ẤN ĐỘ: BẮC ẤN ĐỘ 1

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

BẮC ẤN ĐỘ

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Ấn Độ là một quốc gia rộng lớn vào hàng thứ 7 trên thế giới và đông dân, có dân số 1.2 tỉ người với đa ngôn ngữ, đa văn hóa. Ấn Độ là nơi khai sinh của nền Văn Minh Thung Lũng Indus, là cái nôi của bốn tôn giáo lớn là Ấn giáo, Phật giáo, Jain giáo và Sikh giáo. Ngoài ra còn có các tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào như Hồi giáo, Thiên chúa giáo. Chỉ riêng Ấn giáo thôi đã có tới ba trăm ba mươi triệu vị thần!

Ấn Độ bị cai trị trực tiếp bởi Anh quốc vào giữa thế kỷ 19 và dành lại độc lập vào năm 1947 do phong trào bất bạo động lãnh đạo bởi Mahatma Gandhi.

Tên India phát gốc từ Indus có gốc từ Cổ ngữ Ba Tư Hindus, Phạn ngữ Sindhu là tên gọi con sông Indus. Từ Ba Tư ngữ Hindustan trước 1947 gọi chung vùng Bắc Ấn và Pakistan do chữ Hindus và (Pakis)tan lồng vào nhau.

Con người tân thời đến Nam Á khoảng 73-55.000 năm trước, các hài cốt ngưòi sớm nhất tìm thấy vào khoảng 30.000 năm. Vào khoảng 7.000 Trước Tây Lịch (TTL) những dấu tích định cư Tân Thạch đầu tiên tìm thấy ở Mehrgarh và các địa điểm khác ở Pakistan. Các dân cư này dần dà phát triển thành nền Văn Minh Thung Lũng Indus, một nền văn hóa phố thị đầu tiên ở Nam Á, nở rộ ở các tỉnh Mohenjo-daro, Harappa, Dholavira và Kalibangan.

Kinh Vedas, cổ nhất của Ấn giáo được làm ra vào khoảng 2000-500 TTL. Trong giai đoạn này cũng có nhiều đợt di dân Ấn-Aryan tới. Ở Nam Ấn vào lúc này con người đã sống định cư với nhiều đền đài cự thạch cũng như nông nghiệp đã có dẫn thủy nhập điền…

Quốc Biểu

Biểu hiệu quốc gia của Ấn Độ lấy từ hình sư tử ở đầu cây Trụ Ashoka ở Sarnath ở Varanasi, Uttar Pradesh, hiện được lưu trữ tại viện Bảo Tàng Sarnath.

.

clip_image001

Quốc biểu của Ấn Độ.

Đầu cây trụ Ashoka ở Sarnath có bốn con sư tử đứng dựa lưng vào nhau biểu tượng cho sức mạnh, can đảm, tự hào và tự tin. Sư tử đứng trên chỏm cột vành tròn.

clip_image002

Bốn sư tử đứng trên chỏm trụ Ashoka ở Sarnath (Wikipedia).

Vành chỏm cột có chạm nổi bốn con thú: voi (đông), ngựa (Tây), bò mộng (Nam) và sư tử (Bắc). Xen kẽ với thú là hình bánh xe pháp luân. Dưới là phần bầu hình hoa sen nở rộ biểu tượng cho nguồn sống và hứng khởi sáng tạo.

Trên cùng thường có bánh Xe Pháp Luân (Dharma Chakra) (xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và The Lost Symbol). Cây trụ tháp ở Sarnath này không có Pháp Luân nên quốc biểu không có hình bánh xe. Tuy nhiên biểu tượng của Tối Cao Pháp Viện Ấn vẫn còn giữ lại bánh xe lại.

· clip_image004

Biểu hiệu của Tối Cao Pháp Viện Ấn Độ có hình Bánh Xe Pháp Luân ở trên đầu sư tử (Wikipedia).

Vua Ashoka và vợ cho dựng cây tháp trụ này tại nơi Phật Tổ Gautama thuyết pháp đầu tiên ở Lộc Uyển (Vườn Hươu) cho năm vị tỳ kheo và là nơi đoàn tăng già thành lập. Đây là nơi khai sinh của Phật giáo.

Hình bánh xe Ashoka được đặt vào giữa lá cờ Ấn Độ.

Cờ Ấn Độ.

clip_image006

Cờ có ba mầu: phần trên mầu nghệ (Kerasi), ở dưới là mầu xanh lá cây và ở giữa mầu trắng có Bánh Xe Ashoka mầu xanh dương có 24 căm xe.

Mầu nghệ biểu hiện cho can đảm và hy sinh; mầu trắng cho sự thật, hòa bình và trong sạch; mầu xanh lá cây cho thịnh vượng và bánh Xe Ashoka cho Luật Pháp Law of Dharma (chính trực).

Điểm lý thú là Ấn giáo là tôn giáo chính của Ấn Độ vậy mà quốc biểu và cờ Ấn Độ lấy từ biểu hiệu của trụ Ashoka có Pháp Luân, biểu tượng của Phật giáo (mà Phật giáo ngày nay rất thứ yếu ở Ấn Độ). Ngay cả mầu vàng nghệ là mầu quốc biểu nằm ở phía trên lá cờ Ấn Độ cũng là mầu vàng nghệ của chiếc áo cà sa của các tu sĩ Phật giáo. Đáng lẽ theo Ấn giáo, quốc biểu phải là hình tượng nõ-nường linga-yoni. Có lẽ các nhà lãnh đạo Ấn Độ ‘tân tiến’ sợ thế giới cười chê cho là tục tĩu chăng? Một lần một lãnh tụ Tây phương cười nói với Mahatma Gandhi rằng nước ông tục tĩu quá. Gandhi trả lời đại để là cám ơn ngài, nhờ ngài nói bây giờ tôi mới biết là nó tục tĩu!

Vì là một quốc gia rộng lớn, ta phải chia ra đi thăm từng vùng một. Mỗi vùng có một sắc thái văn hóa riêng.

Lần này chúng tôi đi thăm vùng Bắc Ấn.

Vùng Bắc Ấn có khu tam giác vàng du lịch nổi tiếng là Delhi-Jaipur-Agra.

clip_image007

Tam giác vàng Ấn Độ (nguồn goldentriangle-India.net).

Ngoài tam giác vàng ra, chúng tôi viếng thăm thêm các vùng lân cận khác như Varanasi, Vườn Lộc Uyển, Đền Tình Thuật Khajuraho… sau cùng bay qua Nepal.

Bắc Ấn có nền văn hóa Ấn pha trộn với văn hóa Hồi giáo thường gọi là Moghul hay Mughal. Từ này do từ Mongol (Mông Cổ) đẻ ra. Đại đế Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) của Mông Cổng đông tiến chiếm cả vùng Trung Á , Tiểu Á và tới tận Âu châu. Các quốc gia Hồi bị ảnh hưởng Mông Cổ trở thành một thứ Hồi Mông cổ gọi là Moghul như Thổ Nhĩ Kỳ, Afghanistan chẳng hạn.

Trước tiên chúng tôi đến cửa ngõ của Ấn Độ là Thủ Đô Delhi (Đề-Li).

Chúng tôi dùng hãng Hàng Không Ấn Độ Air India.

Một chuyến bay dài nhưng may mắn đến độ không ngờ là còn rất nhiều ghế bỏ trống. Chúng tôi thường mỗi người lấy một chỗ ở hai bên lối đi vì là chuyến bay đường dài cho tiện đứng lên ngồi xuống, đi lại để tránh bị chứng sưng dón máu cục tĩnh mạch sâu. Cả hai bên chúng tôi đều là ghế trống.

Tất cả xung quanh một mầu vàng khè. Giống như người bị chứng hoàng thị (xanthopia) nhìn đâu cũng một mầu vàng. Họa sĩ Van Gogh nghiện rượu bị ngộ độc rượu ngải bị chứng hoàng thị này nên tranh của ông lúc đó vẽ toàn một mầu vàng nghệ. Cũng xin nói một chút về chữ nghĩa của từ đôi vàng khè. Theo các nhà ngôn ngữ học có bằng cấp cao Việt Nam hiện nay thì khè vô nghĩa. Theo tôi thì thành tố đôi và thành tố láy như từ khè ở đây đều có cùng nghĩa với từ chính. Khè biến âm với , loại mễ cốc hột vàng (giấc mộng kê vàng Nam Kha); với Myanmar ngữ shwe (kim loại vàng, gold) như đền Vàng Shwedagon ở thủ đô Myanmar và với Ấn ngữ kerasi, mầu vàng nghệ. Theo biến âm kh = k = ngh (khịt mũi = kịt mũi = nghẹt mũi), ta có khè = kê = kerasi = nghệ.

Như đã biết mầu vàng nghệ kesari là mầu ở phần trên lá cờ Ấn Độ. Mầu vàng nghệ là mầu biểu của Ấn Độ.

Ghế mầu vàng nghệ. Các tiếp viên khăn áo cũng mầu vàng nghệ. Hành khách nhiều bà, nhiều ông quấn khăn, váy sà rông, sà ri mầu vàng nghệ. Một vài tu sĩ cũng khăn áo vàng nghệ. Trong phòng vệ sinh cũng có cáu bẩn mầu vàng nghệ. Rồi tới bữa ăn dĩ nhiên phải có món cà ri mầu vàng nghệ và các món khác cũng có gia vị masala mầu vàng nghệ…

Chuyến bay rộng rãi nên khá thoải mái. Chỉ có một điểm đáng nói và đáng nhớ là vì có chỗng trống ở bên cạnh, một bà mẹ Ấn Độ lười không vào phòng tắm, ngồi thay tã cho con tại chỗ. Trông bà mệt mỏi. Hai mắt vàng khè, quầng đen. Có lẽ trước khi về quê bà đã thức nhiều đêm thu xếp mọi chuyện hay đã phải đổi nhiều chuyến bay rồi. Thông cảm. Chúng tôi lấy dầu cù là bôi vào mũi.

Tôi cố dỗ một giấc ngủ không có… mộng kê vàng Nam Kha (Giấc Nam Kha khéo bất bình, Bừng con mắt dậy thấy mình tay không, Ôn Như Hầu, Cung Oán Ngâm Khúc)!

Đến phi trường Delhi, đi qua thủ tục nhập cảnh thật là kinh hoàng. Hàng chờ kiểm tra nhập cảnh ngoằn ngoèo cả ngàn người xếp hàng. Đứng chờ trong hàng gần hai tiếng đồng hồ. Nóng vã mồ hôi. Mồ hôi dân dã Ấn cũng có mầu vàng cà ri. Hình như không có máy lạnh hay máy lạnh không khống chế được hơi người. Trong khi chờ đợi, bực bội, tức anh ách bước vào phòng vệ sinh giải tỏa, tìm một chút thoải mái. Bước qua cửa. Bồn tiểu kiểu dân gian Ấn Độ nhuộm mầu cà ri vàng khè, nồng nặc mùi khai. Người gác cửa một tay cầm một lon nước, một tay cầm mớ giấy vệ sinh cũng vàng khè mầu gia vị masala. Người dùng có quyền chọn lựa. Nếu lấy lon nước thì phải cho tiền trà nước (tiền tip), có ít một chút cũng không sao, còn nếu cầm xấp giấy thì bắt buộc phải trả tiền mua giấy. Anh ta bán giấy chứ không cho giấy. Bán thì có giá của nó. Chịu không nổi, không thể bước thêm vào trong nữa, phải dội ra ngay (Những Nhà Vệ Sinh Tôi Đã Đi Qua).

Cuối cùng chúng tôi về tới khách sạn tại một khu mới của người Anh thực dân lúc trước ở Tân Đề Li, vào được ‘ngôi đền giải thoát’.

clip_image009

Lưu ý vòng hoa vạn thọ mầu vàng nghệ, mầu biểu của Ấn Độ.

Bị bê trễ ở phi trường khiến chúng tôi không còn thì giờ đi thăm bảo tàng viện về Nền Văn Minh Thung Lũng Indus như đã dự tính. Thật là tiếc.

Delhi là linh hồn của Ấn Độ và vốn đã có một nền văn minh nở rộ từ 3.000 năm nay.

Ngày nay thủ đô Delhi còn gọi là New Delhi (Tân Đề Li) có ẩn ý phân biệt với các Delhi cũ trong quá khứ.

Muốn hiểu rõ những những đền đài, cổ thành và danh lam thắng cảnh của Delhi, ta phải đi theo dòng lịch sử của Delhi, nó gắn liền với lịch sử vùng Bắc Ấn. Dân số Delhi hiện nay hơn 15 triệu người gồm đủ mọi giai cấp, tầng lớp và tôn giáo. Vì thế văn hóa rất đa dạng, khác biệt tới cùng cực. Delhi cổ và tân có tới 1.300 đền đài phản ánh nhiều giai đoạn kiến trúc Ấn-Hồi.

Theo truyền thuyết, thủy tổ của Delhi có thể là thành Indraprastha do Pandavas đã xây dựng từ thời đã ghi trong hùng sử thi Mahabharata, 1.500 Trước Tây Lịch trên một ngọn đồi lớn bên dòng sông Yamuna, ngày nay cho là ở một chỗ gần Cổ Thành (Old Fort).

Không biết rõ nguồn gốc tên Delhi, nhưng đa số học giả chấp nhận là có một thành phố tên là Dilli do vua Raja Dhillu xứ Kanauj xây vào năm 57 TTL. Dilli được tin là nằm giữa vùng Qutab và Tughlaqabad hiện nay.

Tuy nhiên, lịch sử Delhi cận đại thấy rõ chia ra làm 9 thời kỳ.

.Delhi thứ nhất.

Thường được cho là khởi sự từ khi Tomara tộc Rajput thành lập Lal Kot năm 736 STL. Năm 1180, Chauhans, một tộc thù nghịch trong đại tộc Rajput lật đổ Tomaras và đổi tên là thành Quila Rai Pithora, đây là thành Delhi thứ nhất.

Ngày nay chỉ còn lại phế tích những thành phòng ngự và vài kiến trúc đổ nát ở Surajkund và đập Aanagpur.

Năm 1191 Muhammad Ghori từ Afghanistan qua tiêu diệt Rajputs. Sau khi thống trị được Delhi, Ghori trở về Afghanistan để lại viên thống soái Qutb-ud-din-Aibak. Khi Ghori chết năm 1206, không có con nối dõi, Aibak tự xưng là Tiểu Vương Delhi.

Là một tín đồ Hồi giáo cuồng tín, Aibak phá hủy hết các đền thờ Ấn giáo, Jain giáo để lấy vật liệu khởi sự xây hai ngôi đền Hồi giáo, một vẫn còn tồn tại ngày nay ở Delhi, đó là đền Quwwat-ul-Islam có nghĩa Siêu Việt của Hồi giáo (Might of Islam) ở khu Qutab. Đây là ngôi đền Hồi giáo đầu tiên ở Bắc Ấn.

Như đã biết, theo chính thống các đền Hồi giáo chỉ được trang trí bằng hoa lá cành, hoa văn hình học và chữ Ả Rập lấy từ trong kinh Quran, chữ được coi là chữ của thượng đế.

clip_image011

Trang trí đặc thù của Hồi giáo ở mặt trong một cửa đền (ảnh của tác giả).

Lưu ý cổng Hồi giáo hình vòm mũi nhọn là hình cắt dọc của vòm hình ‘củ hành tây’ đền Hồi giáo trong khi cổng Ấn giáo hình đuôi công (chim công là chim biểu ngành nọc dương của Ấn giáo, chim công được dùng làm quốc điểu của Ấn Độ hiện nay).

Vì các vật liệu lấy từ các đền Ấn giáo và Jain, Phật giáo bị phá hủy có các hình tượng người, chim thú khi đem xây phải đục bỏ đi hay trát lên một lớp vữa hoặc thạch cao che đi. Nhưng ở đây có một sự hòa lẫn giữa kiến trúc Ấn giáo hay Phật giáo và Hồi giáo nên có khi vẫn để nguyên các hình tượng, trang trí. Nhiều khi cũng là do các tay thợ địa phương vốn là những người theo Ấn giáo, Jain, Phật giáo họ chỉ bôi phết che lấp qua loa đi. Với thời gian lớp che này bong rơi ra. Nên có những trụ hành lang còn thấy nguyên điêu khắc trang trí của Ấn giáo như các dải dây có tua, chuông, hoa, các hình tượng thần Ấn giáo.

clip_image013

clip_image015

Các trụ còn giữ các điều khắc Ấn giáo. Lưu ý tượng thần Ấn giáo bị đập mặt đi (ảnh của tác giả).

Ở đây thấy cả các hình biểu tượng giáo lý Ấn giáo như ngôi sao hình tam giác 6 đỉnh.

clip_image017

Hình tam giác 6 đỉnh diễn tả triết thuyết sáng thế của Ấn giáo (ảnh của tác giả).

Trong và xung quanh hình tam giác là các trang trí hoa lá và hình học của Hồi giáo nhưng hình tam giác 6 đỉnh là của Ấn giáo.

Trong Ấn giáo (và cả phái mật tông của Phật giáo) sự kết hợp giữa hai tam giác thuận và ngược tạo ra hình ngôi sao 6 cánh này dùng làm biểu tượng cho sự hôn phối của hai nguyên lý nòng nọc, âm dương tạo ra vũ trụ.

Ba đỉnh của tam giác thuận trong ngôi sao biểu tượng cho ba vị thần nam Brahma, Shiva, Vishu

clip_image019

và ba đỉnh của tam giác nghịch biểu tượng cho ba vị thần nữ Saravasti, Shakti và Lakshmi.

Đây cũng chính là Ngôi Sao David của Do Thái giáo, cũng có một nghĩa nòng nọc, âm dương giao phối. Quan niệm giao phối vũ trụ này thấy trong Jewish Kabbbala thần bí, được cho là Zivug ha Kadosh, sự hôn phối thiêng liêng giữa dương và âm của các biểu trưng của thượng đế.

Như thế hình ngôi sao sáu cánh diễn tả sự giao phối giữa nòng nọc, âm dương, càn khôn, trời đất, vũ và trụ. Cả ba tôn giáo đều có cùng một biểu tượng với nghĩa lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, sinh tạo, tạo hóa chứng tỏ Vũ Trụ giáo là tôn giáo tối cổ bao trùm tất cả các tôn giáo loài người hiện nay.

Dấu tích Phật giáo, còn thấy cả các tượng Phật nguyên vẹn.

clip_image021

Hình tượng Phật ở một cột đền (ảnh của tác giả).

Ngoài ra có cả hình chim vẽ trên tường.

clip_image023

Hình chim vẽ trên tường (tài liệu trong sách du lịch).

Biểu trưng của đền là Trụ Tháp Qutab. Vào năm 1200, Aibak cũng khởi đầu xây tháp Qutab để biểu tượng cho sự siêu việt, sức mạnh và sự chiến thắng của Hồi giáo ở Ấn Độ.

Trụ tháp xây bằng sa thạch, đây là tháp đá cao nhất ở Ấn Độ và được coi là kỳ quan thứ 7 của Ấn Độ. Bề ngoài trang trí bằng đất nung. Đây là một ví dụ tiêu biểu của sự hỗn hợp giữa kiến trúc Ấn và Hồi.

clip_image025

(ảnh của tác giả)

clip_image027

Tháp Qutab nhìn gần (ảnh của tác giả).

clip_image029

Tháp được cho là do gợi ý lấy từ cây trụ sắt Pháp Trụ (Pillar of Law) đã có mặt sẵn ở đây.

clip_image031 clip_image033

Trụ sắt có khắc chữ Phạn (ảnh của tác giả).

Đây là vật nguyên thủy duy nhất tại đây còn giữ lại khi làm đền Hồi này. Những dòng chữ Phạn khắc trên cột cho thấy trụ sắt dựng lên để thờ Vishnu, Thần Bảo Vệ và tôn vinh công đức của vua Candra. Hiện nay Candra cho là vua Candragupta II dòng Gupta. Có người lại cho là Chandragupta Maurya vì trụ sắt được xây từ Triều Đại Mauryan (thế kỷ thứ 6 STL). Trụ sắt này đôi khi cũng được gọi là Trụ Ashoka (A Dục), vị vua thuộc triều đại Mauryan. Vua Ashoka (269-232 TTL) còn được gọi là đại đế Ashoka, một vị vua vĩ đại của Ấn Độ, ông cai trị một vùng đất rộng lớn bao trùm gần hết Ấn Độ hiện nay sau bao nhiêu lần chinh phạt chiếm các tiểu quốc khác. Trong 8 năm đầu làm vua ông đã gây ra nhiều chinh chiến làm hàng trăm ngàn người chết và không biết bao nhiêu người bị diêu linh, thống khổ. ‘Đống xương vô định đã cao bằng đầu’ (Nguyễn Du, Kiều). Về sau ông hối hận cải đạo qua Phật giáo. Ông đã cho dựng rất nhiều trụ tháp và hàng ngàn tháp Phật (stupa) ở nơi Phật tích, tu viện Phật giáo, địa điểm hành hương và những nơi ông thăm viếng… Ông đã giúp truyền bá Phật giáo đi khắp nơi.

Cây trụ sắt này mang vóc dáng của một trụ tháp Ashoka. Như đã nói ở trên, trụ Ashoka nguyên thủy ở chỏm có hình sư tử đội Pháp Luân (Dharma chakra). Pháp luân là bánh xe mặt trời-không gian sinh tạo, vận hành, tiêu biểu cho vũ trụ, tạo hóa, thời gian và Phật Pháp (Buddhist law) (Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và The Lost Symbol). Vì vậy mà trụ còn được gọi là Trụ Pháp.

Dấu tích trụ tháp chính gốc còn giữ lại được Bánh Xe Pháp thấy qua hình tháp làm phỏng theo của vua Mangrai dựng ở chùa U Mong gần Chiêng Mai, Thái Lan.

clip_image035

Trụ Pháp ở Chiangmai, Thái Lan (Wikipedia).

Trụ tháp bằng sắt này không có phần trên. Một là các vua chúa Hồi Mughal đã cho cắt bỏ đi phần đầu trụ có hình tượng thú vật và biểu tượng của Phật giáo không thích hợp với Hồi giáo. Thứ hai, đây có thể là một loại trụ tháp đơn giản làm không có đầu (rất bất thường).

Từ hình ảnh tháp trụ sắt này có người cho rằng trụ tháp đã từng được dùng làm biểu tượng cho Delhi.

Và ngay cả ngày nay, như đã biết, hình bốn con sư tử dựa vào nhau trên trụ Ashoka cũng được dùng làm quốc biểu và Bánh Xe Pháp của Ashoka được dùng trên lá cờ Ấn Độ.

Trụ sắt đã được làm cách đây hơn 1500 năm mà không bị hoen rỉ cho thấy kỹ thuật luyện kim của triều đại Mauryan thật tuyệt hảo.

Nhìn theo Vũ Trụ giáo, trụ có ba phần. Phần trên cùng là Bánh Xe Pháp hình mặt trời nằm trong không gian diễn tả vũ trụ, tạo hóa ứng với Thượng Thế. Phần chỏm tháp có hình sư tử có bờm biểu tượng cõi trời thế gian, vành bệ tròn (có khi vuông) với bốn tượng thú ở bốn hướng biểu tượng cho cõi đất thế gian và phần hình bầu có hình cánh hoa sen biểu tượng cho cõi nước thế gian. Đây là ba tiểu thế của Trung Thế. Đế trụ ứng là cõi âm Hạ Thế và thân trụ là Trục Thế Giới.

Nhìn tổng thể trụ Ashoka mang hình ảnh của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) giống như cây Đèn Đá Cây Vũ Trụ, giống như cơ thể học của trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Bánh xe Pháp có mặt trời nằm trong vòng tròn bánh xe không gian giống hệt như mặt trời nằm trong vòng tròn vỏ không gian bao quanh đỉnh tia sáng ở tâm mặt trống đồng diễn tả Thượng Thế. Những con thú bốn chân ứng với vành thú hay người ở vùng đất dương mặt trống. Phần bầu hoa sen ứng với phần bầu phình tang trống có hình thuyền diễn tả vùng nước thế gian. Hai vùng này là Trung Thế. Đế trụ ứng với đế trống diễn tả Hạ Thế và thân trụ ứng với trụ trống (eo trống) diễn tả Trục Thế Giới.

Cũng nên biết là trụ Ashoka đã có từ lâu trước thời Ashoka nên không phải do ông sáng tạo ra mà chỉ biến đổi đi cho thích ứng với Phật giáo. Chúng có lẽ đã chịu ảnh hưởng của các cây trụ Achaemenid Persia (Wikipedia).

Như thế trụ Ashoka mang ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

Ta cũng thấy tháp Qutab có 5 tầng. Số 5 là số trục, số Li, lửa thiếu dương thế gian cho thấy trụ cũng có một khuôn mặt là Núi Trụ thế gian, Trục Thế giới.

Hồi giáo dựng Tháp Qutab chỉ lấy theo nghĩa duy dương là nọc, trụ, Trục Thế Giới, dương, sức mạnh, siêu việt (việt là rìu, một thứ nọc nhọn, vật nhọn), chiến thắng giống như ý nghĩa của thạch trụ obelisk của Ai Cập cổ mà các quốc gia Âu châu đã lấy đem về nước và Trụ Đài Tưởng Niệm Washington ở Washington D.C (hiểu theo Tây phương).

Điểm này cũng cho thấy là các tháp ở quanh đền Hồi giáo ngày nay được hiểu và dùng làm tháp loa để loan truyền giờ cầu nguyện hay rao giảng giáo lý Hồi giáo thật ra nguyên thủy, như thấy ở đây, các tháp minar, minaret đều mang ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng có nguồn gốc từ Vũ Trụ giáo.

Bên cạnh đó có tháp Alai xây bị bỏ dở.

clip_image037

Trụ tháp dang dở Alai Minar.

Tháp Alai Minar do tiểu vương Alaud-din-Khalji cho xây dự tính to hơn cả Qutab Minar nhưng tháp

xây dang dở vì tiểu vương qua đời.

Năm 1210, Aibak chết, Aram Bakhsh lên nối ngôi nhưng chẳng bao lâu bị con rể của Aibak là Illtumish giết. Năm 1220 Illtutmish hoàn tất Tháp Qutab và nới rộng đền Quwwat-ul-Islam.

Tại đây có ngôi mộ của Illtutmish do chính ông cho xây cất. Đặc biệt mộ của ông vẫn xây theo phong thái Ấn giáo. Đây cũng là một ví dụ của sự hòa hợp tuyệt vời giữa kiến trúc Hồi và Ấn giáo.

clip_image039

Ngoài ra ở đây cũng có mộ của các hoàng tộc cũng mang mầu sắc Ấn giáo.

 

clip_image041

Một ngôi mộ Hồi Moghul xây theo phong thái Ấn giáo (ảnh của tác giả).

.Delhi thứ hai.

 

Năm 1290 một nhóm Khiljis, người Thổ (Turks) thoán quyền. Ala-uddin Khilji (1296-1316) bành trướng lãnh thổ xuống tận cao nguyên Deccan ở vùng Trung Ấn.

Triều đại của Ala-uddin là cao điểm của các tiểu vương Delhi, ông ta thiết lập khu Siri (1303), tức Delhi thứ hai, được xây và trang trí đặc biệt bằng cẩm thạch và sa thạch đỏ (red sandstone). Ngày nay chỉ còn lại một vài phế tích. Khu này nằm gần Haus Khas ngày nay, bây giờ nó trở thành một trung tâm thương mại phồn thịnh.

Ala-uddin chết trong tuyệt vọng.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: