CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN QUE và THE LOST SYMBOL (phần 1).

(*Nếu cần bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN QUE và THE LOST SYMBOL

(phần 1)

Nguyễn Xuân Quang

Dan Brown là một nhà viết tiểu thuyết-khảo cứu thành công lớn với những tác phẩm ‘Best Sellers’. Ông viết các truyện tiểu thuyết hành động rất gay cấn, rùng rợn dựa vào các khảo cứu về các dấu hình, biểu tượng cổ. Sau khi thành công với quyển The Da Vinci Code, với số sách đã bán được là 81 triệu cuốn kể từ khi xuất bản năm 2003, ông viết tiếp quyển The Lost Symbol (Biểu Tượng Đã Mất). Cả hai quyển đều dựa vào chủ đề chính và chìa khóa chính là các hình dấu, biểu tượng cổ. Trong The Da Vinci Code, như đã biết, ông dựa vào khoảng hở chữ V giữa Chúa Jesus và vị tông đồ John trong bức tranh The Last Supper để đi đến kết luận là John là một người nữ, là người tình và vợ của Chúa Jesus. Qua bài viết Chữ Nòng Nọc và The Da Vinci Code, ta đã biết chữ V là một chữ nòng nọc vòng tròn-que (Chữ Nòng Nọc và The Da Vinci Code).

Trong quyển The Lost Symbol này, Dan Brown cũng viết với các tình tiết, mưu toan gay cấn, toát mồ hôi hột dựa trên The Lost Symbol.

Để hiểu rõ vấn đề hơn, xin sơ lược một chút về The Lost Symbol.

Truyện xuất bản năm 2009. Nội trong ngày phát hành đầu tiên, sách bán được một triệu cuốn gồm sách bìa cứng và e-book ở Hoa Kỳ, Anh Quốc và Canada, trở thành tác phẩm viết cho người lớn bán chậy nhất trong lịch sử. Sách đứng hàng đầu danh sách Best Sellers của New York Times trong sáu tuần đầu và còn nằm trong danh sách kéo dài tới 29 tuần. Tính đến Tháng Giêng 2013 đã bán được 30 triệu cuốn.

clip_image002

Bối cảnh chính của The Lost Symbol là ở Washington, D.C. (District of Columbia), Hoa Kỳ. Mấu chốt chính của The Lost Symbol là làm gợi nghĩ tới cái ‘bản đồ Mason’. Nó giúp khám phá ra các dấu, hình, biểu tượng Freemasons khi nối các dấu mốc địa danh ở thủ đô Washington.

Dan Brown trong The Lost Symbol nói nhiều tới các kiến trúc Mason ở W D.C. Ví dụ như Nhà Đền (House of the Temple) ở 1733 NW đường 16th là nơi có những dàn dựng chính của các chuỗi biến động trong truyện và Đài Tưởng Niệm Mason George Washington trước ga xe lửa Amtrak giữa đường King và Duke ở Alexandria.

Freemasons xuất hiện trong suốt quyển sách và là chủ đề chính của cuốn truyện.

Lịch sử Hoa Kỳ cho thấy hầu hết các vị Cha Sáng Lập ra nước Mỹ như George Washington, Adams, Franklin, Jefferson… là hội viên Freemasons. Vì thế họ thích xây dựng một quốc gia mới dựa theo nền tảng các hình tượng và biểu tượng của Masons. Một số hình tượng và biểu tượng này thấy rõ qua các kiến trúc và sơ đồ đường phố Washington D.C. Nhưng một số được che dấu bằng bề ngoài bình thường hay ở những nơi bí mật. Washinhton D.C. đầy những nơi mang ý nghĩa biểu tượng. Kiến trúc sư người Pháp Pierre L’Enfant và các kiến trúc sư Masons khác đã thiết kế Washington D.C. thành một bản sao của Thủ Đô La Mã Agrippa với những biểu tượng hiểu theo ý nghĩa của Freemasons.

Dan Brown đã dựa vào các yếu tố này và dùng ý nghĩa lịch sử và biểu tượng để kích thích trí tưởng tượng của độc giả.

Xin nói qua một chút về hội Masons này.

Hội Masons hay còn gọi là Freemasons. Theo huyền thoại được cho là bắt nguồn từ hội của những người xây dựng Đền Vua Salomon ở Jesuralem. Freemasons là hội của những người xây cất, kiến tạo, các kiến trúc sư, các nhà xây dựng các lâu đài, nhà thờ bậc thầy thời Trung Cổ ở Âu châu (mason có nghĩa đen là thợ nề) vào đầu thế kỷ 17. Bên cạnh các kiến trúc đang xây thường có làm một ngôi nhà tạm bằng thân cây gọi là Lodge dùng làm trụ sở cho các nhà xây cất. Chính nơi đây là chỗ hội Freemasons đã thành hình. Vì vậy các trụ sở, tụ đường, cơ quan đầu não của hội gọi là Lodge. Grand Lodge chính thức đầu tiên được thiết lập tại Anh Quốc vào năm 1777 biến hội của các ‘tay thợ’ thành một hội thân hữu, dùng các biểu tượng, dụng cụ và danh pháp của các người xây cất Trung Cổ để làm biểu hiệu cho các trụ sở. Lễ hội, nghi lễ Mason dùng theo các truyện truyền kỳ nói về sự xây cất Đền Vua Salomon trong Thánh Kinh.

Masons được tổ chức theo khuôn mẫu hội Hiệp Sĩ Templar, một giai cấp giáo binh đầy quyền thế được thiết lập ra để bảo vệ các đoàn hành hương đến Đất Thánh ví dụ như các đẳng cấp Mason được gọi theo các cấp bậc của Templar. Tuy nhiên Masons không liên hệ gì, không phải là hậu thân của Knights Templars.

Có nhiều giả thuyết còn tranh cãi về nguồn gốc nghĩa ngữ từ Free, có người cho là do Pháp ngữ frère, anh em, huynh đệ, Freemasons là Frèremasons. Có người cho là do từ free stone, đá tảng rời, chỉ những người thợ xây cất chuyên môn về xây đá tảng. Có người cho free là tự do không bị kiểm soát bởi các giới chức địa phương hay các lãnh chúa. Hội đến Mỹ vào khoảng đầu thế kỷ 18 (1730). Như đã nói ở trên, các vị Cha Sáng Lập ra Hoa Kỳ như Benjamin, George Washington, John Hancock, Paul Revere là những hội viên đầu tiên ở Hoa Kỳ. Sau thời Cách Mạng Mỹ, các trụ sở grand lodges được thiết lập ở mỗi tiểu bang.

Hội Freemasonry Hoa Kỳ là một hội huynh đệ lớn nhất, ở cao điểm hội có tới 4 triệu hội viên, hiện nay còn 1.3 triệu hội viên. Hội cũng là một tổ chức lâu đời nhất.

Lúc đầu chỉ dành cho phái nam người da trắng, ngày nay gồm nhiều chủng tộc khác nhau và trong một số phân bộ có cả phái nữ.

Hội là một phần gắn liền với đời sống của cộng đồng Mỹ đã hơn 250 năm. Tôn chỉ của hội là đi tìm sự thống nhất, đoàn kết giữa những con người có niềm tin khác nhau vào trong một cộng đồng hòa hợp và tạo dựng qua sự ứng dụng những giá trị đạo đức của Mason và sự thể hiện các việc từ thiện, lợi ích, phát triển trí năng và sự tương kính lẫn nhau. Freemasons tin là mỗi con người có thể trở thành một kẻ khác bằng cách tu thân và dấn thân hành động vào cộng đồng. Hội cũng là hội thân hữu từ thiện, làm việc tốt và giáo dục.

Tuy nhiên, đối với người ngoài và ‘những phần tử thù nghịch’ với Hoa Kỳ thì đây là một hội thần bí, một hội kín.

Cái nguồn gốc ở Âu châu mang một mầu sắc âm u cũng là một yếu tố làm tăng sự nghi kỵ cho rằng hội là một thứ hội kín.

Thực sự Masons là một tổ chứ không phải là một tôn giáo. Tuy nhiên một số nhà lãnh đạo tôn giáo cho rằng Masons có các nghi lễ, đức tin, có đền đài, đền thờ và lời tuyên thệ riêng đi ngược với giáo điều của tôn giáo của họ. Năm 1983, Đức Giáo Hoàng John Paul II cho rắng người Thiên Chúa giáo gia nhập vào Masons là có tội và có thể không thể tiếp cận được với Holy Communion (Hội Thánh).

Freemasons là một tổ chức có những bí mật nhưng không phải là một hội kín. Khởi thủy, thời Trung Cổ, hội Masons gồm những người xây cất nên cũng như các ngành nghề khác họ giữ bí mật nhà nghề chỉ truyền đậy cho những người trong nhà, trong hội. Các hội viên phải có mật mã, mật khẩu để biết nhau và bảo đảm là người cùng một hội, một nhà. Nhiều nơi hội này có những nghi thức lễ giáo nhập môn.

Dan Brown đã khai thác cái tò mò, cái kinh sợ về điểm thần bí đầy bí mật này của Washington D.C. qua hội Masons mà toàn thế giới muốn biết. Trong Da Vinci Code, Dan Brown ‘trực diện’ với giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã và trong The Lost Symbol, Dan Brown ‘vạch trần những bí ẩn’ về Washington D.C., Hoa Kỳ. Đây chính là lý do tại sao The Da Vinci Code và The Lost Symbol đều là Best Sellers và The Lost Symbol đã phá kỷ lục về số sách bán ngay trong ngày đầu tiên.

Freemasons là hội huynh đệ quyền lực nhất, cai trị thế giới? Dan Brown ngụ ý cho rằng các hội viên cao cấp của chính phủ Mỹ là Freemasons. Có tất cả 14 vị tổng thống Hoa Kỳ là hội viên của Freemasons, người cuối cùng là Gerald Ford.

Các hội viên và sử gia Kinney về hội Freemasons quả quyết rằng những điều nghi kị trên đều là những tưởng tượng vô căn cứ.

.Sơ Lược Cốt Truyện

Nhìn tổng quát cuốn truyện là một loại truyện kinh dị gồm những chương săn đuổi mang tính cách dàn dựng theo truyện và phim hành động đầy gay cấy, rùng rợn, nín thở, toát mồ hôi lạnh trộn lẫn với những kích thích sự tò mò và giải thích một cách bác học về những biểu tượng cổ. Chủ điểm là đi tìm kim tự tháp Mason được dấu kín ở một nơi nào đó ở thủ đô Washington.

Bìa sách ở Hoa Kỳ nói rõ những nét chính của nội dung. Bìa vẽ hình Điện Capitol nằm trong một hình tháp tạo bởi hai giải tua của dấu ấn bằng xi (sáp) cho thấy bối cảnh xẩy ra tại thủ đô Hoa Kỳ. Dấu sáp diễn tả con chim ưng hai đầu giống như dấu ấn của nhánh Scottish Rite của Freemasons. Hình tam giác biểu tượng cho tháp trong có con số 33. Số 33 là đẳng cấp cao nhất của Scottish Rite (xem dưới). Dải băng ở dưới có hàng chữ Latin Ordo ab Chao (Order from Chaos, Trật Tự từ Hỗn Loạn).


clip_image002[1] clip_image003

Peter Solomon, một nhà hảo tâm, một mạnh thường quân tỷ phú, có địa vị vào cập cấp bậc thứ 33, Tổng Giám sát Viên của Masons theo hệ thống Scottish Rite, hiện là người đứng đầu Viện Smithsonian, mời nhà biểu tượng học (symbologist) Robert Langdon ở Đại Học Harvard tới Điện Capitol thuyết trình. Langdon vốn là người dìu dắt và là bạn thân của Peter. Peter cũng dặn Robert Langdon mang theo cái túi nhỏ mà ông đã trao cho Langdon mấy năm trước đây.

Như đã nói ở trên, một trong những nét chính của quyển truyện là những hình dấu biểu tượng cổ vì thế nhà biểu tượng học Robert Langdon được coi như một nhân vật chính, người mở, tháo gỡ những cái nút chính yếu của quyển truyện. Đây là quyển truyện thứ ba của Dan Brown sau quyển Angels & Demons (năm 2000), The Da Vinci Code (năm 2003) có mặt nhà biểu tượng học này.

Khi tới Điện Capitol, Robert Langdon khám phá ra người mời mình không phải là Peter Solomon mà là do Mal’akh, kẻ đã bắt cóc Solomon.

Mal’akh trưng bầy cánh tay đã bị chặt nát của Solomon ở giữa Phòng Tròn của Điện Capitol (Capitol Rotunda).

clip_image005

Capitol Rotunda (minesota.publication.org)

Mal’akh liên lạc với Langdon và ra lệnh ông phải tìm cho được cây Tháp Mason (Mason’s Pyramid) mà các hội viên Masons đã chôn dấu ở Washington, D.C. và Lost Word (Từ Đã Mất), nếu không, Salomon sẽ bị hành hình. Mal’akh là một thành viên Freemasons, xâm kín cả người. Hắn thâm nhập vào tổ chức để tìm lấy được nguồn sinh lực từ ngàn xưa mà hắn tin là Langdon có thể giúp được hắn.

Langdon vì thế phải đối mặt với viên cảnh sát trưởng Điện Capitol Tren Anderson và Inoue Sato, một nhân viên nữ CIA trưởng Phòng An Ninh.

Khám xét cánh tay của Salomon, họ khám phá ra đầu mối dẫn tới ngai thờ Mason của Solomon trong một căn phòng dưới tầng ngầm của Điện Capitol, tại đó họ tìm thấy một kim tự tháp nhỏ nhưng thiếu mất phần chỏm tháp trên mặt có khắc dấu, biẻu tượng, hình ngữ.

Khi trở vào điện Capitol, hình quang tuyến thấy trong túi sách tay của Langdon có hình chỏm tháp kim tự tháp. Langdon giải thích là ngưởi bắt cóc Solomon dặn ông ta mang theo cái túi mà Salomon đã trao cho ông mấy năm về trước và ông không hề biết có gì ở trong cái túi bao dán kín đó. Sato không tin nên bắt giữ Langdon.

Ngay lúc đó Sato và Anderson bị Warren Bellamy, một kiến trúc sư của Điện Capitol và cũng là một thành viên Mason, bằng hữu của Peter Solomon nghi ngờ Sato đồng lõa giúp Mal’akh nên tấn công và giải thoát mang Langdon chạy trốn.

Nói về mối liên hệ giữa Mal’akh và Peter Salomon từ nhiều năm về trước. Peter để lại cho con là Zachary một số tiền thừa kế kếch sù. Zachary là một đứa con phản loạn đã cuỗm tiền rồi bỏ gia đình trốn qua Âu châu sống một đời bạt mạng, cho tới khi bị bắt và bị bỏ tủ ở Thổ Nhĩ Kỳ vì chuyển lậu ma túy. Peter bay qua Thổ Nhĩ Kỳ, thay vì lo cho con được dẫn độ về ngay Hoa Kỳ nhưng quyết định dậy con một bài học nên trì hoãn một thời gian cho Zachary nếm một chút mùi lao lý.

Nhưng rủi thay Zachary bị người tù cùng phòng giết chết. Tên này lấy được tiền của Zachary và trốn qua Hy Lạp sống một đời sống vương giả dưới tên là Andros Dareios. Trong thời gian trong tù, Dareios nghe Zachary nói về cha mình Salomon là một Mason.

Dareios tới nhà Salomon tìm lấy chiếc kim tự tháp nhưng đã vô tình ngộ sát mẹ Peter Solomon. Salomon săn đuổi và bắn Dareios rơi xuống vách đá. Dareios may mắn sống sót. Để che các vết sẹo khắp thân thể, hắn đã cho xâm che kín hết người và xâm nhập vào Freemasons dưới cái tên là Mal’akh.

Dựa theo manh mối, nhân viên an ninh điện Capitol đã nhận diện ra được Mal’akh là bác sĩ tâm thần của Peter Salomon dưới tên là bác sĩ Christopher Abaddon. Langdon và em gái của Salomon là Kathrine Salomon, một chuyên gia khảo cứu về khoa học nội tuệ (Noetic sciences), tìm tới lâu đài của Mala’akh để đương đầu với hắn nhưng cả hai đều bị phục kích.

Trong khi đó Bellamy, viên kiến trúc sư Điện Capitol, bị bắt và bị Sato thẩm vấn. Hắn nói thẳng ra là hắn nghi Sato đang làm việc với Mal’akh nên mới hành động như vậy. Sato bảo đảm với Bellamy là cô ta theo đuổi Mal’akh vì lợi ích an ninh quốc gia và đưa ra một bằng chứng là cho hắn xem một video. Bellamy bị ‘sốc’.

Langdon bị Mal’akh bỏ vào bể nước có dưỡng khí để ép Langdon mở mật mã ở đáy tháp. Sau khi Mal’akh gây tổn thương trầm trọng cho Kathrine và để nàng chẩy máu chờ chết, hắn đào tẩu tới Nhà Đền (House of the Temple) mang theo Peter Salomon, lúc này đã kiệt sức phải ngồi trên xe lăn. Langdon và Kathrine được Sato cứu thoát. Sato cùng nhân viên chạy tới House of The Temple, tại đây Mal’akh đang đe dọa cho phát ra cuốn video cho thấy các nhân viên chính phủ đang làm những nghi thức tế lễ bí mật của Masons (đây là cuốn video mà Sato đã cho Bellamy xem khiến Bellamy bị ‘sốc’).

Mal’akh đã dùng bạo lực áp bức Peter và lấy được Từ (Word) bí mật the Circumpunct (Vòng TrònChấm) và cho xâm từ này lên chỗ da duy nhất còn bỏ trống lại trên người hắn ở chỏm đỉnh đầu. Mal’akh ra lệnh cho Peter giết mình để hiến tế bởi vì hắn tin rằng định mệnh của hắn là trở thành một hồn quỉ để dẫn dắt, lãnh đạo ma lực, ma quyền, ma đạo.

Peter quyết tâm muốn giết Mal’akh để báo thù cho con và mẹ.

Lời cuối trước khi chết, Mal’akh nói cho Peter biết là hắn thực ra là Zachary, con của Peter. Hắn đã âm mưu với tên cai tù giả dạng bị giết bắng cách giết tên tù ở chung cùng phòng rồi làm biến dạng xác hắn tới độ không còn nhận diện được nữa. Zachary dùng kích thích tố steroids và xâm kín người để không bị nhận diện ra con người thực của hắn. Zachary tự coi mình là hiện thân của thiên thần. Mal’akh tiếng Do Thái là Moloch có nghĩa là thiên thần. Hắn thờ ma thuật để luyện lấy sức mạnh và cho phép thiên thần nhập vào thân thể hắn. Hắn đã dùng tên Bác sĩ Christopher Abaddon để lấy lòng tin của cha mình và tên Dareios khi trốn tránh ở Hy Lạp.

Peter rơi nước mắt muốn đâm chết con mình nhưng không làm được và ngay lúc đó Langdon đến đúng lúc và kềm chế được Zachary (Mal’akh).

Giám đốc Sato dùng trực thăng tới Nhà Đền, phá nóc nhà gương và đã ngăn chặn được Zachary cho phát cuốn video.

Cuối cùng Langdon, Kathrine đoàn tụ được với Peter và tiếc thương cho Zachary.

Sau đó Peter nói cho Langdon biết là biểu tượng circumpunct xâm trên đỉnh đầu Zachary không phải thực sự là Word (Từ). Quyết định cho biết rõ cái bí mật thật sự nằm sau Từ, Word, Peter dẫn Langdon tới căn phòng ở trên đỉnh Đài Washington (Washington Monument) và nói cho Langdon biết Từ, theo Thánh Kinh Thiên Chúa giáo, là “Từ của Chúa” (‘Word of God”), nằm tại khối đá chôn dưới cầu thang của Đài.

Langdon khám phá ra được biểu tượng ở chân tháp là những từ Lau Deo, dịch qua Anh ngữ là Praise God. Những từ này khắc trên chỏm bằng nhôm của đài. Đài đích thực là cây Tháp Mason.

Peter nói với Langdon rằng Masons tin là Thánh Kinh chỉ là một biểu dụ (allegory) bí tích viết bởi con người và rằng, giống như những kinh sách, bản văn tôn giáo khác ở khắp nơi trên thế giới, nó chứa đựng những huấn thị ẩn kín cho tính chất tự nhiên giống như God (Chúa, Thượng Đế) của con người đang đeo yên cương- Điều này giống như những nghiên cứu Noetic của Kathrine- và nó không có ý định để được diễn giải như những mệnh lệnh của một vị thần toàn năng. Điều diễn giải này đã mất đi giữa nhiều thế kỷ của chủ nghĩa nghi ngờ theo khoa học và sự cuồng tín căn cội.

Masons đem chôn (theo một cách ẩn dụ), tin rằng, khi thời gian đúng lúc, sự tái khám phá ra nó sẽ dẫn dắt vào một thời đại mới của sự giác ngộ của con người (human enlightment).

Như đã nói ở trên chủ đích của bài viết này là những dấu hình, biểu tượng của Masons dùng ở Washungton, D.C. trong đó có hai biểu tượng chính là Tháp Mason và Từ Đã Mất (The Lost Word). Dan Brown đã dùng biểu tượng sau làm tựa đề cho quyển truyện The Lost Symbol.

Nhìn tổng thể thì Freemansonry dùng rất nhiều biểu tượng, phần lớn các biểu tượng này thấy khắp nơi trong mọi nền văn hóa, không phải của chính họ sáng tạo ra. Đặc biệt là mỗi chi hội ở mỗi nơi trên thế giới và mỗi cá nhân hội viên có thể hiểu và diễn giải biểu tượng theo ý mình.

Đây chính là những dấu hình, biểu tượng, chữ trong hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que do tôi khám phá ra.

Đây chính là chủ điểm của bài viết này là tôi chứng minh rằng các biểu tượng Masons mà Dan Brown nói đến trong The Lost Symbol chính là biều tượng, hình dấu có nguồn gốc từ chữ nòng nọc vòng tròn-que, lâu đời nhất và còn để lại những dấu tích trong mọi nền văn hóa, trong mọi tín ngưỡng cổ, trong mọi tôn giáo hiện nay được hiểu theo những ý nghĩa riêng của chúng. Đây chính là Dấu, Hình, Biểu Tượng, Từ, Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que còn khắc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mà ở những nơi khác Đã Mất nghĩa hay đã được hiểu khác đi.

Trước khi đi vào các biểu tượng mà Dan Brown dùng trong The Lost Symbol, để chứng minh cho thấy rõ phần lớn các biểu tượng mà Masons đã dùng trong đó có những biểu tượng dùng ở Washington D.C. là thuộc hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, xin nêu ra một ví dụ điển hình.

Một trong những biểu tượng tiêu biểu nổi tiếng của Freemasons có từ đầu năm 1800 là dùng hai dụng cụ xây cất, kiến trúc tiêu biểu của hội là chiếc com-pa (compasses) và chiếc thước thợ.

clip_image006

Biểu tượng com-pa và thước thợ của Freemasons (picclick.com).

clip_image008

Tổng thống George Washington đeo chiếc khăn che bụng có biểu tượng com-pa và thước thợ, tay phải cầm chiếc bay thợ nề.

Lưu ý trên vòm cửa có chữ G.

Bìa sách của ấn bản ở London vẽ chiếc chìa khóa của Solomon và biểu tượng com-pa và thước thợ của Freemasons.

clip_image009

Bìa sách của ấn bản ở London.

Com-pa biểu tượng cho kiến tạo, xây dựng, tạo hóa dùng trong hình học, kiến trúc. Có hình chữ A mang nghĩa sự khởi thủy của tất cả (J.E. Cirlot, A Dictionary of Symbols).

Theo Masons com-pa biểu tượng cho giá trị của tình bạn, bằng hữu, luân lý và tự chế.

Trong hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que, chiếc com-pa hình chữ     clip_image011  (A thôn dã) tức hình chữ nòng nọc vòng tròn-que nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) để đỉnh chỉ thiên có nghĩa là nọc, dương, bộ phận sinh dục nam, lửa, mặt trời mang tính thái dương sinh động… Trong The Da Vinci Code Dan Brown gọi chữ này là blade (lưỡi sắc).

Com-pa chữ nọc mũi mác do hai nọc quẻ ghép lại mang tính thái dương, lửa là nguyên lý Nọc dương, lửa sinh ra tất cả mọi thứ, sinh ra tất cả đúng như nghĩa đã hiểu ở trên.

Ở dưới là cây thước thợ, hiểu theo nghĩa Masons là biểu tượng của thành thật, sự thật và đạo đức, kết hợp với com-pa tạo thành biểu hiệu của tình huynh đệ, anh em. Nhìn theo diện chữ nòng nọc vòng tròn-que, thước thợ để theo hình chữ V mang nghĩa ngược lại với chữ com-pa là nòng, âm, bộ phận sinh dục nữ, nước, không gian… mang tính thái dương sinh động. Trong Da Vinci Code, Dan Brown gọi là chalice, cốc có chân có phần trên hình chữ V; cốc là một vật đựng, chính nó cũng đã là biểu tượng cho âm, nữ (xem Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que và Da Vinci Code). Chữ V biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ thấy rõ qua hình tượng nõ nường của Đại Hàn.

NN

Thần nõ nường của Đại Hàn. Thần nõ có đầu hình qui đầu và thần nường có đầu hình chữ V (ảnh của tác giả).

Ở đây là com-pa nọc thái dương sinh động nằm trên nòng thước thợ thái dương sinh động hiểu theo nghĩa nòng nọc là nõ trên nường, hiểu theo chữ nòng nọc vòng tròn-que là chữ nọc que dương thái dương mũi tên trên chữ nọc que chữ V âm thái dương ở tầng tứ tượng là nòng nọc, âm dương giao hòa, hôn phối của ngành thái dương. Nòng nọc, âm dương giao hòa sinh ra tất cả, bao gồm tất cả mọi ý nghĩa do sinh tạo, tạo hóa sinh ra. Biểu tượng này của Freemasons mang trọn vẹn ý nghĩa của Dịch, của vũ trụ giáo nhìn theo duy dương của xã hội phụ quyền cực đoan Tây phương. Vì thế mà mỗi hội, phân hội, chi hội, mỗi hội viên có thể diễn giải biểu tượng tiêu biểu của hội theo một ý nghĩa riêng của mình mà tôn thờ, mà dùng làm kim chỉ nam riêng của mình. Ví dụ Freemasons chỉ bắt buộc tôn thờ một Đấng Chí Tôn tiêu biểu cho Thượng Đế, Vũ Trụ, Càn Khôn, Trời Đất, còn tùy theo mỗi hội viên dựa vào quá trình đời mình mà tôn thờ như đấng Chí Tôn có thể là Đấng Tạo Hóa Nhất Thể, có thể là Phật, Chúa Jesus, Allah hay bất kỳ một đấng thiêng liêng nào đó tùy theo tín ngưỡng của cá nhân đó.

Nhiều khi, như thấy ở trên, trong hai biểu tượng com-pa và thước thợ này có chữ G là chữ đầu của Great Architect of Universe (Kiến Trúc Vĩ Đại của Vũ Trụ) đồng thời cũng là chữ đầu của từ Geometry, Hình Học, là môn toán mà các nhà kiến thiết, xây dựng dùng để xây cất các kiến trúc lớn.

Cũng xin nói thêm là biểu tượng com-pa và thước thợ mang nghĩa nòng nọc, âm dương giao hòa của Masons nhìn theo diện nọc thái dương làm liên tưởng tới biểu tượng Qui Củ của Nữ Oa và Phục Hy của Bách Việt, nhìn theo diện nòng nọc, âm dương đề huề, chim rắn, Tiên Rồng của Bách Việt nghiêng về ngành nòng, âm.

clip_image015

Nữ Oa cầm Qui tròn Nòng và Phục Hy cầm thước thợ Củ, nhọn, Nọc.

Bà Nữ Oa cầm Qui là vật tròn (Qui biến âm với quây, quay hàm nghĩa tròn) tương ứng với com-pa. Phục Hy cầm thước thợ gọi là Củ (Củ biến âm với cừ, kẻ, thước). Qui Củ cũng là dụng cụ dùng trong kiến tạo, xây dựng. Qui là tròn là Nòng. Củ là thước thợ là Nọc. Qui Củ là nòng nọc, âm dương. Từ Hỗn Mang (chaos) tiến tới Trật Tự (Order) có âm có dương đúng theo một nghĩa bóng là có qui củ. Nữa Oa và Phục Hy kiến tạo ra vũ trụ, muôn sinh, loài người.

Qui là vòng tròn Nòng có một nghĩa là Khôn. Thước thợ của Phục Hy hình chữ A vuông góc do ba nọc que ghép lại. Ba nọc que là ba hào dương, Càn. Qui Củ có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, Khôn Càn ứng với Nữ Oa Phục Hy, thần tổ Nữ Nam của Bách Việt nói riêng và của loài người nói chung. Rõ ràng com-pa và thước thợ là một khuôn mặt của qui củ mang biểu tượng nòng nọc, âm dương nhìn theo diện nọc thái dương của xã hội phụ quyền cực đoan Tây phương.

Bây giờ chúng ta đi vào hai biểu tượng chính là Tháp Mason (Mason’s Pyramid) và Biểu Tượng Đã Mất trong The Lost Symbol.

Kim Tự Tháp Mason

Như đã biết, kim tự tháp Mason có nguồn gốc từ Ai Cập cổ. Ở Tây phương có nhiều nghĩa nhìn theo những góc cạnh khác nhau. Có khi cho kim tự tháp biểu tượng cho đất thế gian. Kim tự tháp với trang trí Giáng Sinh (cây thông Giáng Sinh hình tháp) diễn tả sự chết và bất tử liên kết với Mẹ Tổ (Great Mother). Kim tự tháp là một ngọn núi rỗng nơi ở của tổ tiên và là một đài tưởng niệm. Kim tự tháp bằng đá ở Viễn Đông tương ứng với lửa. Marc Saunier tổng hợp những góc cạnh nhìn này qua các hình dạng khác nhau của các phần của tháp: đáy tháp vuông biểu tượng cho đất. Đỉnh nhọn là khởi điểm và cũng là điểm cuối cùng. Thiết diện đứng qua đỉnh và đáy là một hình tam giác biểu tượng cho lửa, cho sự tạo sinh, sinh tạo bậc ba, kim tự tháp diễn đạt toàn diện sự kiến tạo của tạo hóa trong ba diện chính của nó (J.E. Cirlot).

Cũng nên biết theo dòng thời gian, biểu tượng tam giác (ở đây cũng là biểu tượng cho tháp) có rất nhiều nghĩa trong các đức tin, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa khác nhau. Tam giác có một ý nghĩa thường thấy là biểu tượng cho tạo hóa, thượng đế (dĩ nhiên theo duy dương). Tam giác đỉnh chỉ thiên mang nghĩa hướng thiên, hướng về tạo hóa, thượng đế, thánh thần… Trong Thiên Chúa giáo, hình tam giác có nghĩa là Tam Tòa, Tam Thánh, Ba Ngôi (Trinity)… Những kiến trúc La Mã, Hy Lạp, mái có biểu tượng tam giác mang nghĩa tương tự (Chữ Nòng Nọc và Thủ Đô Washington).

Về ngôn ngữ học pyramid có gốc pyro- là lửa.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, kim tự tháp là một chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) trong không gian ba chiều cũng là hình ảnh chữ A như chữ     clip_image011[2]   (A) nọc mũi mác lửa thiếu dương Li do hai nọc que ghép lại, như chữ A nọc mũi mác lửa thái dương Càn do ba nọc que ghép lại. Tôi thấy chữ A có hình kim tự tháp trong tên Barcelona ở Barcelona, Tây Ban Nha.

A

Chữ A diễn tả bằng hình kim tự tháp ở một công viên ở Barcelona, Tây Ban Nha (ảnh của tác giả).

Chữ A nọc tam giác mang tính sinh tạo ở cõi thế gian ứng với quái (quẻ ba nọc trigram) (nọc một que mang tính sinh tạo ở tầng lưỡng nghi; nọc hai nọc que mang tính sinh tạo ở tầng tứ tượng và nọc ba nọc que mang tính sinh tạo ở tầng bát quái tam thế (xem Chữ Nọc Que). Chữ nọc tam giác này chỉ khác tính sinh tạo nhưng có cùng nghĩa với các chữ nọc khác. Chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hình tam giác cũng có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương, bộ phận sinh dục nam… Tam giác có ba cạnh là ba nọc que có một khuôn mặt là quẻ Càn III, lửa vũ trụ, lửa thái dương.

clip_image018

Chữ nọc tam giác trên thân con cò bay ở trống Kì Việt Phú Xuyên cho biết là con cò lửa vũ trụ, cò Càn.

Nhìn theo tín ngưỡng, Càn là đấng sinh tạo tối cao ngành nọc dương.

Với nghĩa nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là nọc, dương, lửa, mặt trời, thái dương sinh động ta có thể giải thích được tất cả các ý nghĩa của Tây phương về kim tự tháp.

Ví dụ như, trước hết kim tự tháp với nghĩa lửa đất dương Li biểu tượng cho núi tháp thế gian, Núi Trụ Thế Gian. Kim tự tháp có một khuôn mặt biểu tượng cho cõi giữa Trung Thế. Tháp có đỉnh nhọn hướng thiên dùng làm đường lên cõi trên, Trục Thế Giới vì thế có những kim tự tháp có cấp bậc cầu thang (xem dưới). Tháp nguyên thủy dùng làm nấm mồ. Tháp Stupa vốn có nghĩa là nấm mồ. Người chết chôn trong tháp dùng tháp làm đường về cõi trên (xem Ý Nghĩa của Một Tháp Phật). Trong tín ngưỡng, đấng chí tôn, tổ phụ loài người phía nam có mạng Càn.

Càn hôn phối với Khôn sinh ra vũ trụ trời đất muôn sinh… bao gồm tất cả những ý nghĩa tạo hóa, thượng đế, thánh thần… và tất cả các nghĩa bóng, suy diễn sau này. Điều này giải thích là các mái tiền đình của các kiên trúc thờ phượng La Hy thường có hình tam giác, thường bên trong có các hình tượng thánh thần tương ứng.

Freemasons dùng kim tự tháp với nghĩa biểu tượng cho trí tuệ đã mất (lost wisdom) của thời cổ xưa.

Trên mặt của tháp Freemasons, từ nhiều thế kỷ trước đây, người xưa đã khắc những biểu tượng cổ của nhiều triết thuyết tôn giáo khác nhau và của phái luyện kim đan Alchemy. Theo truyền thuyết, Mục Sư Colin Galloway trong chương 82 của The Lost Symbol cho rằng kim tự tháp Freemasons là một bản đồ thực sự. Nó chỉ rõ cho biết các địa điểm bí mật.

Ở chương 101, tháp Mason cho thấy một biểu đồ khắc những hình tượng và biểu tượng khác nhau.

clip_image020

Biểu tượng ở Tháp Mason

(Nguồn: Dan Brown, The Lost Symbol).

Biểu đồ bí ẩn này khắc trên tháp Freemasons là một hình vuông có 64 ô vuông. Số 64 trùng với 64 quẻ Dịch.

Nhìn dưới diện Vũ Trụ giáo, có thể chia biểu đồ ra làm 3 vùng ứng với Tam Thế.

I. Thượng Thế

clip_image021

Hàng đầu

Hàng này có hàng chữ của từ Latin ‘HEREDOM’ có nghĩa là Thánh Gia (‘Holy House’) và là biểu tượng cho Nhà Đền (House of the Temple) ở Washington D.C., một nơi linh thiêng của Freemasons, nhất là đối với các hội hữu theo Scottish Rite.

Nhìn dưới lăng kính Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo thì Thánh gia, Nhà Của Thượng Đế ứng với Hư Vô, Hư Không, Vô Cực. Con người sinh ra từ Hư Không, khi chết trở về Hư Không. Trong các tôn giáo sau này đồng hóa Đấng Tối Cao, Tối Thượng, Thượng Đế với Hư Không và cho là con người do Thượng Đế sinh ra, khi chết trở về với Thượng Đế.

Hàng thứ nhì

Đây là tầng vũ trụ có biểu tượng của 7 hành tinh.

Đối với Alchemy, mỗi hành tinh được biểu tượng bởi một kim loại.

Đối chiếu với Vũ Trụ giáo thì Hư Vô, Vô Cực là nguồn cội sinh ra vũ trụ.

1. Thổ Tinh Saturn

Biểu tượng của Thổ Tinh diễn tả bằng lưỡi hái, Thổ tinh có một khuôn mặt là Thần Gặt Hái La Mã.

Thổ tinh cũng có một khuôn mặt lưỡng tính phái, liên hệ với đất, hủy hoại, thối rữa và với mầu đen.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, lưỡi hái là một vật nhọn, nọc nhưng cong mang âm tính biểu tượng cho hủy diệt, chết chóc.

Trong Alchemy liên hệ với Chì.

2. Hỏa Tinh Mars

Biểu tượng của Hỏa Tinh được diễn tả bằng cái khiên và cây giáo của Mars, Thần Chiến Tranh La Mã.

Trong Alchemy liên kết với Sắt.

Biểu tượng này cũng dùng làm biểu hiệu cho phái nam.

Thần Mars có biễu tượng là lưỡi gươm.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, cây giáo và lưỡi gươm là nọc nhọn biểu tượng cho dương, nam, lửa.

3. Thủy Tinh Mercury

Biểu tượng của Thủy Tinh được diễn tả bằng cây gậy và chiếc mũ sắt có cánh của Mercury, Thần Thương Mại La Mã.

Thần Mercury có một khuôn mặt lưỡng tính phái.

Nhìn theo diện chữ nòng nọc vòng tròn-que, biểu tượng cánh trên mũ sắt giống như sừng mang tính dương, thái dương. Phần dưới vòng tròn và dấu cộng giống biểu tượng Venus, phái nữ. Biểu tượng mang lưỡng tính nòng nọc, âm dương.

Trong Alchemy liên kết với thủy ngân.

4. Mặt Trời

Biểu tượng của Mặt Trời được diễn tả bằng chấm-vòng tròn. Ta thấy rất rõ vì ở đây được xếp trong bẩy hành tinh nên chấm-vòng tròn chắc chắn có nghĩa là mặt trời. Trong thần thoại La Mã và Alchemy được cho là thần mặt trời là Apollo.

clip_image022

Trong thần thoại Hy Lạp gọi là Apollon.

Mặt trời là hành tinh sáng chói nhất, dũng mãnh nhất. Theo Tây phương thần mặt trời là con của thượng đế. Thần mặt trời thấy tất cả và biết tất cả (giống như chúng ta có câu trời có mắt). Ở Ấn Độ, thần mặt trời là con mắt của Varuna, ở Ba Tư là con mắt của Ahuramazda, thần mặt trời Helios của Hy lạp là con mắt của Zeus, ở Ai Cập cổ là con mắt của Ra, trong Hồi giáo, mặt trời là con mắt của Allah… Mặt trời liên kết với anh hùng. Từ hero (anh hùng), theo biến âm, h=k (hết = kết), ta có her- = kẻ (cây, cọc, nọc) = ke (có một nghĩa là bộ phận sinh dục nam) = que. Hero biến âm với heron, cò biểu tượng cho dương tính, bộ phận sinh dục nam… Như thế anh hùng hero liên hệ với đực, dương, bộ phận sinh dục nam, mặt trời.

Anh hùng liên kết với nọc, đực, dương, hùng, mặt trời, nên cũng liên hệ với bộ phận sinh dục nam vì thế các lăng mộ, đài tưởng niệm anh hùng liệt sĩ của văn hóa La-Hy cổ thường xây theo hình cậy cọc, cây nõ, trụ thạch bia obelisk và có khi dùng ngay cả hình dương vật ví dụ như ở khu nghĩa trang tại Thành Phố Thiêng Liêng Phrygia (Hierapolis of Phrygia), ở Thổ Nhĩ Kỳ, mộ tưởng niệm anh hùng liệt sĩ có hình dương vật.

HERO

clip_image025

Mộ tưởng niệm các anh hùng có hình trụ tròn dương vật trên có «phụ đề» tảng đá hình qui đầu, ở Thành Phố Thiêng Liêng Phrygia (Hierapolis of Phrygia), khu nghĩa trang, tại Thổ Nhĩ Kỳ (ảnh của tác giả).

Trong Alchemy, mặt trời liên kết với Vàng.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, theo duy dương, chữ chấm và vòng tròn có một khuôn mặt là mặt trời. Nhưng là mặt trời có nòng nọc, âm dương mang tính sinh tạo, tạo hóa tương đương với thần mặt trời tạo hóa Ra của Ai Cập (Chữ Nòng Nọc và Đài Tưởng Niệm Voortrekker). Chấm vỏng trỏn có nghĩa là mặt trời thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn như trên trống Quảng Xương, Người Việt Mặt Trời của hai nhánh chim cắt lửa và rắn dải nước có hình mặt trời trên mặt.

Điều này giải thích tại sao chữ chấm vòng tròn này thấy có mặt trong các tín ngưỡng thờ mặt trời, ở các phế tích thờ mặt trời.

Mặt trời với nghĩa là con mắt thấy tất cả cũng thấy qua chữ chấm-vòng tròn này. Chữ này cũng diễn tả con mắt dương.

Mặt trời với nghĩa liên kết với anh hùng vì mặt trời là nọc, dương. Từ Hùng có một nghĩa là đực, dương như hùng trĩ là con chim trĩ đực. Anh hùng là biểu tượng cho người nam mang hùng tính nhất, hùng dũng nhất, người hùng liên kết với mặt trời. Ở đây một lần nữa ta thấy Hùng Vương đích thị là Vua Mặt Trời (Việt Là Gì?).

Tuy nhiên chấm-vòng tròn là một từ trong hệ thống chữ nòng nọc vòng tròn-que mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nghĩa là còn có nhiều ý nghĩa khác nữa (xem dưới).

Đây là biểu tượng mấu chốt thứ hai trong truyện được giảng giải trong phần circumpunct (xem dưới).

5. Mặt Trăng

Biểu tượng của Mặt Trăng được diễn tả bằng hình trăng lưỡi liềm, trăng sừng.

Trăng được hiểu theo nhiều nghĩa.

Theo Tây phương, theo duy âm trăng biểu tượng cho âm, nữ liên hệ với các thần nữ như Ishtar, Hathor, Anaitis, Artemis…

Trăng liện hệ với nước và thủy triều.

Như thế trăng biểu tượng cho âm, nữ, nước, cực âm. Trăng đi với trời ở dạng lưỡng hợp nòng nọc, âm dương.

Trăng biểu tượng bằng còn số 2 trong khi mặt trời là số 1.

Trăng có vật biểu là gương soi và quạt (cả hai đều liên hệ với phái nữ).

Trăng biểu tượng cho biến đổi (như hình dạng của trăng),

….

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, trăng hiện về đêm nên mang âm tính, thuộc phía nòng âm. Trăng có hai dạng âm dương của phía âm. Trăng tròn thái âm mang âm tính, nữ là nàng trăng, chị Hằng, “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” (Nguyễn Du)]. Trăng tròn cũng có dạng thái dương mang tính lửa (rất sáng như trăng rằm, nên đĩa tròn có nét mỏng) nhưng trăng thái dương thường thấy nhiều dưới dạng trăng lưỡi liềm tức trăng sừng (có hai đầu nhọn nọc mũi mác mang tính thái dương) tức ông trăng thái dương.

Trăng hiện về đêm nên mang âm tính nên ông trăng thái dương thuộc phía âm. Trăng liện hệ với nước, ảnh hưởng với thủy triều nên ông trăng sừng thái dương liên hệ với nước thái âm tức Chấn. Trăng sừng thái dương có một khuôn mặt là biểu tượng của thái âm, nước ngành nọc dương ứng với Chấn. Lạc Long Quân có một khuôn mặt là trăng sừng. “Ông trăng mà lấy bà giời…” (ca dao) chỉ Lạc Long Quân lấy Âu Cơ.

Trăng được biểu tượng bằng số 2 vì số hai là số chẵn, số âm và là số Khảm, nước thiếu âm.

Trong Alchemy liên kết với Bạc.

6. Kim Tinh Venus

Biểu tượng Kim Tinh được diễn tả bằng cái gương cầm tay của Venus, Nữ Thần Tình Yêu La Mã.

Trong Alchemy liên kết với Đồng. Trong thiên văn Venus thường liên kết với mặt trăng và Hỏa Tinh.

Biểu tượng này cũng dùng làm biểu tượng cho phái nữ.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, Venus là một hành tinh sáng chói mang dương tính, lửa (liên kết với Hỏa Tinh) là âm thái dương vì thế Venus liên kết với các thần nữ thái dương như nữ thần Isis của Ai Cập cổ và Âu Cơ của Việt Nam (Âu Cơ: Nhận Diện Danh Tính và Bản Thể). Ta cũng thấy Venus khởi đầu bằng chữ V, một chữ nòng nọc vòng tròn-que có nghĩa là âm thái dương.

7. Mộc Tinh Jupiter

Biểu tượng của Mộc Tinh được diễn tả bằng búa thiên lôi của Jupiter, vua của các vị thần La Mã.

Trong Alchemy liên kết với Thiếc.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, búa thiên lôi có một khuôn mặt mang tính sinh tạo, tạo hóa, big bang là tiếng sấm khai thiên lập địa. Vì vậy Jupiter mới có khuôn mặt tạo hóa và là vị vua của tất cả các vị thần La Mã (tương đương với Ngọc Hoàng Thượng Đế của Đạo giáo). Jupiter liên hệ với thần sấm Lạc Long Quân cũng có một khuôn mặt tạo hóa, đội lốt Thần Nông, có một khuôn mặt là thần cây cỏ, trồng lúa nước, Lạc điền, nông nghiệp vì có bản thể là Nước, yếu tố sống chết của cây cỏ. Như đã biết Osiris, hình bóng của Lạc Long Quân, cũng có khuôn mặt là thần cây cỏ, bắp ngô, thường được diễn tả thân người có mầu xanh lá cây (Lạc Long Quân: Nhận Diện Danh Tính 6). Vì thế mà Jupiter mới được dịch là Mộc Tinh.

II. Trung Thế

Có hình tam giác là một mặt hay thiết diện đứng của kim tự tháp.

.

clip_image026

Như đã nói ở trên kim tự tháp có một khuôn mặt biểu tượng cho cõi giữa, cõi đất nhân sinh trung thế.

Hàng thứ ba

Gồm có 6 biểu tượng viết thành 6 chữ của những từ LAuS DEO và ở chính giữa là hình chỏm tháp.

a. Chữ L Thước Thợ

Chữ L diển tả bằng cây thước thợ, như đã biết là một biểu tượng tiêu biểu của Masons.

Đối chiếu với hệ thống nòng nọc vòng tròn-que là một dạng chữ Nọc mũi mác do hai nọc que ghép lại mang tính sinh tạo, tạo hóa thái dương tương ứng với thước thợ Củ của Phục Hy như đã nói ở trên. Thước thợ biểu tưởng cho Nọc, dương, cực dương.

b. Từ Au

Au là ký hiệu của Vàng, là hai chữ đầu của tên Latin Aurum, vàng. Như đã nói ở trên, trong Alchemy, vàng liên kết với mặt trời. Như thế, đối chiếu hệ thống nòng nọc vòng tròn-que là biểu tượng của nọc lửa thái dương, Càn.

Au ghép với thước thợ L thành từ LAu với nghĩa là xưng tụng, ca ngợi, tán dương (Praise). Lau biến âm với Việt ngữ Lạo như thấy qua từ ghép ủy lạo (an ủi và tán dương, xưng tụng).

c. Chữ Sigma

Sigma là mẫu tự S của Hy Lạp. Chữ S mang tính chuyển động, chuyển động không ngừng như sóng. Vì thế, theo Tây phương sigma thường được giải thích theo nghĩa của gió cuộn, gió lốc (whirlwind) tức biểu tượng cho gió chuyển động. Thỉnh thoảng mới giải thích theo nghĩa nước xoáy, cuộn sóng (whirlpool) tức biểu tượng cho nước chuyển động, nước dương (J. E. Cirlot).

Epsilon dùng trong toán học có nghĩa là bao hàm, tổng số (sum, summation)…

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, chữ S cũng biểu tượng cho sự chuyển động của nhiều vật thể và có nhiều nghĩa tùy theo tính nòng nọc, âm dương. Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, vùng tứ hành bao quanh mặt trời-không gian ở tâm trống tức vùng tứ tượng ở dạng vận hành, chuyển động vô cùng tận mang tính sinh tạo cũng được diễn tả ở dưới dạng sóng.

clip_image028

Tứ tượng diễn tả ở dạng sóng tứ hành (J.E. Cirlot).

Bốn vật thể chính là nước, gió, lửa đất khi chuyển động đều có dạng sóng như sóng nước, sóng âm thanh, sóng ánh sáng và sóng đất (những ngọn đồi hình sóng cuộn, lúc động đất, đất cũng có thể chuyển động gợn sóng). Vì thế phải dựa vào tính nòng nọc, âm dương của hình sóng chữ S mà tìm lấy nghĩa thích hợp. Nhìn theo diện thái âm, sóng nước có hình móc nước cuộn lại ở hai đầu. Nhìn theo diện thiếu âm, sóng gió có đỉnh tròn và uốn khúc rộng như dạng sin (sinusoid). Nhìn theo diện thái dương, sóng lửa mang hình mũi mác thái dương nhọn đầu như tia chớp hình chữ S gẫy. Nhìn theo diện thiếu dương, sóng đất có đầu bằng hình uốn khúc vuông.

Ở đây theo Tây phương nhìn theo duy dương của xã hội phụ quyền cực đoan nghiêng về gió như J.E. Cirlot viết. Tuy nhiên nếu nhìn theo duy âm, Sigma cũng có thể là nước.

d. Chữ Delta

Delta là chữ D trong mẫu tự Hy Lạp.

Đối chiếu với chữ nòng nọc vòng tròn-que, delta có hình tháp, hình tam giác thuận có một khuôn mặt là chữ nọc mũi mác hình tam giác có đỉnh chỉ thiên, có một khuôn mặt là núi kim tự tháp biểu tượng cho đất dương, Li.

e. Chữ E, Epsilon

Epsilon là một mẫu tự Hy Lạp.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, theo duy âm E, e liên hệ với nước (theo duy dương, nguyên âm A liên hệ với lửa, I với đất, O với gió và E với nước ). Việt ngữ é là hạt rau húng quế dùng làm nước giải khát (nước hột é). Pháp ngữ eau, nước. Các nữ thần Nước thường có tên khởi đầu bằng E như nữ thần nước Lưỡng Hà là Ea, của Chàm là Ea.

Chữ Epsilon biểu tượng cho tượng nước.

Nếu chữ Sigma hiểu theo nghĩa nước thì ở đây Epsilon sẽ có nghĩa là gió.

f. Rắn Ouroboros

Chữ O diển tả con rắn ngậm đuôi tạo ra vòng tròn thấy trong truyền thuyết Ai Cập cổ, Maya, Hy lạp, Ấn Độ, Bắc Âu Norse. Hiện được hiểu theo nhiều ý nghĩa biểu tượng như chu kỳ tự nhiên của thời gian, chu kỳ tái sinh, sinh tử. Trong Codex Marcianus (thế  kỷ thứ 2 STL) có nghĩa là Nhất Thể, Tất Cả’ (‘the One, the All’) (J.E. Cirlot)

Đối chiếu với hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, mẫu tự O là chữ Nòng O, một trong hai mẫu tự căn bản của chữ nòng nọc vòng tròn-que có vô số nghĩa. Ở đây có nghĩa giới hạn và xác định bởi con rắn. Hình con rắn không có trang trí gì và cuộn tròn ngậm đuôi thành chữ nòng O là biểu tượng nòng, âm, thái âm, không gian, Khôn, cực âm. Điểm này thấy rõ qua dạng lưỡng hợp chim rắn hay dạng nhất thể rắn lông chim Kukulcan của Maya. Quan niệm rắn Ouroboros là ‘the One, the All’ trong Codex Marcianus là nhìn dưới dạng rắn lông chim này.

Tóm lại hàng chữ này gồm các từ LAuS DEO có nghĩa là XƯNG TỤNG TẤT CẢ THÁNH THẦN.

Đối chiếu với hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, ta có chữ đầu tiên L thước thợ là nọc thái dương, cực dương hôn phối với chữ cuối cùng O con rắn Ouroboros, thái âm, cực âm. Chữ L thái dương có một khuôn mặt lửa, chim (L mang hình ảnh búa mỏ chim) hôn phối với rắn nước cuộn tròn O thái âm. Đây là dạng lưỡng hợp chim rắm, Tiên Rồng. Ta có lưỡng nghi.

Từ Au, vàng liên hệ với mặt trời có một khuôn mặt tượng cho Lửa Càn thế gian (vì vàng là một thứ quặng mỏ). Chữ Sigma biểu tượng cho tượng gió dương Đoài vũ trụ, chữ Delta biểu tượng cho tượng Đất dương Li và chữ E Epsilon biểu tượng cho tượng Nước dương Chấn. Ta có tứ tượng.

Như thế hàng chữ này diễn tả lưỡng nghi, tứ tượng.

Ta cũng thấy các mẫu tự trong các chữ cổ Tây phương trong đó có mẫu tự ABC là di duệ của chữ nòng nọc vòng tròn-que (xem Chữ Nòng Nọc Vòng tròn Que và Mẫu Tự ABC).

g. Chỏm tháp

Hàng này ở chính giữa có chỏm tháp diễn tả bằng hình tam giác mang hình ảnh một kim tự tháp có tất cả nghĩa của một kim tự tháp.

Ở đây diễn tả bằng hình tam giác là thiết diện hay một mặt của kim tự tháp. Ý nghĩa của kim tự tháp đã nói ở trên.

Freemasons dùng rất nhiều biểu tượng hình tam giác trong tôn chỉ và đẳng cấp.

Tóm lại hàng thứ ba này có chữ L nọc thái dương giao hòa với chữ cuối O con rắn Ouroboros nòng thái âm ta có lưỡng nghi và bốn từ và chữ Au, Sigma, Delta, Epsilon diễn tả tứ tượng. Lưỡng nghi, tứ tượng sinh ra tam thế được diễn tả bằng hình tam giác chỏm tháp ở chính giữa.

Quanh Tháp

Mỗi bên có ba biểu tượng.

clip_image030

-Ngôi sao 5 cánh

Sao có nhiều nghĩa phần lớn ngày nay hiểu theo nghĩa bóng hay suy diễn như sao là vật sáng trong đêm nên suy ra là biểu tượng của hướng dẫn, chỉ đạo, tâm linh, biểu hiệu của Đấng Tối Cao. Ý nghĩa của sao tùy theo số cánh (gọi là points) và hình dạng cũng giống như trường hợp của mặt trời. Ở đây là sao năm cánh.

Trong hội Freemasons ngôi sao năm cánh tương ứng với đẳng cấp sư phụ của Mason gọi là hội hữu năm điểm. Sao 5 cánh cũng là biểu tượng của chi hội Sao Phương Đông, một tổ chức Freemasons mà phái nữ có thể tham gia như Robert Langdon nói ở chương 6.

Nhiều suy diễn cho rằng ngôi sao 5 cánh Masons liên hệ với nhiều thứ từ lá cờ sao của Mỹ cho tới Nhà Nguyện Rosslyn (Dan Brown trong The Da Vinci Code dùng nơi này nói tới dòng máu của Chúa Jesus).

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, sao hiện về đêm nên mang ý nghĩa biểu tượng liên hệ với đêm, bóng tối, âm. Hình ngôi sao năm cánh với 5 đỉnh là số Li, lửa đất thế gian. Điểm này giải thích tại sao trong bài Tarot, ngôi sao có một nghĩa là đất. Sao hiện về đêm mang âm tính nên biểu tượng cho phái nữ, Việt ngữ có từ gọi sao là Nàng Sáng. Điều này giải thích tại sao Tây phương cho sao là biểu tượng cho phái nữ, nữ thần, chi hội Sao Phương Đông của Freemasons là chi hội phái nữ có thể tham dự. Sao năm cánh là sao lửa thế gian, vì sao sáng nhất trong đêm được dùng làm biểu tượng cho những khuôn mặt nữ mang tính thái dương cõi đất thế gian về đêm như Isis có khuôn mặt là sao Venus. Âu Cơ là hình bóng của Isis cũng có biểu tượng là sao mai (nên nhớ Isis và Âu Cơ có một khuôn mặt lửa đất, núi). Sao năm cánh có một khuôn mặt là một thứ mặt trời đêm nữ thái dương.

Vì thế nếu hiểu sao năm cánh là biểu hiệu của Đấng Tối Cao thì phải hiểu là của ngành nòng âm hay mang âm tính thái dương (phía nữ thái dương hay một khuôn mặt nam đại diện cho phía nữ thái dương).

Cũng cần nói thêm ngôi sao 5 cánh có một khuôn mặt liên hệ với lửa đêm, bóng tối, nữ nên cũng có những nghĩa tiêu cực đen tối dùng làm biểu tượng cho quỉ dữ, satan ở vào thời phụ quyền cực đoan. Ngôi sao năm cánh ngược biểu tượng cho hỏa ngục dùng trong ma thuật.

-Mặt Trời và Mặt Trăng

Được hiểu theo một nghĩa là tượng trưng cho Đấng Tối Cao.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, đây là nòng nọc, âm dương nhất thể ứng với thái cực, nhìn theo diện truyền thuyết, tín ngưỡng ứng với Tạo Hóa nhất thể.

Ở đây trăng có hình trăng sừng tức ông trăng thái dương. Trăng có mầu trắng cũng mang dương tính. Mặt trời đĩa tròn không tia sáng mang âm tính và có mầu đen cũng mang âm tính. Như vậy ở đây có lưỡng hợp ông trăng với bà trời giống như Lạc Long Quân với Âu Cơ dưới dạng nhất thể tức bọc trứng Lang Hùng-Mị Nương.

-Mặt Trời Thế Gian

Mặt trời này vẽ có mặt người và có tia sáng tỏa ra khác với mặt trời chấm-vòng tròn ở trên đỉnh tháp ở hàng thứ hai có 7 hành tinh.

Điểm này cho thấy rất rõ có nhiều loại mặt trời giống như trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, mỗi loại mặt trời mang một ý nghĩa biểu tượng khác nhau trong Vũ Trụ giáo, theo Dịch lý tức trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á). Mặt trời chấm-vòng tròn ở trên là mặt trời tạo hóa lưỡng tính phái, mặt trời vũ trụ, càn khôn ở Thượng Thế (xem dưới) và mặt trời có mặt người ở đây là mặt trời thế gian, cõi người Trung Thế. Mặt trời này cũng có hai loại tia sáng. Tia sáng nọc que mang dương tính, lửa. Tia sáng hình cong chữ S sóng nước mang âm tính. Mặt trời thế gian này cũng mang tính sinh tạo nòng nọc, âm dương ở cõi thế gian của ngành nọc thái dương.

-Ba ngọn nến

Trên bàn thờ Freemasons thường được xếp theo hình tam giác biểu hiệu cho ba ngọn đèn sáng của mặt trời, mặt trăng và sư tổ của chi hội (đại diện Đấng Tối Cao). Chúng dùng để nhắc nhở sư trưởng phải điều hành chi hội với cùng một nhịp điệu đều đặn như mặt trời điều hành ban ngày và mặt trăng điều hành ban đêm. Ở chương 81 trong Lost of Symbol, Mal’akh làm việc dưới ánh sáng của ba ngọn nến ở tầng hầm của hắn.

Trong hệ thống nòng nọc vòng tròn-que, ba ngọn nến là ba nọc lửa Càn, xếp theo hình tam giác ba cạnh là chữ nọc mũi mác hình tam giác. Tất cả các ý nghĩa trên đều năm trong quẻ Càn.

-Com-pa

Đã nói ở trên.

-Tảng đá Ashlar

Khối đá xây cất gọt nhẵn mang ý nghĩa là con người có thể đạt được thành quả qua giáo dục, đức tin và kỷ luật.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: