SỰ LIÊN HỆ GIỮA ANH NGỮ Và VIỆT NGỮ: BIẾN ÂM GIỮA ANH NGỮ Và VIỆT NGỮ.

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

SỰ LIÊN HỆ GIỮA ANH NGỮ VÀ VIỆT NGỮ

BIẾN ÂM GIỮA ANH NGỮ VÀ VIỆT NGỮ.

Nguyễn Xuân Quang

 

Những chữ viết tắt và qui ước:

 

-Dấu bằng (=) có nghĩa là liên hệ với, tương đương, gần cận nhau, giống nhau.

-Chữ trong hai gạch nghiêng / / là thanh, thinh, âm, âm vị, chỉ phát âm theo tiếng Việt hay ngoại ngữ.

-Mẫu tự trong ngoặc đơn của một từ có nghĩa là bỏ đi hay câm ví dụ Anh ngữ cổ brus (breast), vú có b(r)u- = bú, vú (bỏ r hay r câm)….

-Dấu (*) có nghĩa là gốc tái tạo không có trong ngôn ngữ thành văn (written records).

-Tôi chỉ giới hạn vào các nghĩa gốc tương đồng và để qua bên các nghĩa phụ, nghĩa bóng bẩy, nghĩa lóng

-khi hai từ Việt và Anh có biến âm với nhau nhưng không chứng minh được có cùng tầm nguyên nghĩa ngữ, có cùng gốc chữ, tôi thường dùng những từ nghi vấn như phải chăng? Có phải là trùng hợp hay không? Dù gì thì cũng coi như là một thứ bùa (pearl, mnemonics) để giúp học cho dễ hiểu và dễ nhớ.

-Tôi dùng từ liên hệ hiểu theo nghĩa tổng quát. Còn liên hệ như thế nào không nằm trong phạm vi bài viết này (sẽ nói rõ trong tác phẩm Sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ . Chỉ xin hiểu một cách tổng quát dù là liên hệ qua môi sinh như tiếp xúc, vay mượn, qua trung gian một ngôn ngữ khác hay di truyền (DNA) như ruột thị, máu mủt thì nói chung vẫn là liên hệ. Có sự liên hệ giữa Việt ngữ và Anh ngữ thì sự liên hệ đó cũng đủ giúp ta học Anh ngữ bằng Việt ngữ một cách dễ dàng và ngược lại.

-Vì khuôn khổ của bài viết, thường tôi chỉ đưa ra ba ví dụ.

...

*

Trong Tiếng Việt Huyền Diệu tôi đã viết tỉ mỉ về sự chuyển hóa, biến âm lịch sử trong Việt ngữ. Ở đây chỉ xin tóm lược.

QUI LUẬT VỀ ÂM TRONG TIẾNG VIỆT.

Âm nghĩa là những phần chính của ngôn ngữ, còn từ chỉ là ký hiệu chuyên chở âm, thanh, ý mà thôi. Âm tiếng Việt thay đổi tùy theo từng vùng, từng địa phương. Những nhà tạo ra chữ quốc ngữ trước đây chỉ dựa vào âm của những vùng họ tiếp cận được trong việc truyền đạo vì thế những qui luật ngữ pháp về dấu, giọng của chữ quốc ngữ cổ có thể chỉ đúng ở những vùng đó, không phản ánh được tất cả âm của cả tiếng Việt toàn quốc, nghĩa là âm Việt tối cổ và không phải là một thứ mẫu mực tuyệt đối.

Còn ngữ pháp của chữ quốc ngữ hiện nay dĩ nhiên chỉ là những qui ước do các nhà giáo dục đặt ra. Những qui ước có thể biến đổi và bị ảnh hưởng của ngoại cảnh trong đó có thể chế chính trị.

Ngoài ra âm, tiếng nói thay đổi theo thời gian. Vì thế chúng ta không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng Việt nói chung và nghiên cứu sự liện hệ giữa Việt ngữ và ngoại ngữ nói riêng. Thời cổ Việt không có chữ quốc ngữ, nên không thể nói người cổ Việt nói các nguyên âm (a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư), các phụ âm n, l, ch, tr, s, ch… hỏi, ngã, sắc, nặng, huyền, không dấu không đúng theo ngữ pháp hiện nay, nói sai hay nói ngọng. Xin đừng câu nệ chỉ đi theo con đường rầy ngữ pháp của chữ quốc ngữ hiện nay một cách mô phạm đầy máy móc và mù quáng.

Mỗi dân tộc nói một âm riêng của cùng một gốc chữ, cùng một gốc nghĩa. Ví dụ người Anh nói blue (bờ-lu) thì người Pháp nói blue (bờ-lơ) giống như chúng ta nói , mờ như nhau.

Không nên trông chờ có nhiều những âm giống hệt nhau khi so sánh hai ngôn ngữ liên hệ vì ngôn ngữ hiện kim đã xa rời gốc tổ chung ví dụ như đã thấy Pháp và Anh là hai ngôn ngữ chị em nhưng có cách phát âm khác nhau. Tiếng Việt và tiếng Anh cũng vậy. Âm khác đôi chút mà vẫn theo đúng qui luật biến âm lịch sử và có nghĩa giống nhau là có thể chấp nhận coi như là liên hệ với nhau được rồi.

Các âm càng cổ, càng gần gốc tổ, càng gần cội nguồn càng có nghĩa gần cận nhau. Ví dụ tiếng Việt và tiếng Anh cổ càng liên hệ mẹ con với nhau: cổ ngữ Anh buan, dwelling, chính là Việt ngữ buôn, bản, mường; cổ ngữ Anh bog (arm, cánh tay) = Việt ngữ bồng. Ta cũng thấy rất rõ Việt ngữ ãm, ẵm (bồng) chính là Anh Ngữ arm (ãm, ẵm, bồng là dùng cánh tay “arm” để mang một vật gì); Anh Ngữ cổ bur, apartment, chung cư = Việt ngữ buồng. Maori ngữ ở New Zealand bure, nhà. Bur, bure, buồng, buôn, bản, búa (chợ búa, búa là một thứ chợ, phố), phủ, phố, phường, phòng liên hệ với Phạn ngữ pur-, chỗ ở, thành phố như Manipur, Singapur (hay Singapour, Thành phố Sư Tử), Saint Peterburg, Strasbourg, Luxembourg. . . (Tiếng Việt Huyền Diệu), Thep p=b=m, pur– = mùa, mường. Ta có từ quê mùa, nhà quê nhà mùa với mùa hàm nghĩa buôn, bản, mường… Nhà quê nhà mùa là dân ở pur-, dân ở buôn, ở bản, ở mường…

 

Chuyển âm từ Anh ngữ nói riêng và ngoại ngữ nói chung qua Việt ngữ có thể theo phát âm Anh ngữ hay Việt ngữ ví dụ từ bad. Theo phát âm Anh ngữ /bét/ = bét (hạng bét, là hạng tồi, hạng xấu) = bết , bệt (tệ, xấu như học bết quá, phẩm chất bết quá) hay theo phát âm Việt ngữ bad = /bát/ = bát, bết bát (xem từ láy).

Anh ngữ và các ngoại ngữ đa âm khi chuyển qua Việt ngữ cần chặt bỏ đầu tức tiền tố hay chặt bỏ đuôi tức hậu tố hay phải gọt bỏ bớt các lớp áo, râu ria bên ngoài để chỉ lấy âm lõi khi so sánh với Việt ngữ. Ví dụ khi có tiền tố và hậu tố như adapter, vật ráp, nối, lắp, áp vào như cái lắp điện. Phân tích ra ta có hai trường hợp, coi a– là tiền tố hay coi ad- là tiền tố. Trường hợp coi a- là tiền tố, ta có adap-ter, Với a– là tiền tố có nghĩa là vào, –ter là hậu tố có nghĩa là vật, người và phần cốt lõi, phần gốc là –dap– . Ta thấy ngay –dap– chính là Việt ngữ dáp (ráp), lắp (d=l) như thế adapter có nghĩa là vật dáp vào, ráp vào, lắp vào. Trường hợp coi ad– là tiền tố, ta có adap-ter; tiền tố ad– cũng có nghĩa là vào, hậu tố -ter không thay đổi, phần cốt lõi chính ap– chính lá Việt ngữ áp như thế adapter có nghĩa là vật áp vào cùng nghĩa với dáp, lắp vào. Ta cũng thấy rõ với d, r và l câm dáp = ráp = lắp = áp.

Trường hợp thứ hai không có tiền tố, hậu tố mà chỉ có các lớp áo bọc ngoài hay râu ra thì ta chỉ cần cắt bỏ những thứ này đi để lấy phần cốt lõi chính của từ như Đức ngữ scurz, ngắn, cộc, cụt, cũn cỡn. Cắt bỏ s và z, còn lại –cur– = cụt = cũn (cỡn).

 

Vì Anh ngữ hay một từ ngoại ngữ đa âm nên có thể chọn lấy nhiều âm để chuyển qua Việt ngữ ví dụ crab có thể lấy âm cabrab.

a. lấy theo âm cab: c(r)ab = cab = cắp, cặp = /krép/ = kẹp. Con cua là con cắp con cặp, con kẹp vì có càng. Đức ngữ krebs, cua có k(r)eb = kẹp. Vì thế cua còn gọi là con càng, con còng (ở đây còng biến âm của càng). Theo b=m, cab = cam, cầm = kềm (kẹp), cây kềm = cây kẹp (pincers) ruột thịt với càng (pincers). Kềm = kẹp = cặp (kềm) = crab. Theo b=p, cab = cáp. Qua từ đôi cứng cáp, ta có cứng = cáp = crab. Con crab là con cáp, con cứng cáp đúng như Phạn ngữ karkata, cua liên hệ với karkata, cứng. Con cua là con cứng (có mai cứng) nên được xếp vào loài giáp xác.

b. lấy theo âm (c)rab = -rab, theo b=m, -rab = rạm. Rạm là một loài cua.

Như đã thấy vì Anh ngữ hay một từ ngoại ngữ đa âm khi chuyển qua Việt ngữ phải cắt bỏ bớt đi nên có thể coi những chữ này là những chữ câm (được ký hiệu bằng hai dấu ngoặc). Những chữ này thường là chữ thứ nhì thường thấy như là chữ (r) thứ nhì ví dụ giữa Pháp ngữ và Việt ngữ như chef de train = xếp tanh, transport = tăng bo, troupe = tốp… và Anh ngữ qua Việt ngữ như Anh ngữ cổ brus, vú =b(r)u-= bú, bụ (vú), crab = c(r )ab = cab = cắp, cặp, kẹp…, drain = d(r)ain = dãnh… (xem chữ câm).

 

Qui luật về âm trong Việt ngữ của nguyễn Xuân Quang:

 

.Vì âm trong Việt ngữ thay đổi theo thời gian và không gian, theo từng vùng từng địa phương và sự ký âm bằng các dấu giọng như không, huyền, ngã, nặng, hỏi và các mẫu tự dùng phiên âm lúc đầu (như a, ă, â, e, ê, I, o, ơ, ơ, u ư, d, gi, ch, tr, s, x…) có thể chỉ dựa vào tiếng nói cục bộ, địa phương, không thể dựa vào âm gốc nên không thể đem áp dụng một cách mù quáng những qui luật ngữ pháp, văn phạm của chữ quốc ngữ hiện nay vào công việc nghiên cứu tiếng Việt, nhiều lúc ta phải dựa vào âm của người cổ Việt không bị đóng khung bởi các dấu giọng, các nguyên âm hay các phụ âm tương đồng của chữ quốc ngữ hiện nay để dùng làm âm gốc rồi chọn lấy một dấu, một nguyên âm và những phụ âm (d hay đ hay gi, s hay x, ch hay tr…) thích ứng để làm một từ mà ta muốn nghiên cứu có được một nghĩa đúng nhất.

 

Ta có thể dùng công thức sau đây:

 

/Gốc âm cổ Việt/ = thông số của các Phụ âm tương đương với nhau P + thông số nguyên âm N (âm có thể theo các thứ tự PN, NP, PNP).

.Chuyển âm từ Anh ngữ nói riêng và ngoại ngữ nói chung qua Việt ngữ có thể dựa theo phát âm Anh ngữ hay Việt ngữ.

.Anh ngữ và các ngoại ngữ đa âm khi chuyển qua Việt ngữ cần chặt bỏ đầu tức tiền tố hay chặt bỏ đuôi tức hậu tố hay phải gọt bỏ bớt các lớp áo, râu ria bên ngoài để chỉ lấy âm lõi khi so sánh với Việt ngữ.

QUI LUẬT VỀ BIẾN ÂM

Biến âm lịch sử trong tiếng Việt xẩy ra giữa tất cả các nguyên âm và phụ âm (Tiếng Việt Huyền Diệu) nên tất cả các biến âm của ngôn ngữ loài người có thể tìm thấy trong tiếng Việt. Có thể dựa vào các chuyển âm, biến âm để truy tìm nghĩa ngữ, sự tương đồng giữa các từ trong tiếng Việt hay giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác và có thể dùng chuyển âm, biến âm từ mẫu âm hay nguyên âm qua phụ âm trong Việt ngữ vào việc truy tìm nguồn gốc ngôn ngữ loài người. Vì vậy để giản dị và dễ hiểu những qui tắc biến âm lịch sử, chuyển hóa thanh âm trong ngôn ngữ loài người tôi dựa vào ngay những qui tắc thấy trong Việt ngữ mà chúng ta nghe tận tai, thấy tận mắt hàng ngày, những qui luật này dân dã Việt nói và hiểu hàng ngày chứ không phải là riêng của các nhà ngữ học viết trên sách vở hay bàn luận với nhau. Đây là những qui tắc sống, hiện thực có trong ngôn ngữ Việt. Những qui luật này dĩ nhiên cũng thấy trong các ngôn ngữ khác mà các nhà ngôn ngữ học đã viết ví dụ định luật Grimm d=th, Đức ngữ die, das = Anh ngữ the, Latin deus, Sanskrit deva biến âm với Hy Lạp ngữ theos (thần thánh), trong Việt ngữ ta cũng có d=th, dẻo = thẻo; dư = thừa, duộc = thuộc…, đ = th, đậm = thẫm, đục = thục, đủng đỉnh = thủng thỉnh, đủi = thủi (đen)…

Như đã nói trong tiếng Việt tất cả các âm (nguyên âm lẫn phụ âm) đều có thể chuyển hóa với nhau nên biến âm với tất cả ngôn ngữ loài người (Tiếng Việt Huyền Diệu) vì thế Việt ngữ có nhiều từ cùng chỉ một thứ, mỗi từ liên hệ với âm của một ngôn ngữ liên hệ ví dụ như cộc liên hệ với Tây Ban Nha ngữ corto, với Anh ngữ short (theo c=s = sh, cộc = soọc = short) và ta cũng có từ cụt liên hệ với Đức ngữ kurz, Pháp ngữ court; Việt ngữ mạ, , măng, mầm, me, mẹ, mệ, mị, mợ, mụ liên hệ với tất cả các ngôn ngữ có từ mẹ khởi đầu bằng mẫu tự m… như maman, mère (Pháp ngữ), madre (Tây Ban Nha, Ý ngữ) , màe (Bồ Đào Nha ngữ), mama, mother, mom v. v…

Đặc biệt trong từ láy, thành tố láy của Việt ngữ có thể là các từ của nhiều ngôn ngữ khác liên hệ. Ví dụ từ mỏng, ta có mỏng manh thì manh là tiếng Pháp mince, mỏng; mỏng dính thì dính là anh ngữ thin (theo d=th, dính = thin), mỏng tanh, mỏng tang thì Gael và Irish tana, mỏng, Phạn ngữ tanu, mỏng và mỏng teng thì Welsh l à teneu, Latin là tenuis…

Những từ có cùng một gốc nghĩa nhưng âm khác nhau chút ít mà biến âm đúng theo các qui luật biến âm lịch sử coi như là những từ biến âm với nhau.

Ta cũng suy ra các từ Việt càng “nôm na mách qué” bao nhiêu tức càng thuần Việt bao nhiêu thì càng liên hệ mẹ con với Anh ngữ bấy nhiêu ví dụ Anh Ngữ bum, người lười biếng, rong chơi, cầu bơ cầu bất, bum liên hệ với Việt ngữ bợm; Anh Ngữ dud, dở, kém, ngu như “I’m a dud at language” (tôi là một thằng dở về ngôn ngữ). Dud chính là Việt ngữ đụt (các cụ ta mắng thằng đụt, sao mày đụt” thế), câu Anh ngữ vừa nói nếu nói theo nôm na là “tôi là một thằng đụt về ngôn ngữ”; dummy, người ngu ngốc có dum– = đần; Anh ngữ rum, kỳ cục, kỳ dị, a rum fellow, một người kỳ cục, rõ ràng rum = rởm, thói rởm. Ta thường nghe các em trẻ hiện nay nói thằng đó là thằng jerk. Từ jerk có nghĩa là giựt, kéo lẹ và đột ngột lên như lên cơn động kinh (kinh giựt), phản xạ gân khi bác sĩ dùng búa cao su gõ vào đầu gối, chân giựt mạnh lên. Việt ngữ không có mẫu tự “j”. Mẫu tự j tương đương với d, ch của Việt ngữ. Theo j = d như jeep = dép, díp (xe), ta có jerk = dựt, dật, (giựt, giật). Như thế thằng jerk là thằng giựt. Nhưng nếu theo biến âm j = ch như Java = Chà Và (người miền Nam gọi người Java là Chà Và. Người Chà Và ở miền Nam bây giờ gọi tắt là người Chà như người Chà Châu Giang là những người Hồi giáo gốc Java), ta có jerk = chớn. Thằng jerk là thằng cà chớn. Theo ch = tr, chớn = trợn, ba trợn. Như vậy thằng jerk là thằng cà giựt, cà chớn, ba trợn. Ta cũng thấy “dựt” liên hệ với “chớn” như chiếc xe để “ga-răng-ti” già quá, tức có nhiều “chớn”, có “chớn” quá, lúc khởi chạy thường giựt mạnh, cà giựt, cà giựt…

Có thể chia biến âm ra nhiều trường hợp:

a. Biến âm mẹ con: cùng âm, cùng vần, cùng nghĩa, cùng mặt chữ như Anh ngữ bad, xấu, tồi phát âm /bét/ = bét (chót như hạng bét, về bét), bết (tồi, xấu), (bối)…; cut = cắt; dais, bệ cao = đài, deuce có deu- = đều…

b. Biến âm chị em: khác âm, cùng vần, cùng nghĩa như = mờ, chat (Pháp ngữ), mèo = cat (Anh Ngữ) , (h câm), fly, bay = phi (Hán Việt), bay; blue = bleu (Pháp ngữ) = blu (Ý) = blau Đức)

b. Biến âm họ hàng gần (con chú con bác): khác vần cùng âm, cùng nghĩa: đây = này, nầy, đó = nọ, nớ (theo đ=n); blank (để trắng, trống) = blanc (Pháp ngữ) = cổ ngữ Việt blắng = Việt hiện kim trắng (bl = tr như Chúa Blời = Chúa Trời).

c. Biến âm họ hàng xa: cùng hay khác vần, cùng âm hay khác âm và nghĩa đã xa hay nghĩa lệch đi như đó = nớ = . Nó có gốc hai ba đời là đó. Nó là người nớ, người đó, nghĩa đã xa nếu không để ý khó mà biết là “nó” do “đó” mà ra. Từ y là nó cũng vậy, ta có đấy = ấy = ý (cái đấy = cái ấy = cái ý). Với đ câm đấy = ấy, với a câm, ấy = ý (hay biến âm ay = y cũng vậy). Ở đây đã biến âm hai lần, đã khác âm, khác vần, nếu không truy tìm kỹ thì không biết là “y” (nó) có biến âm từ “đấy” (đó). Anh ngữ foot, chân = boot, giầy (biến âm f=b với nghĩa đã biến đi, nhưng giầy liên hệ với chân).

Xem thêm chương Biến Âm trong Tiếng Việt Huyền Diệu.

 

Qui luật biến âm trong Việt ngữ của nguyễn Xuân Quang:

 

Biến âm lịch sử trong tiếng Việt xẩy ra giữa tất cả các nguyên âm và phụ âm nên các qui luật biến âm của ngôn ngữ loài người có thể tìm thấy trong tiếng Việt. Để giản dị và dễ hiểu, ta có thể dựa ngay vào những qui tắc biến âm lịch sử sống, hiện thực có trong ngôn ngữ Việt mà chúng ta nghe tận tai, thấy tận mắt hàng ngày.

Có thể dựa vào các chuyển âm, biến âm để truy tìm nghĩa ngữ, sự tương đồng giữa các từ trong tiếng Việt hay giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác và có thể dùng sự chuyển âm, biến âm từ mẫu âm (hay nguyên âm) qua phụ âm trong Việt ngữ vào việc truy tìm nguồn gốc ngôn ngữ loài người.

Biến âm có thể là biến âm mẹ con, biến âm chị em, biến âm họ hàng gần (con cô con dì) và biến âm họ hàng xa.

Các từ càng cổ càng gần gốc của cây ngôn ngữ loài người càng ruột thịt. Biến âm có thể dựa theo cách phát âm của Việt ngữ hay Anh ngữ và biến âm có thể dựa trên mặt chữ quốc ngữ.

HỌC ANH NGỮ BẰNG TIẾNG VIỆT QUA BIẾN ÂM.

Xin đưa ra một vài ví dụ tiêu biểu và quen thuộc dùng hàng ngày.

 

1. Biến âm mẹ con: cùng âm, cùng vần, cùng nghĩa, cùng mặt chữ.

ace, số một = Việt ngữ cổ ạc, ạch, áy có nghĩa là một, một mình.

Tên lá bài số một (con ách, con ết, con xì, con yêu trong bài tổ tôm) hay mặt số một của con lúc lắc, cú giao banh tennis “ết” địch thủ bó tay không làm gì được, hay cú quất ace trong đánh golf là một cú quất duy nhất mà banh rơi ngay vào lỗ.

.ace = Việt ngữ cổ ạc, ạch, áy có nghĩa là một mình (Huỳnh Tịnh Paulus Của).

.ace = /ết/ = ên, ơn, yêumột.

./ết/ = phương ngữ Huế éc, một mình như bừa éc là bừa với một con thú (trâu hoặc bò).

./ết/ = Phạn ngữ eka, một. Eka đẻ ra ek = éc = ace và có -ka = cả (có một nghĩa là đứng đầu, số một như con cả, anh cả, vợ cả).

.Việt ngữ con bài ách, ết là phiên âm của ace. Ace phát âm theo Pháp ngữ ách-xì và theo Anh ngữ ết cùng âm với x (ếch xì) vì thế mới có tên là con xì (bỏ âm đầu).

.con bài yêu trong tổ tôm biến âm với eo như bát chiết yêu là bát thắt eo. Theo biến âm kiểu eo ếch ta có eo = ếch = ace. Yêu = eo = ếch = ace = Phạn ngữ ek(a), một.

I = /ai/ = Việt ngữ ai (tôi).

I, tôi, ta, tớ, tao

Việt ngữ có một từ cổ nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít là từ ai. Tôi nói ai là từ cổ vì trong ngôn ngữ thông dụng, từ ai ít còn được dùng nữa. Từ ai hầu như chỉ còn thấy dùng ở vùng quê hay trong ca dao tục ngữ. Ví dụ như câu nói: “Ai đây đâu có cần” có nghĩa là “Tôi đây đâu có cần”. Ta thấy rất rõ từ “ai” cũng đi đôi với từ “đây” giống như “tôi đây”, “ta đây. “Ai đây” là tiếng đôi điệp nghĩa: ai = đây. Thật vậy theo đ câm như đẩy = ẩy, ta có đây = ây = ai. Nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng đã nhận ra “ai” có nghĩa là tôi. Ông đưa ra một biểu đối chiếu:

Sơ Đăng: A = tôi.

Nam Dương: A Ku = tôi.

Nhật Bổn: (Wat) A Ku (shi): tôi.

Thượng Cổ Việt: Ai = tôi.

Khả Lá Vàng: Ai = tôi.

Lào: Anh = tôi.

Mạ: Any = tôi.

(Bình Nguyên Lộc, Lột Trần Việt Ngữ, tr.24).

So sánh với Anh ngữ “I”, (tôi) phát âm là “ai”, ta thấy cổ ngữ Việt “ai” chính là Anh ngữ “I”. Kiểm chứng với qui luật biến âm ai= I như cái gì = kí gì, ta có Ai = I. Việt ngữ ai, Anh ngữ I liên hệ với Đức ngữ “ich”, tôi. Thâm cứu thêm ta cũng thấy nhân xưng đại danh từ ngôi thứ nhất số ít của Ấn-Âu ngữ cũng có nghĩa là “đây”. Ta thấy Đức ngữ “ich”, tôi, gần âm với Pháp ngữ “ici”, đây. Anh ngữ “here”, đây, phát âm là “hia”. Với h câm ta có hia= ia = I. Ý ngữ “io”, tôi, ruột thịt với ia, here. Trong Việt ngữ có biến âm ia = ai như phía = phái, vía = vái, mỉa = mai vậy here (hia), ere (ia) = ai. Như thế Anh ngữ I cũng hàm nghĩa “here”, đây, y chang như Việt ngữ ai, ây, đây, tây, tôi…(Tiếng Việt Huyền Diệu).

Đây là một trong mười lăm từ được cho là quân bằng nhất dùng để so sánh xem hai ngôn ngữ có liên hệ với nhau không. Qua từ này, ta thấy Việt ngữ và Ấn Âu ngữ liên hệ với nhau 1/15.

.Qua Phụ Âm

bake, nướng, nung (gạch) = Việt ngữ bác.

Bake có cổ ngữ Anh là bacan, Đức ngữ back, backen là bake, liên hệ với Phạn ngữ pac-, Averan pac– (c có dấu ă), cook (nấu), to bake (nướng).

.bake = Việt ngữ bác, bắc (nấu trên lửa không cho thêm dầu mỡ vào, một hình thức nướng) như bác trứng, trứng bác, bác tương, tương bác. Rõ ràng bake = bacan = pac- = bác.

.bake = bếp (nghĩa lệch) xem chữ kitchen.

bakery, tiệm bánh mì, tiệm bánh.

nguyên thủy chỉ các loại bánh đem bỏ lò nướng như bánh mì, ngày nay chỉ chung tiệm bán bánh. Như thế bánh cũng có thể liên hệ với bake.

log = Việt ngữ lộc (cây), lóc (liên hệ với khúc cây), lốc (liên hệ với bộ phận sinh dục nữ), Hán Việt, lộc (hươu nọc), lục (biên chép, ghi lại)…

 

(1), khúc gỗ, thân cây.

Phần thân cây đã chặt bỏ hết cành lá: backlog, khúc cây lớn phía sau lò sưởi.

.log = lộc, thường hiểu theo nghĩa lệch là lá non như đâm chồi nẩy lộc, hái lộc đầu xuân (mùa xuân cây thường ra lá non, ra lộc và lộc cũng có nghĩa là lộc may mắn vì thế mới hái lộc để có lộc. Lộc may mắn chính là lucky. Luc- = lộc). Tuy nhiên lộc cũng còn có nghĩa là thân cây trơ trụi lá như khúc cây log, đến mùa xuân lại đâm chồi nẩy lộc như thấy qua bài ca dao:

Bồng bồng cái lộc ra hoa,

Một đàn vợ lính chẩy ra thăm chồng…

 

Từ lộc ở đây phải hiểu là thân cây trơ trụi lá tức log. Cây mới ra hoa. Có những loài cây mùa đông rụng hết lá chỉ còn thân cây lộc, log và đến mùa xuân lại ra hoa rồi mới ra lá như hoa đào, hoa mơ, hoa mận. Vì thế cái lộc ra hoa chỉ các loại cây này. Còn hiểu lộc là lá non, theo tôi, không đúng. Lá non làm sao mà ra hoa được.

.log = Việt ngữ lóc, từ đôi lăn lóc với lăn = lóc; lóc là lăn như khúc cây log. Ta nói ngủ lăn lóc, ngủ lăn, ngủ lóc chính là Anh ngữ to sleep as a log.

. log = lốc.

lốc ám chỉ bộ phận sinh dục nữ như thấy qua câu ca dao:

Cô lô cô lốc,

Một nghìn ghính ốc đổ vào l… cô.

Thật ra phải viết là “cô lô cô nốc” mới đúng. Từ hiện kim “lốc” cũng có thể coi là dạng nam hóa của nốc giống như lõ của nõ. L dạng nam hóa N (Tiếng Việt Huyền Diệu). Theo l= n, lốc = nốc. Nốc, nốt ngày nay hiểu là thuyền nhỏ:

Ăn thì cúi chốc, kéo nốc thì than.

(Tục ngữ).

Ăn thì cắm đầu xuống ăn, còn kéo thuyền thì than.

Nguyên khởi nốc là thuyền độc mộc khoét từ một thân cây, một khúc cây “log” (dug-out). Nốc gốc từ log. Nốc là ghe mà ghe có một nghĩa chỉ bộ phận sinh dục nữ như muốn chửi ai thì đem biếu ba chén chè, cho ăn “ba chè” là cho ăn “ghe bà” (xem ship). Nốc cùng nghĩa với đốc, từ này cũng chỉ bộ phận sinh dục nữ. Mồng đốc (clitoris) là mồng thịt ở bộ phận sinh dục nữ.

.log = Hán Việt lộc, con hươu. Con lộc chính là con log. Lộc, log chính là Việt ngữ nọc. Theo l=n, log = lộc = nọc (L dạng nam hóa N). Con hươu là con hèo, con nọc, con lộc, con log (xem hart). Con nọc là con cọc, con vật có sừng vì thế mà con hươu sừng trên bàn Bầu Cua có tên là con Cọc thay vì nói Cọp. Phải nói là Bầu Cua Cá Cọc thay vì Bầu Cua Cá Cọp (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc).

-log (2), dụng cụ dùng như cái phao có phần khúc cây như cái nọc cắm dọc theo đường tầu đi để đo vận tốc của tầu thuyền.

-log (3), ghi chép, biên chép sự việc xẩy ra, trình ký, nhật ký, ghi vào sổ sự việc xẩy ra hàng ngày (hải trình của tầu thủy, phi trình của phi cơ, của bác sĩ, y tá, cảnh sát trực gác hàng ngày. . . cùng nghĩa với log-book, log-board.

-log (4), (Vi Tính)

1. hồ sơ viết, ghi lại những thư từ, thư tín gởi đi hay nhận: email log.

2. hồ sơ theo dõi sự móc nối của mạng vụ (network).

3. blog do hai từ web log lồng vào nhau (b của web + log) có nghĩa là mạng ký lục, báo mạng, nhật ký mạng, nhật trình mạng (xem blog).

Ngày xưa ghi lại sự việc bằng cách khắc trên cây cọc, cây nêu, thân cây, tấm ván, tấm bảng (xem log). Log = lục (Hán Việt), biên chép, ghi vào sổ như ký lục, mục lục, mạn lục, tạp lục.

log, log on, log out (Vi Tính), vào, mở log, ra, đóng log, xem chữ log (4).

xero– (gốc chữ Hy Lạp) = Việt ngữ se (khô)

Gốc xero- có nghĩa là khô. Ví dụ xeroderma, da khô.

Latin siccus, khô.

.xer- = se, khô như trời se sắt, quần áo phơi đã se,

Đông chết se, hè chết lụt.

Cây lúa về mùa đông ít nước dễ bị chết vì khô và mùa hè nhiều mưa dễ bị chết vì lụt.

.xer- = sắt (khô) = sec (Pháp ngữ),(Latin) secco (Ý ngữ), seco (Tây Ban Nha ngữ), siccus (Latin), çuska (Phạn ngữ), khô. Từ láy se sắt có se = sắt = khô; người hay mặt nó sắt lại, hay khô sắt lại. Ainu ngữ (thổ dân ở Nhật Bản) sat, khô.

.xer- = sấy (làm khô). Theo biến âm kiểu se sẩy, ta có xer- = xấy, sấy, như cơm sấy, sấy cau.

-xer- = sẩy như rôm sẩy là chứng mẩn thường thầy ở trẻ em do nóng, Anh Mỹ gọi là “heat rash”.

.xer- = sao (rang khô) như sao thuốc bắc, liên hệ với PIE *sau-s / *su-s, khô.

2. Biến âm chị em: khác âm, cùng vần, cùng nghĩa.

ser-, serv– (gốc chữ) = Việt ngữ seo, , sai, sài, sãi, sâu, xâu, sửa, Hán Việt sưu…

gốc ser-, serv- đẻ ra các từ servant, serve, service…

có nghĩa là làm, sự vụ, sự việc, dịch vụ, hầu hạ, phục dịch, ở đợ,

Phạn ngữ sev, to serve, to inhabit, hầu hạ, phục dịch, ở; sevâ, service, dịch vụ, phục dịch, sevin, serving, dwelling (ở), liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, bảo vệ, to keep, gìn giữ, to preserve, tồn giữ, make safe, giữ an toàn, chăm sóc.

.serv- = sâu, xâu, như đi làm xâu, Hán Việt sưu là công việc dân phải làm để phục dịch cho nhà nước như trốn xâu lậu thuế, sưu dịch, sưu cao thuế nặng.

.ser- = seo, (người sai bảo, phục dịch, mõ) (xem dưới).

ser- = sai có nghĩa là bắt làm như sai bảo, sai làm, khổ sai; người sai bảo tức người làm, đứa ở, đầy tớ, nô lệ.

.ser-= sài (dùng làm việc).

.ser- = sãi, người làm, tôi tớ xem chữ servant ở dưới.

.ser- = sể, xể, từ kép sài sể, xài xể có nghĩa là mắng chửi nhưng gốc là mắng chửi kèm theo hình phạt bắt làm việc cực khổ.

.theo s=ch, sev-, serv- = cheo. Việt ngữ cheo là tiền phạt cho làng, nếu không có tiền thì phải làm “xâu” cho làng cũng có thể có nguồn gốc ở đây, Tương tự từ sêu như sêu tết là đem quà cáp biếu nhà vợ, nguyên thủy có thể là vào dịp lễ tết người rể tương lai phải đến nhà vợ hầu hạ, phục dịch làm xâu. Sau đó dùng quà biếu thay cho phục dịch, làm xâu gọi là sêu. Từ đôi biếu sén có biếu = sén với sén biến âm với sev-, serv.

.ser- = săn, sóc, săn sóc = chăn sóc = chăm sóc, liên hệ với gốc Phạn ngữ sar, to protect, gìn giữ, chăm sóc, có sar = săn, sóc.

.ser- = sửa (chữa) xem chữ service.

servant

có gốc serv- ruột thịt với Phạn Ngữ sevaka, a servant, Latin servus, nô lệ.

1. người hầu, làm công, đầy tớ, sai việc, người làm, người ở, public servants: công chức, công bộc.

theo s=c=h, sev- = sâu, xâu = hầu (hạ).

2. seo, còn gọi là mõ. Mõ là người hầu hạ, phục dịch làng xóm., thường đi rao tin: “mõ này cả tiếng lại dài hơi”, theo m=b, mõ = , người hẩu lớn tuổi như bõ già.

serv- = seo, sá.

3. sãi. Người làm công, làm mướn, phục dịch cũng gọi là sãi như thấy qua câu:

 

Thứ nhất là quản voi già,

Thứ nhì trầu miếng (bán lẻ), thứ ba sãi đò.

(cadao.)

Sãi đò là người phu chèo đò, làm công chèo đò. Sãi biến âm với sai (sai bảo, sai làm), sài (dùng làm việc). Ta thấy sev-,ser-.= sãi, sai, sài.

4. tôi của chúa (chỉ các giáo sĩ, tu sĩ, bà phước v.v…)

Những người phục dịch, tôi tớ Phật Chúa gọi là sãi như sãi chùa là người làm công (quả) ở chùa: Con vua thì lại làm vua, Con sãi ở chùa lại quét lá đa . Trong Thiên Chúa giáo, sãi là bầy tôi của Chúa. Trong Thánh mẫu Thiên Chúa, trung quyển của Girolamo Maiorica, trang 38 (chữ Nôm thế kỷ 17) có câu “Các thánh tổ tông kính duệ vị la sãi. . dỗ mệnh” tương ứng với “các thánh tổ tông kính dái (vái) vì là thầy dậy dỗ mình”. Ta thấy sãi Chúa dịch là thầy (tức thầy tu). Thái Lan ngữ servant, chai. Theo ch=s, chai = sãi.

Sãi ruột thịt với sai như sai bảo, sai việc, sai vặt, sai làm; với sài (dùng làm) (xem trên).

serve, cú giao banh (tennis) hàm nghĩa “phục dịch”, “hầu banh”, có gốc serv- (xem chữ này). Theo s=ch =tr =gi, ser- = sao = trao = giao (banh).

nausea = Việt Việt ngữ nôn, nao (nôn).

1. buồn nôn, buồn ói, buồn mửa.

2. say sóng.

3. làm cho buồn nôn, buồn mửa, lợm giọng, kinh tởm.

nau– = nao như nao nao, nôn nao, nôn. Nausea có gốc na-, nước. Nau- = nao (nôn nao). Từ láy nôn nao có nghĩa là nôn = nao. Nao có gốc na- nã, nác là nước. Nausea, nôn nao liên hệ tới sóng nước như thấy qua từ nao nao:

Nao nao dòng nước uốn quanh,

Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Nguyễn Du, Kiều)

Nao nao, lao đao là cảm giác chuếnh choáng, lênh đênh như say sóng. Rõ hơn nao biến âm với Phạn ngữ nau là cái tầu, thuyền. Theo n=t, nau = tầu. Nôn, nao là cảm giác muốn ói mửa liên hệ với sóng nước, thuyền bè, say sóng. Ta cũng thấy nôn, nao biến âm với Phạn ngữ snuh, to vomit, -nuh = nôn, biến âm với nước, nốc (thuyền). Pháp ngữ nausée, Anh ngữ nausea, Hy Lạp nausia, buồn nôn có gốc na-, nuớc, naus-, thuyền, tầu liện hệ với Phạn ngữ nau (tầu thuyền). Nôn, nao, nausea là cảm giác buồn ói, buồn mửa như khi đi thuyền tầu, như khi bị say sóng.

Từ nau trong hai câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu:

Trắng răng đến thủa bạc đầu,

Tử sinh kinh cụ làm nau mấy lần.

hiện nay hầu hết mọi người đều hiểu nghĩa nauđau theo qui luật biến âm đ = n, đau = nau. Tuy nhiên ta cũng có thể hiểu nau biến âm trực tiếp với nao, với Phạn ngữ nau (tầu, thuyền”) có nghĩa là nao nao, lao đao, lao chao, chao đảo… “Tử sinh kinh cụ” làm cho lao đao, lao chao, chao đảo… ngất ngư con tầu đi “mấy lần”.

one = Việt ngữ ơn, ên (một).

one, một, mốt, mỗi, ơn, ên, éc, chắc, chiếc.

.có on- = ơn (một) như mình ơn là một mình. Ơn là một cũng có nghĩa là một. Trời là số 1. Solo, solamente (Tây Ban Nha ngữ), seul (pháp ngữ), một mình ruột thịt với sol, soleil (Pháp ngữ), mặt trời. Mặt trời là dương là đực là nọc biểu tượng bằng chữ nọc (I) tức số 1.

.on- = ên, một, một mình, ên biến âm với ơn, ên là một mình thấy qua bài đồng dao:

Úp chén úp dĩa,

Đĩa ngu đĩa ngốc,

Con cóc cụt đuôi,

Ở bờ ở bụi,

Dạ thưa cùng thầy,

Con lớn mình ên…

Ên liên hệ với Danmark ngữ en, Sweden ngữ en, Hòa Lan ngữ e:n, Đức ngữ ein; Hy Lạp ngữ enas, Anh ngữ a, an, one, Pháp ngữ un, Tây Ban Nha ngữ un, uno, Wel. un, Pháp ngữ eka…, một.

.one = oi (ít oi), ỏi (ít ỏi) (nghĩa lệch). .

3. Biến âm họ hàng gần (con chú con bác): khác vần, cùng âm, cùng nghĩa:

gene = Hán Việt sinh.

1. sinh, sinh đẻ, sinh ra, sinh sản, sản, sinh tạo.

2. di thể, di truyền, đời, đại, thế hệ.

3. gen (phiên âm).

gene ruột thịt với Phạn ngữ ga, gan, sinh, sinh ra, sinh sản, sản xuất, liên hệ với Hy Lạp ngữ genos, genus, chủng loại, con cháu, gen liên hệ với Phạn ngữ jan- ja-,đẻ; ja- = dạ, đẻ, jana-, people (người), jana+ta, mankind (nhân loại).

.theo g=s, gene = sanh, sinh như genital, thuộc về sinh dục, endogen, nội sinh, exogen, ngoại sinh, Phạn ngữ gan = sản.

.theo g= d, ge- = di (di truyền, di thể), di duệ, gen- = dân, nhân (người) như ginseng = nhân sâm, củ sâm có hình người (xem gens).

.theo g=h, ge- = hệ (tộc hệ, thế hệ, phả hệ, phổ hệ, gia hệ, truyền hệ, hệ phái), ge- = họ, Phạn ngữ gan = hàng (họ hàng). Ta thấy hàng (line) có cùng nghĩa với dòng (line) giống như hàng chữ = dòng chữ.

.theo g=gi, gen-, = giống (nòi), giòng (dòng dõi).

.theo g=c=k, gene = kin, dòng dõi, huyết tộc, bà con họ hàng.…

Ở đây ta thấy gene =- kin = con với từ con có nghĩa là họ hàng trong chữ bà con và con là con cháu, con vật nhỏ như catkin, mèo con. Phạn ngữ gan = con.

.theo g=ch, gen- = chủng như generic, thuộc về chủng loại.

talk = Việt ngữ thốt.

talk, nói, nói chuyện.

có thể liên kết với Phạn ngữ tark, to suppode, speak.

.theo t=th, talk = thốt (nói) như thốt ra lời, thưa thốt (biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe), thề thốt.

.talk = tọc (mạch), thóc (mách). Qua từ đôi tọc mạch, thóc mách, ta có tọc = thóc = mạch, mách có nghĩa là nói như mách mẹ, mách qué (nói chuyện que, chuyện cọc, chuyện đọc, chuyện đục, chuyện tục)… Theo m=b, mạch, mách = bạch (nói) như bạch thầy, biện bạch. Theo b=v, mách = vách (nói vanh vách), liên hệ với Phạn ngữ vac-, vach (speak, say).

.talk = ton (hót) (nghĩa lệch).

 

jack = Việt ngữ đặc (đực, con trai).

Jack có nghĩa là đực (jack hare = thỏ đực), bồi (người), con bài bồi.

.theo j=đ, jack = đặc. Đặc biến âm với đực. Đặc là đực như tre đặctre đực.

.Bồi là phiên âm của “boy”, con trai. Bồi là đứa hầu trai trong khi sen là con hầu nước gái. Thằng bồi, thằng boy có “bòi”, có buồi, có cặc (Tiếng Việt Huyền Diệu). Theo j=ch, jack = chắc = cặc (h câm). Vì thế jack cũng có nghĩa là con trai, đực. Hồi ở trung học, học Anh văn khởi đầu bằng quyển L’Anglais Vivant, một trong những câu học đầu tiên là Jack is a boy. Jack là thằng bòi, thằng cu. Hồi đó nghịch ngợm nên thường đùa là “Jack ỉa bôi”. Anh Mỹ gọi con trai là jack giống như chúng ta gọi thằng cu. Chắc cũng còn nghĩa là một (1) như một chắc là một mình, liên hệ với Pháp ngữ chaque (mỗi, một), chacun (mỗi người). Một viết theo chữ nòng nọc có hình cây que, cây nọc, cây cọc (1). Nọc là đực là dương, con trai, đàn ông.

.Jack = đạc = đục, còn gọi là cái chàng (chisel) là một thứ nọc nhọn, vật nhọn biểu tượng cho bộ phận sinh dục nam. Chàng trai có đục, có chàng. Chàng còn có nghĩa là lang người con trai, người nam trẻ. Ở trên ta đã thấy Jack là chắc là một. Một mặt trời như thấy solo, solamente, seul… ruột thịt với sol, mặt trời. Bọc trứng (nang) của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra Trăm Lang Hùng toàn là con trai. Cái nang trứng này sinh ra toàn là lang, là chàng, là đục, là đực, là dương, là mặt trời là nhìn theo dòng dương, dòng lửa, dòng mặt trời tức dương nữ, tức thái dương thần nữ, Mẹ Tổ Âu Cơ có mạng Tốn viết theo chữ nòng nọc là OII (hào âm trên hai hào dương). Giải tự OII ra ta có hào âm O là Nàng và hai hào dương II là thái dương, lửa (hai dùi nọc làm ra lửa). Mẹ Tổ Âu Cơ là Nàng Thái Dương, Nàng Lửa là Thái Dương Thần Nữ của chúng ta (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Vậy truyền thuyết này là của các tộc Việt thuộc ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ thuộc nhánh Kì Dương Vương là các tộc Kì, Kẻ (vừa có nghĩa là người, vừa có nghĩa là chỗ ở, vùng đất cao, vùng núi) ở vùng cao vùng núi (Mẹ Tổ Âu Cơ dẫn năm mươi con lên núi). Đây là truyền thuyết Mường Việt cổ. Cũng xin nhắc lại người Mường coi trọng, tôn thờ Mẹ Tổ Ngu Cơ hơn Cha Tổ Lạc Long Quân vì thuộc tộc núi, nhánh Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ. Bọc trứng này mang dương tính là nhìn theo diện bọc trứng chim, ngành nọc lửa. Nhìn theo diện nòng nước của Lạc Long Quân, phần âm của bọc trứng tức tròng trắng ứng với không gian sinh ra trăm con gái, trăm Mẹ Nàng, Mỵ Nương.

Chiếc Jack trên lá cờ Anh cũng mang nghĩa dân dã là đực, lang chàng và mang nghĩa vua chúa là mặt trời.

 

jack, chiếc trục xe, cây chống, cái đỡ, con đội xe (Trung Nam), chiếc kích (Bắc).

Theo j=ch=tr, jack là chắc, là cặccọc, là chông, là cây nọc chống. Con đội xe jack là cây chống xe. Từ kích của miền Bắc biến âm với cặc. Hán Việt kích (một lọai khí giới nhọn) cũng có nghĩa là cọc nhọn hàm nghĩa bộ phận sinh dục nam. Kích biến âm với cặc. Mã Lai Nam Dương có một loại dao găm thiêng tên là kris cũng cùng âm với kích.

 

jack fruit, quả mít.

Tại sao Anh Mỹ gọi mít là jack fruit? Như trên đã thấy jack hàm nghĩa cọc, cặc, chiếc kích, bộ phận sinh dục nam, con trai. Jack là cặc, là cọc. Jack là đặc, là đực, con trai. Đây là lý do tại sao Tây phương gọi quả mít là jack fruit. Trái mít gọi là trái đực, trái con trai vì quả mít khi còn non trông giống hòn dái phái nam. Chúng ta gọi quả mít non mới ra là dái mít. Anh Mỹ gọi quả mít là jack fruit là gọi theo tên dái mít, quả mít khi còn non mới ra.

jack-o’-lantern, đèn bí ngô, đèn ma, ma trơi.

Vào khoảng thế kỷ 14, tại Anh đầy rẫy những tội ác. Vua Charles II cho thành lập những đội ngũ nhân dân tự vệ gìn giữ anh ninh. Những thanh niên, trai tráng ban đêm đi tuần thường mang theo đèn, dân chúng gọi là “jack of lantern” (“những chàng cầm đèn”), sau giản lược thành jack-o-lantern. Jack có nghĩa là con trai, trai tráng (xem jack).

Về sau từ này chỉ những loại đèn lập lòe trong đêm làm bằng bí ngô hay củ cải của trẻ em vào dịp lễ Halloween hay đèn ma, ma trơi.

4. Biến âm họ hàng xa: cùng hay khác vần, cùng âm hay khác âm và nghĩa đã xa hay nghĩa lệch đi.

air, không khí, gió = Việt ngữ e, e e (khóc) è è (thở), à (thở ra), ơi (hơi), ào, ào ào (thở, gió).

Trung cổ Anh ngữ eir, Latin aer, liên hệ với hơi, thở, gió, liên hệ với Phạn ngữ vá, gốc Aryan-Phạn ngữ wa, thổi, thở, theo w = u, ta có vá = uá, wa = ùa (gió ùa vào) = u a, theo v= w = o, vá = óa, òa (khóc), wa = oa, oa oa; u a, oa oa tiếng khóc chào đời của trẻ sơ sinh tức hơi thở đầu tiên của con người.

.air = /e/ (Việt ngữ e) = e, e, oe, oe, tiếng khóc chào đời, hơi thở đầu đời. Thở è è, thở ì ạch.

.air = ơi, hơi (với h câm, hơi = ơi = air).

.air = à, hà, hà hơi, hít hà (thở), với h câm, hà = à = air, Phạn ngữ an-, ana-, thở.

.air = ào, ào ào, thở ào ào giống như gió thổi ào ào liên hệ với Phạn ngữ aw, to blow (thổi).

.air = ùa (gió ùa vào), lùa (gió) liên hệ với Phạn ngữ wa, to breathe, thở, to blow, thổi.

Ta thấy rất rõ Phạn ngữ wa (thở) ruột thịt với tiếng khóc chào đời u a, oa oa của con người, theo w= uu, ta có wa = uu a = u a (oa oa, oe oe). Trong Tiếng Việt Huyền Diệu, tôi đã chứng minh rằng từ u a là hơi thở đầu đời, là nguồn cội của ngôn ngữ loài người. Từ U của Việt ngữ là tiếng nói, là nguồn gốc của ngôn ngữ loài người. Ta cũng thấy âm chính, chủ âm, mẫu âm, nguyên âm vowel của tiếng nói loài người chuyển từ tiếng kêu, tiếng nói của loài vật, chính là hơi thở đầu đời, tức là tiếng khóc u a. Hơi thở đầu tiên là không khí, gió (air) ùa vào phổi chính là âm của Việt ngữ U, a, Phạn ngữ vá, gốc Aryan-Phạn ngữ wa, thổi, thở, chính là tiếng u a, oe, oa oa, oe oe. Thay v=u, rõ như hai năm là mười, vowel có vo- = u o, u a, u e. Tiếng nói là âm, thanh, thanh âm. Anh ngữ noise là âm, tiếng, tiếng động chính là Việt ngữ nói [noi (se) = nói]. Tiếng nói đầu tiên của con người chính là tiếng thở u,a, o a, oa oa, oe oe. Tiếng nói bập bẹ đầu tiên của trẻ thơ là những tiếng u ơ. Trẻ thơ u ơ hóng chuyện tập nói tiếng nói đầu tiên. Tiếng nói cuối cùng của con người khi tắt thở là những tiếng ú ớ. Ta thấy rất rõ Latin cổ uox, (Latin hiện kim vox) là voix, voice, tiếng, tiếng nói có uo- chính là u ơ là tiếng nói đầu tiên của trẻ thơ Việt Nam và cũng chính là tiếng ú ớ của một người Việt Nam khi tắt thở ((xem thêm chương Tiếng Việt và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người trong Tiếng Việt Huyền Diệu).

fan, quạt = phành, phành phạch (quạt) = Mường ngữ phán (phướn) liên hệ với cờ, quạt.

fan liên hệ với Phạn ngữ vá, gốc Aryan-Phạn ngữ wa, thổi, thở, theo w = u, ta có vá = uá, wa = ùa (gió ùa vào) = u a, theo v= w = o, vá = óa, òa (khóc), wa = oa, oa oa; u a, oa oa tiếng khóc chào đời của trẻ sơ sinh tức hơi thở đầu tiên của con người (xem Tiếng Việt và Nguồn Gốc Ngôn Ngữ Loài Người). Latin uannus, quạt có ua- = ùa. Theo f=v= w, fan có fa- liên hệ với Phạn ngữ vá, với gốc Aryan-Phạn ngữ wa, thổi, thở.

Ta cũng thấy fan = van, quạt, máy quạt để sẩy lúa (xem chữ van này). Quạt liên hệ với Phạn Ngữ vát, to fan (quạt). Ở miền Bắc Việt Nam có một làng nghề chuyên làm quạt có tên là làng Vát. Vát chính là Phạn ngữ vat, quạt.

.theo f=ph, fan = phành, quạt phành phạch, phần phật (gió). Quạt là tạo ra gió. Bà Hồ Xuân Hương quả là một thiên tài đã dùng từ phành trong bài thơ Vịnh Cái Quạt:

Phành ra ba góc da còn méo,

Xếp lại đôi bên thịt vẫn thừa.

.theo f=ph, fan = Mường ngữ phán, Việt ngữ phướn, một dạng cổ của cờ dùng trong các lễ hội, tang ma. Theo b=ph, Anh ngữ banner (phướn, phán) = fan = phán, phướn. Ta thấy rất rõ cờ phướn, cờ phán ruột thịt với quạt fan. Qua từ đi đôi phất cờ ta có phất = cờ. Ta thấy rất rõ phất = Anh ngữ flag (cờ) = phất phới, phất phơ, phần phật….

.theo qu- = v = w, quạt có qua- = gốc Aryan-Phạn ngữ wa, thổi, thở.

.theo f=ph, to fan = phất liên hệ với gió như phất phới; phất phơ với phật như phần phật.

.theo v=m, Phạn ngữ vát = mát. Theo v=qu, vát = quạt. Rõ ràng vát = mát = quạt, liên hệ với Phạn ngữ wa, thổi, với vâta (gió). Quạt là làm cho mát, liên hệ với mát: “mát mặt anh hùng khi tắt gió”(Hồ Xuân Hương).

.theo f=m, fan = man hàm nghĩa mát như thấy qua từ đôi man mát (hơi mát).

.theo f=ph, flag = phất = phơ. Theo v=b=ph= qu = c, phơ = quơ, quờ = cờ = phơ, phất. Qua từ đôi cờ quạt ta có cờ = quạt, như thế quạt = cờ = quơ = phơ = phát = flag.

key = Việt ngữ chìa khóa.

1. chìa khóa.

2. chốt (sắt), nêm, mộng gỗ; đóng chốt sắt, đóng nêm cho chặt, đóng ráp mộng.

3. có nghĩa bóng là mấu chốt, bí quyết (của một chuyện gì).

4. lời ghi chú (bản đồ) hàm nghĩa những điểm mấu chốt, chìa khóa.

5. phím, phiếm đàn, nút, phím gõ (đánh máy, vi tính).

Phím đàn (dương cầm), nút, phím gõ bàn máy chữ, máy vi tính nguyên thủy có hình cây que gõ giống như chìa khóa.

Nguyên thủy nêm, mộng, chốt, chìa khóa chỉ là một chiếc que, một cành cây để cài, họ hàng với lock, khóa cũng chỉ là một khúc log, khúc cây, chiếc then cài. Ta có

.key = /ki/ = ki = cây.

.key = /ki/ = kì, kè, kẻ, que.

.key = cài.

.theo k=c=ch, key = chìa.

,theo k=c, key = cây, cài.

.theo k=qu, key = que.

.theo k=c=ch, /ki/ = chi (cành cây), chìa (khóa), chốt (cài).

Việt ngữ chìa là cây que, nhánh cây, thấy rõ qua từ chả chìa là chả nướng que, thịt xiên qua cây que rồi nướng; Anh ngữ skewer, que xiên để nướng có –ke– là , kẻ, que, có –kew– = kèo (cọc nhỏ). Chìa vôi là cây que quệt vôi.

Kết Luận

Có một sự biến âm khắng khít từ dạng mẹ con cho tới họ hàng xa giữa Việt ngữ và Anh ngữ. Ta có thể dùng sự liên hệ này để học, tìm hiểu nguồn gốc nghĩa ngữ của Anh ngữ bằng Việt ngữ và ngược lại.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: