bằng nhất dùng để so sánh xem hai ngôn ngữ có liên hệ với nhau không.

8. No/Not (không)

no/not là ngôn từ phủ định và ngăn cấm (verbal negator and prohibitive).

a.Loại N

Ấn Âu ngữ và các đại tộc khác.

.Anh ngữ no, not, none, nor, nothing, nay, nil, neither; Pháp ngữ non, ne (pas); với Đức ngữ nein; Ý ngữ no,i Bồ ngữ não, Tây Ban Nha, Mễ ngữ nada; Phạn ngữ na, ná, nà; gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *ne, *n, PIE *ne, *n-, *ney.

.Ham-Sem.: Ai Cập n.

.Utralic: Hung Gia Lợi: nem (not) và ne (phủ định, neg.).

.Sumer: phủ định nu, ngăn cấm nu và na.

. Việt ngữ.

-no, nọ, nỏ, nõ, nào (phủ định: nào biết), nà, này (ngăn cấm: này, này này), đừng, đâu (đâu được)…

.no

No có nghĩa là không.

Mường ngữ no là không.

No chính là Anh ngữ no (không).

.nọ

Nọ có nghĩa là không, chẳng:

Đưa anh ra tới làng Hồ,

Em mua trái mít, em vồ trái thơm.

Anh về em nọ dám đưa.

Hai hàng châu lệ như mưa tháng mười.

(ca dao)

Và trong Nhị Độ Mai có câu

Nọ người khoác nách, nọ người vỗ tay.

(câu 1696).

Theo qui luật nam hóa dương hóa n = l, nọ = lọ. Từ lọ cũng mang nghĩa phủ định.

Lọ là thét mắng cặp rèn,

Một lời xía cạnh, bằng ngàn roi song.

Nọ, lọ biến âm với no liên hệ với Anh ngữ no.

.nỏ

Nỏ có nghĩa là không.

Từ phủ định nỏ có nghĩa là không còn dùng nhiều ở vùng phía bắc Miền Trung như Thanh Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị.

Thân em mười sáu tuổi đầu,

Cha mẹ ép gả làm dâu nhà người,

Nói ra sợ chị em cười,

Năm ba chuyện thảm, chín mười chuyện cay

. . . . . .

Đêm nằm lưng nỏ bén giường,

Mụ gia đã xốc vô buồng kéo ra,

Bảo lo con lợn, con gà,

Lo xay cối lúa, quét nhà, nấu cơm.

Ốm đau thì mụ nỏ thương.

Mụ hành, mụ hạ đủ đường khốn thay…

Hoặc

Tình đó với nghĩa đây,

Giống như đọi nác đầy,

Bưng nhân nhẩn trên tay.

Không khuy sơ một hột,

Gió nỏ triềng một hột…

(Hát Giặm Nghệ Tĩnh)

(Gió nỏ triềng một hột là Gió không tràn một hột)

N ỏ biến âm với no liên hệ với Anh ngữ no.

.nõ

Nõ có nghĩa là không, không màng: nõ cần, nõ lo, nõ thèm (Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chính Tả Tự Vị).

Nõ biến âm với no liên hệ với Anh ngữ no.

.nả.

Theo biến âm o = a như hột = hạt, ta có nỏ = nả. Nả cũng có nghĩa là không. Trong từ Điển Việt Bồ La của Alxandre de Rhodes có từ nả là không: Có việc gì nả? Anh có việc gì không?

Nả ruột thịt với, Phạn ngữ na, ná, nà, Tây Ban Nha ngữ nada, không.

.nào

Nào có nghĩa là không như nào ai biết = không ai biết. Nào ruột thịt với Bồ ngữ não. Theo o = ao như vô = vào, ta có nào = no, nỏ, nõ, nọ…

Những từ nỏ, nõ, nọ, lọ, nả, nào… ruột thịt với Anh ngữ no, not, none, nor, nothing, nay, nil , neither; với Pháp ngữ non, ne (pas); với Đức ngữ nein; với Ý ngữ no, với Bồ ngữ não, Tây Ban Nha, Mễ ngữ nada ; với Phạn ngữ na, ná, nà; với gốc tái tạo Ấn Âu ngữ *ne, *n, PIE *ne, *n-, *ney.

.

ỏ là không.

Với n câm, ta có nỏ = ỏ. Ỏ cũng có nghĩa là không. Theo Lê Ngọc Trụ trong Việt Ngữ Chính TảTự Vị ỏ là tiếng nôm có nghĩa là chẳng cần: ỏ bào, ỏ vào… Ỏ là tiếng xưa, ít dùng.

Ỏ hiển nhiên biến âm với o, có một diện là số không, không có gì cả. O là không.

Tóm t ắt l ại, ta thấy từ no, nỏ, nõ, nọ, lọ, nả, nào, ỏ… là một từ phủ định rất cổ của Việt ngữ, liên hệ ruột thịt với những từ phủ định no/not… của Ấn-Âu ngữ vừa nêu trên.

Đây là từ được coi là nằm trong nhóm 15 từ căn bản ổn định nhất để so sánh sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ.

9. All (tất, tuốt cả).

Ấn-Âu ngữ

Pháp ngữ tout, tous, Tây Ban Nha ngữ todo, todos, Rumania: tot… (all).

Việt ngữ

Việt ngữ tuốt, tất như ăn tuốt, ăn tất liên hệ với các từ Ấn Âu ngữ ở trên.

10. Many (nhiều, man, cơ man, mắn, mấy, muôn, muồi, mứa, bẫm…)

Ấn Âu ngữ

Anh ngữ many, Tây Ban Nha ngữ muy, mucho, gốc Phạn ngữ par hay pal (to fill, làm cho đầy)…, IE *-mè, *mò-, (more, abundant, considerable).

Việt ngữ

a- Với nghĩa là nhiều, số nhiều, vô số.

1. mắn

như mắn đẻ = đẻ nhiều, liên hệ với Anh ngữ many.

2. man

như không biết cơ man nào mà kể, liên hệ vối Anh ngữ many.

Màn biến âm với man cùng nghĩa với man, muôn (xem dưới). Màn biến âm của Hán Việt vạn.

3. muôn

muôn cũng hàm ý nhiều như muôn điều ước muốn.

Muôn là biến âm của man, màn, vạn, vàn như muôn vạn, muôn vàn. Màn, vạn, vàn có nghĩ là mười ngàn. Như thế muôn cũng có nghĩa là mười ngàn và được dùng với nghĩa nhiều vô số kể, trở thành muôn ức. Hán Việt mãn, nhiều như sung mãn.

Muôn, màn, vạn, vàn, mãn liên hệ với Anh ngữ many, gốc Phạn ngữ par hay pal, to fill (làm cho đầy). Theo p=m, par, pal = man, màn.

4. muồi (nhiều)

phương ngữ Huế muồi là nhiều.

Muồi ruột thịt với Tây Ban Nha ngữ muy.

5. mứa

nhiều như như thừa mứa.

Mứa liên hệ với Tây Ban Nha ngữ muy, mucho, nhiều. Với m=p, cũng liên hệ  với Skt pur-, púrna, filling, (có pur = mur = mứa).

6. bẫm

có một nghĩa là nhiều như thằng đó đánh bài ăn bẫm.

Theo b = m, bẫm = man, màn, bẫm liên hệ với may.

2. Với nghĩa là nhiêu.

Việt ngữ nhiêu là biến âm của nhiều. Bao nhiêu là bao nhiều. Bao nhiêu cùng nghĩa với how many (bao nhiều).

T óm lại Anh ngữ many, Tây Ban Nha ngữ muy, mucho, gốc Phạn ngữ par hay pal (to fill, làm cho đầy)…, IE *-mè, *mò-, (more, abundant, considerable) liên hệ ruột thịt với Việt ngữ nhiều, man (cơ man), mắn, mấy, muôn, muồi, mứa, bẫm…

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: