NHẬN DIỆN CHÂN TƯỚNG THẦN NÔNG (phần 1)

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

NHẬN DIỆN CHÂN TƯỚNG THẦN NÔNG

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Truyền thuyết cho rằng vị tổ tối cao tối thượng của chúng ta là Thần Nông. Chúng ta nhận là con cháu thần mặt trời Viêm Đế thuộc họ Thần Nông (Thần Nông thị).

Thần Nông-Viêm Đế là ai? Thần Nông Viêm Đế là một hay là hai nhân vật?  Thần Nông, người là ai? Viêm Đế, người là ai? Thần Nông Viêm Đế là người Việt hay Trung Hoa? Thần Nông là Nông Thần làm ruộng?

Chúng ta phải quật “mồ” người lên để nhận diện chân tướng người.

QUA TRUYẾN THUYẾT

Theo các bộ sử lớn viết bằng chữ Hán như Đại Việt Sử Ký, Khâm Định Việt Sử, An Nam Chí Lược, Việt Sử Lược thì nguồn gốc dân tộc Việt Nam như sau “Vua Minh cháu bốn đời vua Thần Nông, nhân đi tuần thú phương nam, đến núi Ngũ Lĩnh, kết hôn với một nàng tiên đẻ ra một người con tên là Lộc Tục. Vua lập đài tế cáo trời đất, phong cho con trưởng làm vua phương Bắc, tức vua Nghi, phong con thứ là Lộc Tục làm vua phương Nam…" (Trần Đại Sỹ, Từ Triết Học Đến Huyền Thoại Nguồn Gốc Tộc Việt, Hai Mươi Năm Văn Học Hải Ngoại, tr.1046).

Đại Việt Sử Ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên viết “Xưa cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Rồi đó sang tuần phương Nam, đến dẫy Ngũ Lĩnh, tiếp được Vụ Tiên sinh ra Vương (Lộc Tục)…” (tr.33).

Có nơi viết rõ Viêm Đế là thần mặt trời: ‘Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế ‘. Phần ghi chú của truyện Hồgng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái cũng xác nhận Viêm Đế là thần mặt trời: Xy Vưu dòng dõi Viêm Đế,  để chống lại Hoàng Đế Hiên Viên đã thống lĩnh 80 anh em, cướp ngôi Viêm Đế (thần mặt triời)….

Về nguồn gốc dân Việt là con cháu họ Thần Nông này đã có nhiều học giả Việt Nam tranh luận. Người cho Thần Nông là người Tầu, kẻ lại cho Thần Nông là người đại tộc Việt.

Thần Nông là người Việt?

Trong các học giả cho Thần Nông là người Việt, người tiêu biểu là Kim Định. Ông theo Mộng Văn Thông cho là Thần Nông là vua của Viêm tộc tức Việt vì người Trung Hoa thời nhà Chu gọi chúng ta là Viêm bang và gọi phương nam là Viêm phương. Theo Mộng Văn Thông trong Cổ Sử Nhân Vi, Viêm là Việt + Miêu, Kim Định gọi là Vimê.

Thần Nông Là người Tầu?

Bình Nguyên Lộc chống đối kịch liệt lại việc cho rằng Thần Nông là người Việt. Ông cho rằng Mộng Văn Thông gọi chúng ta là Viêm là có ý đồ chính trị “sách của ông là một mưu đồ chính trị rất là thâm sâu và độc ác… Khi mà họ làm cho 700 triệu người Tàu tin rằng Tàu là Việt thì 700 triệu người ấy hẳn sẽ có khuynh hướng thống nhất ta… và khi 30 triệu người Việt cũng tin in hệt như thế thì ta mất hết cả ý chí chống xâm lăng. Hoa và Việt đã là một thì thống nhứt là đúng, còn chống làm gì nữa” (tr.91).

Người Tàu có gọi ta là Viêm bang: “họ có chỉ nước ta là Viêm bang, nhưng đó là sau đời Hán” (tr.86).

Ông kết luận “như thế thì Thần Nông chỉ có thể là Tàu” (tr.103).

Đào Duy Anh, trong Hán Việt từ điển “Thần Nông, ông vua đời thượng cổ nước Tầu, trước Nghiêu, Thuấn, dậy dân làm ruộng, họp chợ và bày cách làm thuốc trị bệnh”.

Thần Nông là ông tổ chung cả Tầu và Việt?

Theo câu sử trên ta cũng thấy Thần Nông là ông tổ chung của Tầu và Việt. Chúng ta là dòng con vợ bé. Bác sĩ Trần Đại Sỹ đã cho biết: “Xét triều đại Thần Nông, khởi từ năm 3118 trước Tây lịch, đến đây (Đế Minh) thì chia làm hai:

1. Thần Nông Bắc

Vua Nghi (2889-2884 trước Tây lịch)

Vua Lai (?2843-2794 TTL)

Vua Ly (2795-2751 TTL)

Vua Du Võng (2752-2696 TTL)

Đến đây triều đại Thần Nông Bắc chấm dứt, đổi sang triều đại Hoàng Đế từ năm Giáp Tý (2697 TTL). Các nhà chép sử Trung Quốc lấy thời đại Hoàng Đế làm kỷ nguyên. Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ Đế Bản Kỷ, coi Hoàng Đế là quốc tổ Trung Quốc.

2. Triều Đại Thần Nông Nam

Thái tử Lộc Tục lên làm vua năm Nhâm Tuất (2879 TTL) hiệu là Kinh Dương, lúc mười tuổi. Sau này người Việt lấy năm này làm kỷ nguyên lập quốc. Nếu cộng chung cho tới nay là 4872 năm, vì vậy người Việt hằng tự hào là có năm nghìn năm văn hiến" (Tr.1046).

 

Đó là sử Việt viết về Thần Nông còn sử Trung Hoa họ nói gì về Thần Nông?

Theo truyền thuyết thì Thần Nông là vị vương thứ nhì trong tam vương. Thần Nông là một vị thần nông nghiệp. Ông là vị thần đầu bò có sừng, người dậy dân chúng cách làm ruộng, trồng trọt cũng như dùng cây cỏ làm thuốc.

clip_image001

Thần Nông, thần canh tác của Trung Quốc đầu bò có sừng mặc áo lá (Bản khắc trong Sanzai Tuhui, năm 1607, Đại Học Hồng Kông).

clip_image001[4]

Thần Nông Trung Hoa đầu sừng bò đang cầy ruộng.

Lưu ý

Trung Quốc làm ruộng cạn trồng lúa mì dùng con bò làm biểu tượng cho nông nghiệp ngược với chúng ta làm ruộng nước, trồng lúa nước dùng con trâu nên con trâu là biểu tượng của chúng ta. Trong 12 con giáp cũng vậy. Trung Quốc có tuổi bò đực chúng ta có tuổi sửu, tuổi trâu.

Ngày nay còn quyển sách thuốc có tên là Thần Nông Bản Thảo.

Thần Nông Trung Hoa cũng có hiệu Viêm Đế.

Theo hiệu Viêm Đế này có người cho rằng ông là vị thần “gió nóng” (burning wind). Có người cho ông là vị thần lửa.

“Theo sử Tầu thì Thần Nông làm vua được 8 đời mới bị Hiên Viên diệt" (BNL tr.104). Hiên Viên là Hoàng Đế.

Có Hay Không Có Thần Nông?

Vì có nhiều điều không ổn về Thần Nông nên khiến chúng ta khó tin rằng Thần Nông nông thần của Trung Hoa là ông tổ của chúng ta.

1. Thần Nông là vị vương thứ nhì của Trung Hoa. Ông tổ của chúng ta là một người Tầu? Dĩ nhiên không thể chấp nhận được. Các học giả Việt Nam cũng biết vậy nên tìm một giải pháp dung hòa cho Thần Nông là ông vua của cả Tầu và Việt.

2. Thần Nông với nghĩa của người Trung Hoa là ông thần canh tác không phải là tên gốc Hán ngữ mà là một tên phiên âm dịch nghĩa từ một ngôn ngữ khác. Tên Trung Hoa phải viết theo đúng ngữ pháp Trung Hoa là Nông Thần.

3. Thần Nông chỉ có làm vua tám đời và cách đây chừng 5.000 năm nhưng chẳng thấy dấu tích đâu cả. Tại sao lại 8 đời? Đây chỉ là truyền thuyết dựa theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Dịch. Tám đời này ứng với bát quái. Thần Nông làm vua từ khai thiên lập địa ở cõi tạo hóa cho tới cõi nhân sinh thế gian Trung Thế của tam thế ứng với bát quái (xem dưới).

4. Thần Nông là ông vua giỏi về canh tác làm ruộng thì có một khuôn mặt là ông tổ của đại tộc Việt chuyên sống về nông nghiệp sông nước là hữu lý rồi. Nhưng những khai quật khảo cổ học cho thấy việc trồng trọt cây cỏ sinh sống đã có từ lâu rồi chứ không phải chỉ mới có 5.000 năm gần đây thôi. Giáo sư về nhân chủng học Wilhelm G. Solheim II, Đại học Hawaii trong bài New Light On A Forgotten Past (Ánh sáng mới rọi vào Quá Khứ Lãng Quên) đã tuyên bố “Tôi đồng ý với Sauer rằng những thảo mộc đã được trồng cấy thuần canh đầu tiên (first domestication of plants) trên thế giới đã được thực hiện bởi những người có nền văn hóa Hòa Bình, ở một chỗ nào đó tại Đông Nam Á. Tôi không lấy gì làm ngạc nhiên là sự thuần canh này đã bắt đầu sớm tới 15.000 năm trước Tây lịch” (National Geographic, March 1971 tr.339). Như thế Thần Nông ông tổ nông nghiệp chỉ có 5.000 tuổi sai thấy rõ.

5. Người Trung Hoa gốc dân du mục săn bắn mà có ông tổ nông nghiệp chung với chúng ta thật là phi lý.

6. Vua Thần Nông chuyên nông nghiệp có hiệu là Viêm Đế tức vua lửa thật là tréo cẳng ngỗng. Cái niên hiệu Viêm Đế trái ngược với tên Thần Nông hiểu theo nghĩa nông nghiệp. Trồng trọt canh tác cần nước nhất. Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống. Một ông vua Nông nghiệp mà lấy hiệu là vua “nóng” vua “lửa” thì cây cỏ bị hạn hán chết hết. Viêm Đế không thể nào đi với Thần Nông với nghĩa là nông nghiệp. Không ổn. Nên nhớ Thần Nông theo sử chỉ cách đây có 5.000 năm thôi mà sự phát kiến ra lửa phải là lâu đời lắm. Như thế nếu Viêm Đế đúng là thần lửa thì tên Thần Nông hiểu theo nông nghiệp là sai và ngược lại.

Chính sự không ăn khớp, trống đánh xuôi kèn thổi ngược này giúp ta tìm ra chân tướng Thần Nông là ai.

Có người lại cho rằng ông vua này đem lửa vào Trung Hoa. Dĩ nhiên quá ấu trĩ. Lửa đã có từ thuở khai thiên lập địa. Con người biết tới lửa rất lâu chứ không phải mãi tới đời vua Thần Nông chỉ cách đây có 5.000 năm thôi. Lửa thiên nhiên như núi lửa, cháy rừng, cháy núi, cháy các đồng cỏ (savanna), thủy tổ loài người đã biết tới và có kinh nghiệm với lửa. Sự cháy hoang dã (wild fire) này làm côn trùng và thú nhỏ bị chết cháy rất nhiều và thú lớn chạy tản mát đi nơi khác. Muông thú đã phải đi theo sau các đám cháy này tìm mót thực phẩm. Loài đười cũng phải kiếm sống bằng cách này. Và người thái cổ đã khám phá ra thịt thú vật bị chết cháy ăn thơm ngon hơn ăn sống. Món ăn chín đầu tiên mà loài thú, loài đười và người-đười nếm là món thịt nướng do những đám cháy thiên nhiên. Di thể (gen) thích ăn thịt nướng từ thủy tổ loài người truyền xuống con cháu, ngày nay còn thấy qua sự kiện hầu hết mọi sắc dân đều thích ăn thịt nướng, thịt quay. Biết lửa từ lâu và khám phá ra món thịt nướng cháy thiên nhiên ăn ngon hơn thịt sống tanh tưởi và giá lạnh đã khiến con người nghĩ đến cách nướng thức ăn và sưởi ấm. Do đó con người nghĩ đến việc tìm cách giữ lửa và gầy lửa. Dĩ nhiên phải mất một thời gian dài. Gần vùng hồ ngầm dưới đất Escale ở Pháp các nhà khảo cổ học tìm thấy dấu tích của lửa và của con người cư ngụ lâu đời tới 700.000 năm, tuy nhiên chứng tích rõ ràng nhất là các hố lò lửa khám phá thấy cách đây 300.000 năm.

Như thế vua Thần Nông chuyên về trồng trọt lại kiêm là vua biết gầy ra lửa hay giữ lửa chỉ cách đây có 5.000 thì quá gần, không thể nào chấp nhận được.

Vì vá víu nhặt nhạnh Thần Nông ở đâu đó, nên Thần Nông đầu bò của Trung Hoa còn được cho là thần “gió nóng” (“burning wind”) có khả năng làm hết được hạn hán!

Ta sẽ thấy rõ khuôn mặt gió nóng, thần lửa, cây gậy lửa này của Thần Nộng làm ruộng Trung Hoa là họ lấy từ khuôn mặt thần mặt trời Viêm Đế của Bách Việt (xem dưới).

7. Vậy đây chỉ là hoang thoại. Người Trung Hoa đã cóp nhặt Thần Nông từ các chủng tộc khác. Tộc khác mà họ tiếp xúc, đó chính là Bách Việt.

Tác giả Bình Nguyên Lộc cho đây chỉ là hoang thoại: “Nhưng thật ra thì vua Thần Nông không bao giờ có, thế thì Viêm Đế cũng không bao giờ có. Giáo sư Kim Định cũng đồng ý với các nhà bác học Tây phương (mà ngày nay các nhà bác học Trung Hoa cũng đồng ý như vậy) là họ chỉ là một nhóm người Tàu văn minh trước các nhóm người Tàu khác mà các Chu Nho ngây thơ theo tinh thần Evhémère đã biến thành một nhân vật” (tr.105).

THẦN NÔNG, NGƯỜI LÀ AI?

Ở trên ta đã lướt qua các truyền thuyết Việt và Trung Hoa, bây giờ ta hãy đã gạn lọc lại. Ta thấy có những điểm cần nói tới sau đây:

-Theo Đại Việt Sử Ký, Khâm Định Việt Sử, An Nam Chí Lược, Việt Sử Lược thì « Đế Minh là cháu bốn đời vua Thần Nông và theo Đại ViệtSử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên thì Đế Minh là cháu ba đời vua Viêm Đế họ Thần Nông.

Như thế ta thấy rõ Thần Nông có trước Viêm Đế, đẻ ra Viêm Đế. Như đã nói ở trên, theo truyền thuyết Trung Hoa, Thần Nông là vị vua thứ nhì. Như thế vị vua thứ nhất là thượng đế, vị vua thứ nhì là Thần Nông và vị vua thứ ba là Viêm Đế.

Điểm này cũng được xác thực qua bài đồng dao Bồ Nông là Ông Bổ Cắt trong sử miệng. Bồ Nông Thần Nông là ông Bổ Cắt Viêm Đế (Bồ Nông Là Ông Bổ Cắt).

Như vậy Thần Nông và Viêm Đế là hai vị vua khác nhau.

Tuy nhiên

-Theo truyền thuyết Trung Hoa Thần Nông là vị thần canh tác, nông nghiệp có hiệu là Viêm Đế. Viêm Đế là thần gió nóng hay thần lửa. Như thế Thần Nông có hai khuôn mặt : một là Thần Nông nông nghiệp có một khuôn mặt là Nước (vì nước là yếu tố sinh tử của nông nghiệp). Khuôn mặt thứ hai là thần lửa qua ‘hiệu là Viêm Đế’.

Như vậy Thần Nông-Viêm Đế chỉ là một nhân vật có hai khuôn mặt là thần canh tác và thần lửa, là thần Nước-Lửa, nòng nọc, âm dương ngược nhau.

-Theo những truyền thuyết Việt thì nhiều lúc viết khác nhau:

.Theo một truyền Việt thì Thần Nông hiệu Viêm Đế tức là một nhân vật duy nhất có tên là Thần Nông và có thêm tước hiệu phụ là Viêm Đế.

.Theo một truyền thuyết Việt khác thì ngược lại Viêm Đế có hiệu là Thần Nông tức là một nhân vật duy nhất có tên là Viêm Đế và có thêm tước hiệu là Thần Nông.

-Theo truyền thuyết như đã nói ở trên, Viêm Đế là thần mặt trời thuộc họ Thần Nông. Đây là một vị thần riêng biệt.

Như vậy qua truyền thuyết Việt và cả Trung Hoa, ta thấy Thần Nông Viêm Đế có hơn một khuôn mặt với tính chất nòng nọc, âm dương khác nhau.

Qua khuôn mặt thần mặt trời của Viêm Đế thì Thần Nông phải có một khuôn mặt là một vị thần tạo hóa, sinh tạo ở cõi vũ trụ. Khuôn mặt Thần Nông là một khuôn mặt thần canh tác của Trung Quốc không thể thích hợp với HIỆU mặt trời Viêm Đế. Thần mặt trời nào lại đi làm ruộng!

Khuôn mặt thần Nông là thần canh tác là một khuôn mặt rất muộn ở cõi nhân sinh. Văn hóa Trung Hoa là một thứ văn hóa muộn. Rất muộn so với văn hóa của Bách Việt.

Như thế Thần Nông Viêm Đế phải là một vị thần sáng thế của Đại Tộc Việt, của Bách Việt. Bắt buộc. Bắt buộc. Bắt buộc.

Viêm Đế có một khuôn mặt là thần mặt trời rồi thì Thần Nông phải có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa tương ứng, nghĩa là một khuôn mặt ở phía không gian. Thần Nông Viêm Đế có hai khuôn mặt không gian-mặt trời, vũ trụ mang tính sinh tạo, tạo hóa.

Điểm này cho thấy rất rõ Trung Hoa đã «cuỗm» vị thần sáng thế Thần Nông-Viêm Đế của Bách Việt rồi chế ra vị Thần Nông là vị thần canh tác của mình. Gian dối nên lòi cái đuôi to tổ bố là cho Thần Nông làm ruộng có hiệu là Viêm Đế, thần lửa, gió nóng rồi giải nghĩa lung tung cho xuôi tai.

Tóm lại Thần Nông-Viêm Đế là vị thần sáng thế của đại tộc Việt, của Việt Nam.

Thật vậy, truyền thuyết chỉ nói tới ‘họ thần nông’ không nghe nói tới ‘họ Viêm Đế’. Hơn nữa còn nói thần mặt trời Viêm Đế thuộc họ Thần Nông, điểm này cho xác thực khuôn mặt Thần Nông là khuôn mặt chính, có trước Viêm Đế.

Nhìn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, thoạt khởi thủy hư vô, vô cực trung tính, theo duy âm tức ở các tộc theo mẫu hệ, hư vô chuyển qua âm trước tức Biển Vũ Trụ vì thế các tộc này có Người  Nguyên Khởi là một người nữ, là Mẹ Loài Người  như Việt Nam có Dạ Dần, Ai Cập cổ  có thần nữ Mut (Mut có T chỉ phái nữ tên thật là Mu chính là Việt ngữ Mụ là Mẹ). Vì vậy các tộc theo mẫu quyền này thuộc ngành nòng âm mới được gọi là thị tộc.

‘Thần Nông thị’ cho thấy Thần Nộng là họ của các tộc thuộc ngành nòng âm có văn hóa nước, làm ruộng nước, theo mẫu hệ tức của Bách Việt.

Sau đó từ Biển Vũ Trụ âm nẩy sinh ra mầm nóng, lửa, dương ứng với thái cực, trứng vũ trụ tức nòng nọc, âm dương còn quyện vào nhau dưói dạng nhất thể. Lúc này khuôn mặt ‘hiệu Viêm Đế’ xuất hiện. Ta có Thần Nông-Viêm Đế là một nhân vật duy nhất lưỡng diện, lưỡng tính phái còn ở dạng nhất thể.

Vì Thần Nông-Viêm Đế lưỡng tính phái nên các đại tộc thuộc ngành nòng âm trong truyền thuyết viết là Thần Nông có hiệu là Viêm Đế, ngược lại ở ngành nọc dương trong truyền thuyết viết là Viêm Đế hiệu Thần Nông.

Thái cực phân cực sinh ra lưỡng nghi: cực âm có một khuôn mặt là không gian và cực dương có một khuôn mặt là mặt trời. Lúc này Thần Nông-Viêm Đế nhất thể tách ra làm hai nhân vật riêng rẽ là thần không gian Thần Nông và thần mặt trời Viêm Đế ở tầng lưỡng nghi.

Ngành nòng âm thờ Thần Nông chính và ngành nọc dương thờ Viêm Đế chính. Ngành Nọc Lửa Viêm Việt ‘cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế’ là ngành nọc mặt trời thờ thần mặt trời Viêm Đế chính. Xy Vưu dòng dõi thần mặt triời Viêm Đế thuộc Bách Việt  mới đánh lại Hoàng Đế Hiên Viên của Trung Hoa.

QUA NGÔN NGỮ HỌC

Nông là gì?

Nếu chúng ta nhận Thần Nông là người Việt thì từ Nông phải là một từ Việt ngữ. Chúng ta ai cũng biết Hán ngữ nông là làm ruộng như nông nghiệp. Vì coi Nông không phải là Hán ngữ chúng ta gạt nghĩa nông nghiệp này qua bên. Tổ tiên ta không thể có tên bằng Hán ngữ. Tổ tối cao tối thượng, tổ sáng thế của chúng ta chưa biết làm ruộng.

Việt ngữ Nông:

Việt ngữ nông có những nghĩa sau:

-Nông là cái BỌC, cái TÚI ví dụ chim nông là con chim bọc, chim túi. Con nông còn gọi là bổ nông. Theo qui luật biến âm b=m (b là dạng cổ của m như bồ hôi = mồ hôi), bổ = mổ = mỏ. Cái mỏ là cái mổ, cái bổ. Chim bổ nông là chim mỏ nông. Nông biến âm với nang có một nghĩa là cái túi (xem dưới). Chim mỏ nông là loại chim dưới mỏ và cổ có cái bao, cái bọc, cái túi để xúc cá.

-Nông cũng có nghĩa là cạn, không sâu. Ý nghĩa cạn với sâu này liên hệ với nước. Nông vì thế cũng liên hệ với NƯỚC. Làm nông là làm nước. Trồng trọt canh tác ‘làm nước’ là việc cốt yếu như thấy rõ qua câu “nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống”. Nông với nghĩa nước còn thấy rõ trong các truyền thuyết Mường-Việt cổ: trong chương Chia Năm Chia Tháng của sử thi Mường Đẻ Đất Đẻ Nước (Đẻ là Mẹ):

Đặt ra tháng tư

Cho vua Mồng Nông lên phơi lưng

Tác giả Hoàng Anh Nhân giải thích “Mồng Nông: một loài cá rất hiền” (tuyển tập Truyện Thơ Mường, nxb KHXH, Hà Nội, 1986 tr.84).

Ở chỗ khác:

Toóng In nghe Cun Tàng chửi mắng:

Đòi tướng ba ba sông,

Tướng Mồng Nông kéo đến.

Lệnh rằng:

-“Hãy sắm binh cá trê, cá bống,

Đợi binh rái cá,

Chong chóng kéo lên bờ sông cái,

Lên mãi bờ sông con,

Đánh úp nhà lang.”

(Tr. 430-431)

Ở đây tác giả ghi chú “Mồng Nông: Thần giữ bến sông bến suối”.

Đã tìm được thợ đẽo hay tức

Đã tìm được thợ đẽo đục hay giận

Tìm được thợ chạm con hạc

Thợ tạc con hươu, con rồng

Thợ bận đánh nhau với vua Mồng Nông giữa bãi.

……

Vua Mồng Nông dối dào,

Boœ chạy nháo chạy xiên.

Vua Mồng Nông mếu máo,

Tráo chân chạy ra sông…

(Tr.448-9).

Mồng Nông rõ ràng là thần sông, thần nước. Mồng chuyển hóa với Mang có nghĩa là thần nước, thần sông như Mang Công là thần sông. Mồng Nông là Mang Nông tức thần nước, thần sông. Rõ ràng Nông là nòng, dòng liên hệ với sông nước.

Bây giờ chúng ta mò tìm những từ biến âm với nông.

Nang

Như đã nói ở trên, theo qui luật biến âm o=a (hột = hạt) ta có nông = nang.

Nang là cái bao, cái bọc, cái trứng, quả cau.

-Nang là cái bọc. Nang cũng liên hệ tới nước, danh từ y học bướu nang chỉ cái bọc có nước bên trong vì nang có na(ng) là na, nã, lã, nác, nước. Bướu nang hay bước bọc nước tương ứng với từ cyst của Anh Pháp.

-Nang là quả cau. Về hình dạng bên ngoài thuôn tròn trái soan cau trông giống quả trứng. Khi bổ ra làm đôi quả cau trông cũng giống hệt trái trứng luộc. Quả cau có hột tròn bao quanh bởi lớp thịt trắng, trông giống lòng đỏ và lòng trắng của trứng. Bổ dọc một quả cau ra làm đôi trông giống hệt một quả trứng luộc bổ dọc làm hai. Người Mường ngày nay vẫn gọi cau là nang (xem chương Ý Nghĩa Miếng Trầu). Mã Lai ngữ pinang là cau. Đảo Pinang hay Pénang, nơi Hoàng tử Cảnh và Bá Đa Lộc đã ở là Đảo Cau. Pinang biến âm với Hán ngữ binh lang là cau.

-Nang là trứng.

Như đã thấy ở trên qua nghĩa nang là cau, nang cũng có thêm nghĩa là trứng. Ta cũng đã biết nang biến âm của nông có một nghĩa là nước. Trứng khởi đầu là một tế bào mầm có nước bên trong, là một bọc nước, túi nước vì thế mới có từ trứng nước có nghĩa là khởi thủy. Ta có nang = nông = nước = trứng.

Như thế nang là cái bọc, cái trứng, hàm nghĩa nước, quả cau hình trứng.

Không

Theo qui luật biến âm kh=n như khỏ (khô, trái bưởi khỏ là trái bưởi múi bị khô) = nỏ, khện = nện, nông biến âm với không. Ta cũng thấy Pháp ngữ non (đọc là ‘nông’ có nghĩa là không) biến âm với Việt ngữ không. Pháp ngữ non = không (Việt ngữ).

Tóm lại Nông là cái BỌC, cái bao, TRỨNG, biến âm với không, khôn. Theo trung tính không là HƯ KHÔNG, theo duy dương, không, Khôn là Khôn dương tức thiếu âm khí, gió và theo duy âm, Khôn âm tức thái âm có nghĩa là Nước.

(Bồ Nông Là Ông Bổ Cắt).

Thần là gì?

Trước hết hãy tìm hiểu từ Thần của Hán ngữ xem sao. Thần còn gọi là Thị là Kỳ.

-Thần là thị: Thị có một vài nghĩa chính như: phái nữ, đàn bà thường gọi là thị.

-Thần là kì: kỳ có những nghĩa chính là: Thần đất, vùng đất ở: Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ…

-Thần là Thìn: con rồng tức là linh vật có cốt thắn, thằn tức rắn, thằn lằn.

-Thần là có mang.

Có mang là có bầu, có bọc liên hệ với nòng, âm, nữ, nước, sinh tạo…

-Thần biến âm với Thân: mình, cái giải to (áo tứ thân là áo có bốn mình, bốn dải to). Dải liên hệ tới rắn (con dải là con rắn).

-Thần biến âm với Thẩn: loài sò, hàu lớn, loài giao long…

-Thần biến âm với thận: quả cật, cơ quan lọc máu làm nước tiểu.

Ta thấy Thần có những nghĩa chính:

Thần có nghĩa thị là phái nữ. Tên người Việt phái nữ cũng có chữ lót ‘thị’. Với h câm thị = tị. Tị là rắn, tuổi tị là tuổi rắn. Rắn là nước là nữ là âm. Từ thị chỉ phái nữ không phải chỉ có chúng ta và người Trung Hoa dùng mà thấy cả ở người Cổ Ai cập, một tộc thờ mặt trời và có nhiều điểm giống chúng ta. Tên phái nữ người Ai cập cổ thường tận cùng bằng hình ngữ mà các nhà Ai Cập học gọi là hình “nửa ổ bánh mì” tức chữ T. Ví dụ nhìn tên Cleopat có chữ T tận cùng là biết ngay Cleopat là phái nữ giống như tên Việt Nam có chữ thị.

Thần là dải to (Việt dải là con rắn, con rùa nước), là có mang, sò, hàu, thận (quả thận là cơ quan lọc máu và làm nước tiểu ‘to make water’) liên hệ với nước, nữ, âm. Với h câm thần là tần tức rau cần, loài rau mọc dưới nước, rau tần đi với tảo (rong). Tần tảo. Tần tảo ngược xuôi là đi ngược đi xuôi vớt rau, vớt rong mọc dưới nước…

Thần biến âm với thìn, rồng là linh vật có cốt rắn nước, cá sấu, (giao long), thằn lằn (rồng Komodo).

-Rắn biểu tượng cho tượng Nước.

Tên rắn có nghĩa là nước thấy trong nhiều ngôn ngữ.

Ấn giáo có con rồng rắn nước naga, Phạn ngữ naga có nag- = Việt ngữ nác, nước; Anh ngữ snake có –nak = nác ruột thịt với Khmer, Lào nak, rắn; Do Thái ngữ nahash, rắn có gốc Việt ngữ na– là nước, có nah- = nác, nước; Lạc Long Quân có Lạc là dạng nam hóa của nác là nước. Rồng Lạc Long Quân có gốc là rắn nước Chấn, Anh ngữ dragon có d(r)ag- = Việt ngữ cổ đác là nước [như, Darlac (Đắc Lắc là vùng hồ nước) có Dar- = Đác; Dakto có nghĩa là Nước-vú (sữa); lác đác (mưa lưa thưa liên hệ với nước)].

Nhìn chung chung thì từ Thần mang âm tính hàm nghĩa Nữ, Âm, Nước… thuộc dòng âm ngành nòng âm.

Điều này cũng thấy rõ qua từ Thần hiểu theo nghĩa Thần là bậc siêu phàm đi đôi với Thánh. Thần Thánh. Thần là từ chỉ các bậc siêu phàm thuộc dòng nước, âm. Trong khi các bậc siêu phàm thuộc dòng mặt trời, lửa (nọc, dương) thì gọi là thánh. Thánh chính là Việt ngữ Sáng, liên hệ ruột thịt với Tây Ban Nha ngữ san, Anh Pháp saint, tiền tố (prefix) Mã-lai ngữ sang chỉ các bậc anh hùng, thánh… Theo qui luật biến âm th=s (thẹo = sẹo), thánh = san, sang, sáng, saint. Ví dụ nước là âm nên gọi là Thần Nước, không gọi là Thánh Nước . Phù Đổng Thiên Vương gọi là Thánh Dóng cho biết ông liên hệ với lửa, chớp, sấm dông ngược với khuôn mặt sấm mưa Lạc Long Quân. Vì thế Thánh Dóng có roi sắt và ngựa sắt phun lửa (xem Phù Đổng Thiên Vương)…

Như thế tên Thần Nông với từ Thần cho biết Thần Nông mang âm tính, có nghĩa là trong quá trình vũ trụ tạo sinh hư không chuyển qua âm trước. Điều này cũng đúng với truyền thuyết của chúng ta và một số dân tộc là khởi đầu là một vị thần nữ, một mẹ tổ đẻ ra loài người ví dụ chúng ta có mẹ tổ là Dạ Dần (Mường ngữ Dạ là Mẹ, Dần biến âm với dân, với nhân là Người, Dạ Dần là Mẹ Loài Người). Điểm này cũng thấy đúng qua thực tế là xã hội con người khởi đầu theo thị tộc mẫu quyền rồi sau đó mới trở thành xã hội phụ quyền như ngày nay.

Tóm lại Thần có những nghĩa thuộc về âm, hàm nghĩa NƯỚC (nguyên thể), cái, mẹ…

Đó là ta hiểu Thần theo Hán ngữ. Bây giờ ta coi Thần là một từ phiên âm dịch nghĩa từ Việt ngữ.

Ta thấy Thần biến âm với thằn, trăn, rắn biểu tượng cho nước. Mường ngữ thắn là rắn. Thần là dần, dằn, dắn, rắn ứng với thị, tị là rắn. Thần là thằn, thòng, thuồng là thuồng luồng ứng với thẩn là giao long. Thần là tròng, lòng, dòng, nòng, nàng là nang, nường ứng với thị là phái nữ, thần là có mang… Thần là thằn là lằn là thằn lằn. Thần, Thắn, rắn, nước đối ứng với Thánh, sáng, lửa cũng thấy trong tín ngưỡng Mường. Người Mường tin rằng vía (hồn sống) của con người chia ra làm hai loại: wại thắn (vía rắn) trị được muông thú dữ và wại khang (vía sáng) trị được loài cá dữ dưới nước: “vía rắn bỏ muông, vía sáng bỏ cá” (Trương Sỹ Hùng Bùi Thiện, Vốn Cổ Văn Hóa Việt Nam, Đẻ Đất, Đẻ Nước nxb VHTT Hà Nội 1995 tập I, tr.73). Rõ ràng vía thắn là vía ‘thần’ dòng nước nên chống lại được muông thú dữ họ lửa và vía sáng là vía ‘thánh’ họ lửa nên chống lại được cá dữ dòng nước.

Như thế gộp lại cả Hán lẫn Việt, Thần liên hệ mật thiết với Nước, rắn, sò ngao, phái nữ, âm, nòng.

Do đó Thần Nông có thể hiểu theo nhiều nghĩa theo Vũ Trụ Tạo Sinh:

-Hư vô, hư không

Nếu hiểu Thần với nghĩa là có mang có bầu tức cái bọc sinh tạo và Nông là hư không thì Thần Nông là cái Bọc Hư Không, cái Nang có tiềm năng sinh tạo,

-Thái cực, Trứng Vũ Trụ

Thần là có mang, Nông là nang, trứng thì Thần Nông

là cái Bao Sinh Tạo, Tạo Hóa, Trứng Vũ Trụ (cosmic egg)….

Chúng ta có bà Âu Cơ đẻ ra một Bọc Trứng Thế Gian đội lốt Trứng Vũ Trụ Thần Nông.

Nếu hiểu Thần là âm, nữ, sò ngao thì Thần Nông là Nòng Âm, Bầu Không Gian thái âm.

-Lưỡng Nghi

Nếu hiểu Thần là rắn, nước, thì Thần Nông có khuôn mặt Thân mang tính chủ tức Khôn âm.

Nếu hiểu Thần Nông với Nông là không, không khí thì Thần Nông có khuôn mặt Nông mang tính chủ tức Khôn dương.

Như thế ở tầng lưỡng nghi, Thần Nông có khuôn mặt nòng âm Khôn.

-Tứ tượng

Thần Nông tách ra Thần và Nông.

Như đã nói ở trên, Thần có một khuôn mặt là nước, rắn mang thái âm ứng tới tượng nước thái âm ứng với Chấn. Nông có một khuôn mặt khí gió ứng với thiếu âm Đoài vũ trụ.

Như thế rõ như ban ngày Thần Nông là tên một nhân vật sáng thế phía nòng âm có đủ nghĩa trong Vũ Trụ Tạo Sinh có khuôn mặt Hư Không chuyển qua âm trước, Trứng Vũ Trụ, cực Khôn và hai tượng Nước, Khí gió phía ngành nòng, âm.

Điều này giúp ta giải thích được tại sao Thần Nông trong truyền thuyết hay cổ sử có nhiều khuôn mặt. Chẳng hạn như hãy chú ý đến các chi tiết quan trọng trong hai trích dẫn ở trên: một là “Vua Minh cháu BỐN đời Thần Nông” và Đế Minh là “cháu BA đời thần mặt trời Viêm Đế họ Thần Nông…”

Nếu tính từ Thần Nông với khuôn mặt tạo hóa, vũ trụ dưới dạng nhất thể Thần Nông-Viêm Đế ứng với thái cực, Trứng Vũ Trụ (sinh ra Thần Nông Viêm Đế riêng rẽ ở lưỡng nghi) thì Đế Minh là cháu BỐN đời Thần Nông.

Nếu tính từ tầng lưỡng nghi, thì Đế Minh là cháu BA đời thần mặt trời Viêm Đế thuộc họ Thần Nông. Nhóm từ ‘thần mặt trời’ xác thực Viêm Đế ở tầng lưỡng nghi và nhóm từ ‘họ Thần Nông’ xác thực thần mặt trời Viêm Đế do Thần Nông-Viêm Đế nhất thể tách ra thuộc dòng dõi họ Thần Nông. Điểm này cũng xác thực đại tộc Việt có thần tổ sáng tạo tối cao là Thần Nông, Thần Bọc Tạo Hóa mang tính chủ Nòng âm nghiêng về mẫu hệ có văn hóa Nước, sông biển, nông nghiệp…

Từ đây ta có thể rút ra được một điều là Thần Nông có nhiều khuôn mặt.

Thần Nông có ba khuôn mặt chính:

.Thần Nông là thần sáng thế tối cao tối thượng, là Thần Bọc, Thần Túi Hư Không mang trung tính nhưng chuyển qua nòng âm trước ở cõi hư vô ở tầng vô cực.

Nhìn dưới diện tín ngưỡng Thần Nông Thần Bọc Hư Không ứng với Đấng Chí Tôn.

.Thần Nông là Thần Nang, Thần Trứng Vũ Trụ, Thần Tạo Hóa Nhất Thể có nòng nọc, âm dương, lưỡng tính phái ở dạng Thần Nông-Viêm Đế nhất thể ở tầng thái cực, Trứng Vũ Trụ.

Nhìn dưới diện tín ngưỡng Thần Nông, Thần Trứng Vũ Trụ dưới dạng Thần Nông-Viêm Đế nhất thể ứng với Thần Tạo Hóa Nhất Thể.

.Thần Nông là Thần Không Gian, Cực Âm, Nòng Khôn.

Ở cực âm, nòng Thần Nông với Thần hiểu theo nghĩa là Nước thái âm tức Khôn âm và Nông hiểu theo nghĩa Không Khí thiếu âm tức Khôn dương. Như thế Thân Nông mang khuôn mặt Khôn, không gian. Khuôn mặt này là cực âm đối ứng với khuôn mặt Nọc Càn mặt trời ở cực dương của Viêm Đế.

Điểm này được xác thực bởi truyền thuyết cho rằng Thần Nông thị có những tộc người đầu tôm. Com tôm sống dưới nước có một khuôn mặt biểu tượng cho nước, thái âm tức Khôn âm và đầu có râu tóc bờm xờm; ‘Chiếc đầu bờm xơm là con tôm tít’ (vè con cá) nên có thêm một khuôn mặt biểu tượng cho gió thiếu âm, tức Khôn dương. Trong bàn Bầu Cua Cá Cọc có con tôm đội lốt Thần Nông biểu tượng cho cực âm đối nghịch với con gà đội lốt Viêm Đế biểu tượng cho cực dương (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Như thế tôm biểu tượng cho Khôn, có một khuôn mặt là không gian.

Thần Nông là từ gốc Việt viết theo ngữ pháp Việt Nam. Trung Quốc đã lấy của Bách Việt vì theo ngữ pháp Hán ngữ thì vị thần nông nghiệp phải viết là Nông Thần.

Đây là một bằng chứng nữa cho thấy Thần Nông của Trung Quốc lấy của Bách Việt.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: