NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ CHA TỔ LẠC LONG QUÂN (3).

NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ CHA TỔ LẠC LONG

QUÂN.

(phần 3).

Nguyễn Xuân Quang

Biểu Tượng Của Lạc Long Quân

Tổng quát các vật biểu của Lạc Long Quân thuộc nhánh Thần Nông phải có nghĩa liên hệ với Nước, Nước lửa, mặt trời Nước, sấm mưa và thấy ở cả ba cõi Tam Thế.

Biểu tượng của Lạc Long Quân rất nhiều chỉ xin nói tới những biểu tượng chính yếu.

1. Cõi Trên, Cõi Trời

 Biểu tượng động vật ở cõi trời là một loài chim.

– Chim Nước, Chim Nác, Chim Lạc.

Chim biểu của Lạc Long Quân phải là loài chim nước chân có màng mang dương tính thái dương.

Lạc Long Quân là mặt trời Nước của nhánh nọc mặt trời thái dương nên ở đây chỉ nói tới các vật biểu thái dương của Viêm Đế-Thần Nông thái dương (cần phân biệt Thần Nông thái dương với Thần Nông thái âm).

Tổng quát, các chim biểu của Lạc Long Quân là di duệ của chim nông đẻ trứng vũ trụ của Thần Nông tạo hóa.

1. Chim Lạc

Chim Lạc phải là chim Nác, chim Nước mang dương tính (Lạc, Lác là dạng nam hóa của Nác).

Nói chung các tộc trong Bách Việt liên hệ với Lạc Long Quân có thể dùng bất cứ loài chim nước nào mang dương tính để làm chim biểu cho tộc của mình. Vì thế mà từ Lạc có thể chỉ nhiều giống chim nước chân có màng mang dương tính.

a. Chim Lạc chỉ chim ô bạo được cho là một loài chim nước.

b. Chim Nông

Ở cõi tạo hóa Lạc Long Quân đội lốt Thần Nông nên Lạc Long Quân có một khuôn mặt chim biểu là chim nông nước bồ nông. Hình bóng chim nộng có rất nhiều trong sử sách, ca dao tục ngữ, khảo cổ học (Thế Giới Loài Vật Trên Tống Đồng).

c. Chim Lạc là loài ngỗng.

Các nhà làm văn hóa Việt Nam từ trước tới nay thường nhắc tới con chim Lạc, chim biểu của Lạc Long Quân và cho là một loài ngỗng trời. Đào Duy Anh trong Cổ sử Việt Nam (Hà Nội 1955) khi nói về Lạc Việt đã viết : “Theo Từ Quảng thì Lạc là họ, tức tên thị tộc của một nhóm người Việt ở xứ Mãn… tên Lạc kia có thể là vật tổ được không? Chữ Lạc… chỉ một loài hậu điểu ở miền Giang Nam tương tự với loài ngỗng trời. Có thể chim Lạc là vật tổ của người Lạc Việt… (dẫn L. Pinot và V. Goloubev)… Chúng tôi đồng ý với hai tác giả trên, duy phải nói thêm rằng chim Lạc mà những người sản xuất trống đồng đã thờ làm vật tổ chính là người Lạc Việt”.

Con ngỗng là loài chim nước chân có màng và có cổ ‘ngổng’ mang dương tính nên có thể là chim biểu của Lạc Long Quân. Kiểm chứng lại tà cũng thấy có những hỗ trợ sau:

-chim nông tên Hán Việt là đường nga, Lạc Long Quân là di duệ của Thần Nông nên có chim biểu mang di thể nga, ngỗng.

-Âu Cơ có một khuôn mặt chim biểu là con ngỗng lửa cái, ngỗng hồng, thiên nga hồng thì theo diện cùng bản thể, Lạc Long Quân có chim biểu là một loài ngỗng nước, ngỗng Lạc.

-Như đã biết, Thần Đất Keb của Ai Cập cổ tương đương với Kì Dương Vương có một khuôn mặt ngỗng thấy qua vương miện ở trên có con ngỗng. Lạc Long Quânlà con của Kì Dương Vương nên cũng có di thể ngỗng lửa đất này của Kì Dương Vương của Keb.

Ở trên tác giả Đào DuyAnh cho rằng chim Lạc ngỗng trời khắc trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là sai. Chim trên trống đồng chân không có màng nên tuyệt nhiên không phải là loài ngỗng nên không phải là chim Lạc mà là con cò gió, cò Lang.

Lưu ý

Ttrong đại tộc Cò Gió có chi cò Nước, Cò Lạc khác với chim biểu Lạc của Lạc Long Quân là loài Chim Nước Chân Có Màng.

(xem Chim Lạc hay Cò Lang).

-Ngoài ra cũng đào tìm thấy những tượng vịt, ngỗng…

-Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn bên cạnh hình cò bay có vài trống có hình như loài ngỗng.

Đặc biệt rõ nhất là trên trống Shan của tộc người nói tiếng Tầy Thái có nhiều hình chim nước thuộc loài vịt ngỗng.

(xem Trống Đồng Shan).

Chúng ta thường nghe nói tới con Hồng cháu Lạc, Lạc Hồng, Hồng Lạc. Nếu chỉ nhìn Hồng Lạc (duy âm), Lạc Hồng (duy dương) dưới diện của Âu-Lạc thì có thể là con Ngỗng Hồng cái chim biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ và chim Lạc, một loài chim nước, chim biểu của Lạc Long Quân.

Nếu nhìn dưới diện rộng hơn trong họ Hồng Bàng gồm hai ngành nọc lửa Kì Dương Vương-Âu Cơ và nọc nước Lạc Long Quân thì Hồng là chim cắt Hồng Hoàng và Lạc là chim nước thuộc họ nhà Ngỗng.

c. Chim Cốc

Chim cốc là loài chim nước chân có màng. Chim có mầu đen là mầu nước thái âm. Mỏ nhọn có mấu mang dương tính. Có loài cốc dùng mỏ nhọn để đâm cá nên Anh ngữ phổ thông gọi là chim darter, chim phi tiêu. Ta cũng thấy Cốc biến âm với cọc (nọc). Như thế chim cốc là chim nước mang dương tính nọc là biểu tượng của Lạc Long Quân.

Trong các khảo cổ vật có các tượng chim cốc nhất là trong cổ vật đồ đồng Điền (xem dưới).

2. Cõi Giữa:

.Vùng đất thế gian

Biểu tượng của Lạc Long Quân ở cõi đất thế gian là loài thú bốn chân sống trên mặt đất mang tính nước thái âm ngành nọc thái dương.

Trâu Nước, Trâu Lạc

Người Việt cổ xưa thờ trâu: “Người Việt xưa không những có ‘tô-tem’ chim ‘lạc’, tô-tem rồng mà còn có nhiều tô-tem khác như trâu, chó…” (Trịnh Minh Hiền, Trần Mạnh Phúc, Tìm Hiểu Nghệ Thuật… HVDN, NXB KHXH, HN, 1972 t.I, tr.230).

Người Mường ngày nay còn thờ trâu. Họ có câu tục ngữ “cun lang bú chó, cun vó bú trâu”.

Nếu kể ra thì không hết hình ảnh trâu trong dân gian Việt Nam. Sự thờ phượng trâu đã thấm vào xương máu người Việt. Ngày nay chúng ta cứ tưởng là thờ phượng trâu là vì con trâu giúp nhà nông cầy ruộng. Đây là cái nhìn thế tục (duy tục) về việc thờ phượng trâu đã biến dạng vào thời xã hội nông nghiệp sau này. Chúng ta ngày nay vẫn kiêng ăn thịt trâu vì viện một cớ nào đó như dễ bị phong, thịt trâu dai, hay như các người miền Nam không ăn thịt trâu gi ải thích là con trâu là con vật có nghĩa. Thật ra thịt trâu cho tới ngày nay không phổ thôn vì trâu là vật tổ của chúng ta. Chúng ta không ăn thịt vật tổ Sùng Lãm vì đây là một thứ hèm (taboo).

Một điểm cũng nên nói tới là Thần Trâu cũng được gọi là ‘quân’ như Thanh ngưu tướng quân. Hiển nhiên quân liên hệ với Quân của Lạc Long Quân.

Như đã biết, tên mẹ đẻ Sùng Lãm có thể phiên âm từ Việt ngữ Sừng Lầm, Sừng Đầm chỉ con Trâu Nước. Nam Dương có một tộc Minang Kerbau là Tộc Trâu Vinh Quang. Kerbau là Con Trâu Nước có Ker- là Kẻ là nọc, cây là Sừng (gốc Hy Lạp ker- là sừng như keratitis, sưng màng sừng, giác mạc) và –bau chính là Việt ngữ bầu có một nghĩa là ao, vũng nước, đầm nước như bầu sen là ao sen. Kerbau là con Kẻ Bầu, Sừng Ao, Sừng Đầm, Sùng Lãm.

Như thế thú biểu thế gian là con thú bốn chân sống được dưới nước là con trâu.

Việt Nam có rất nhiều truyềthuyết và địa danh mang trên trâu.

-Trâu Vàng Kim Ngưu.

Mầu vàng là mầu nọc âm thái dương là mầu biểu của Lạc Long Quân thái dương, mặt trời Nước Thái Dương. Trâu-Vàng, Kim Ngưu,Rùa Vàng Kim Qui là những thú biểu của Lạc Long Quân.

Truyện Con Trâu Vàng ở huyện Tiên Du.

Núi Tiên Du có tinh trâu vàng (Kim ngưu) nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm vào trán trâu vàng, trâu vàng bỏ chạy, húc vào đất làm sụt thành cái hồ. Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang, vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi là vũng Trâu Đầm. Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đại Ngưu…. Các xã này sở dĩ có tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới. Trâu lại từ trong bến ra sông Cái đến Ninh Giang đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ” (LNCQ tr.117).

Hồ Tây vừa là “Vũng trâu đầm” liên hệ với Lạc Long Quân. Như thế hồ Tây là hồ liên hệ với Lạc Long Quân, vua Mặt Trời Lặn ở phương Tây.

Hiển nhiên hồ Tây là hồ Mặt trời lặn Lạc Long Quân, là hồ ‘Vũng trâu đầm’ Sùng Lãm.

-Trâu Sơn

Núi Trâu ở Vũ Ninh, nơi Phù Đổng Thiên vương đánh tan giặc Ân, nay thuộc huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh. Phù Đổng Thiên vương là hóa thân của Lạc Long Quân. Núi Trâu rõ ràng liên hệ với Phù Đổng Thiên vương hóa thân của Lạc Long Quân (x. Phù Đổng Thiên Vương).

Cá Sấu Lạc

Cá sấu cùng loài bò sát với rắn sống được dưới nước và có bốn chân sống được trên đất. Như thế loài cá sấu có mang dương tính là thú biểu vùng đất âm của Lạc Long Quân.

Trong thiên nhiên có một loài cá sấu thuộc họ gharial mang dương tính. Sở dĩ được gọi là gharial vì con đực ở đầu mõm có cục u gọi là ghar.

clip_image002

Gar- liên hệ với Phạn ngữ gah, to strive, to penetrate, đâm, đâm xuyên thủng. Ghar- chính là Việt ngữ gạc (sừng). Cá sấu sừng gharial này tôi gọi là cá sấu gạc. Theo biến âm g=h (gồi = hồi) ta có gạc = lạc. Ta cũng có bắn gạc = bắn lạc. Sấu gạc là sấu Lạc. Hình ảnh con sấu gharial có sừng ghar=, gạc này khắc trên thuyền ở thạp đồng Đào Thịnh.

clip_image004

Mũi thuyền ở thạp đồng Đào Thịnh hình cá sấu gạc đầu mõm có cục sừng.

Hai chiếc thuyền này trên thạp dùng trong mai táng liên hệ với cõi âm. Đây chính là thuyến Phán Xét Linh Hồn liên hệ với khuôn mặt cõi âm của Lạc Long Quân.

Trong họ gharials này có giống cá sấu mõm dài và nhọn gọi là Gavial có tên khoa học là Tomistoma Schlegelii.

clip_image006

Sấu mõm dao Tomistoma Schlegelii

Latin Tomistoma: tomi: cắt ví dụ như anatomy, cơ thể học (môn học cùng với mổ xẻ), nephrectomy, cắt bỏ trái thận. Hiển nhiên cắt thì phải dùng vật sắc, nhọn. Stoma là miệng. Tomistoma là miệng dao, mõm dao, mõm dài và nhọn như dao như giáo.

Loại sấu mõm dao dài này ngày nay còn thấy ở Mã Lai, Nam Dương và vài trăm năm trước đây còn thấy ở các vùng Đông Nam Á lên tới tận bắc Trung Hoa (a few hundred years ago they may have ranged as far north as China). Mới đây các nhà khảo cổ học Trung Hoa đào tìm thấy hai cái sọ cá sấu dao mõm dài gavial này ở Quảng Đông. Điều này cho thấy rõ vùng nam Trung Hoa trước đây là đất của sấu dao Tomistoma schlegelii và ngay cho tới đời nhà Minh (1368-1644) chúng vẫn còn sống ở vùng nam Trung Hoa (Charles Ross, Crocodiles and Alligators tr.72).

Trước đây, khai quật về khảo cổ học đã khám phá ra bằng chứng là thổ dân ở vùng đất Trung Hoa hiện nay (dĩ nhiên là Tứ Di) đã thờ phượng thằn lằn, cá sấu và long từ thời cách đây năm sáu ngàn năm (Zhou Guoxing The Chinese Dragon, trong Crocodiles and Alligators, Charles Ross tr.160).

Sử sách cũng ghi lại là Nam Di (‘Southern “Barbarians”‘) dưới sự đô hộ của nhà Đường, cũng đã tiên đoán được trời mưa bằng cách nghe tiếng kêu của cá sấu và trong những đám cưới vua quan sang trọng thường được thết đãi thịt cá sấu (Léonard Ginsburg, Mummified Egyptian Crocodilles, trong The Chinese Dragon, trong Crocodiles and Alligators, Charles Ross tr.159).

Sấu mõm dao Gavial là thú biểu của Lạc Long Quân. Sấu mõm dao này thấy trên trống đồng Hòa Bình.

CS

Sấu mõm dao này thấy trên trống đồng Hòa Bình.

(xem dưới).

Thuồng Luồng, Giao Long

Sấu dao thần thoại hóa thành thuồng luồng, dao long, giao long.

Ngô Sĩ Liên, trong Đại Việt Sử Ký toàn thư có viết về nguồn gốc thành Thăng Long: “Long-uyên tức là Long Biên, tên huyện đời Hán, thuộc Giao Chỉ, dinh quận đời Đông Hán đóng ở đấy.” Theo Thủy Kinh Chú: “Năm thứ 13 đời Kiến An nhà Hán khi mới lập thành có giao long (thuồng luồng) quấn quít ở hai bến nam, bắc trên sông bèn đổi tên là Long-uyên. Nhà Lý đóng đô ở đấy đổi tên là Thăng Long, Trần Lê theo tên ấy. Nay là tỉnh thành Hà Nội” (Đại Nam Xb, tr.125). Chứng tích sử này cho thấy Việt Nam có giao long có thuồng luồng có cốt cá sấu.

Mã Nam Dương ngữ buaya jolong hay yulong (Riau-Johor ngữ) là cá sấu thuộc họ mõm dao Gavial, Tomistoma schlegelii. Jolong, yulong biến âm của giao long.

Hán Việt giao, tiếng cổ đọc là kiao phiên âm từ Cổ ngữ Việt keo, kèo, tức là cái cọc, cái nọc. Ngày xưa tộc Dao, Giao tổ tiên ta gọi là Kèo, tức cá sấu Kèo. Chứng tích còn thấy là người Thái, Lào ngày nay còn gọi người Việt là lũ “Keo”, họ gắn thêm nghĩa xấu xa vào giống như người Trung Hoa cổ gọi chúng ta là Man với nghĩa xấu xa là man di mọi rợ. Theo qui luật biến âm k=s (cắt = sắt, thái) ta có Keo = Seo, Sấu. Như thế Dao, Giao, Kiao, Keo là con kèo, con Siau, Seo con cá sấu.

Lạc biến âm với Ly nên Giao Long Rồng giao, Rồng Lạc là Rồng Ly. Hán Việt ly là con rồng ở sông Lạc. Điều này cho thấy con Rồng Ly có cốt là con cá sấu gạc, sấu Lạc.

Hình bóng giao long thấy rất nhiều trong khảo cổ vật (xem dưới).

Thằn Lằn

Thằn lằn cùng loài bò sát với cá sấu, rắn. Từ sauria chỉ kỳ đà, thằn lằn có gốc saur- chỉ chung loài bò sát có chân như thấy qua các từ khủng long dinosaur, khủng sấu dinosuchusa. Tất cả đều có saur-, su- liên hệ với ‘sấu’ .

Vì thế thằn lằn cũng được dùng làm vật tổ cho các tộc nòng âm thuộc nhánh Lạc Long Quân nhất là các tộc ở những vùng không có cá sấu như tộc Ao Naga (Âu Long, Âu L ạc) ở Assam chẳng hạn (xem dưới).

Như đã biết ở trên thổ dân ở vùng đất Trung Hoa hiện nay đã thờ phượng thằn lằn, cá sấu và long từ thời cách đây năm sáu ngàn năm.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn, thắn lằn, kỳ đà thấy trên trống đồng U Buôn, trống Sangeang Malakamau của Nam Dương (xem dưới).

Loài Cáo, Chồn Lạc

Từ Lạc viết với bộ trãi như trong tên Lạc Long Quân còn đọc theo âm “hạc” chỉ một loài chồn mũi nhọn, lông dầy, da dùng làm áo lông. Cáo mũi nhọn là Cáo gạc, cáo lạc.

Vì có dòng máu chồn cáo nên Lạc Long Quân đã trừ được hồ Tinh:

Thời đó dưới chân núi Tản Viên người Mán chôn gỗ kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường thờ phụng. Thần dậy người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là Bạch Y Man (mán áo trắng). Con cáo trắng chín đuôi (sống hơn nghìn năm) biến thành người áo trắng nhập vào giữa dân Mán cùng ca hát rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong hang núi. Người Mán rất khổ sở. Long quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy quân thủy phủ đuổi theo phá hang bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu nay gọi là “đầm xác cáo” (tức Tây Hồ ngày nay). Sau lập miếu (tức Kim Ngưu tự) để trấn áp yêu quái. Cánh đồng phía Tây Hồ rất bằng phẳng dân địa phương trồng trọt làm ăn gọi là Hồ Đỗng (hang cáo). Đất ở đây cao ráo dân làm nhà mà ở gọi là Hồ Thôn (thôn cáo). Chỗ hang cáo xưa nay gọi là Lỗ Khước Thôn ở Hồ Tây” (LNCQ tr.30).

Lạc Long Quân có cốt cáo nên diệt được hồ tinh. Điểm lưu ý ở đây là Hồ Tây vừa là hồ Trâu-vàng có miếu Trâu-vàng vừa là “Đầm xác cáo”, rõ ràng ăn khớp với dòng máu trâu nước và cáo chồn Lạc của Lạc Long Quân.

Ngựa Lạc

Lạc viết với bộ mã, sách Quảng vận thích nghĩa là “ngựa sắc trắng bờm đen” (Nguyễn Kim Thản, Thử Tìm Nguồn Gốc Ngữ Nghĩa Của Từ Tố “Lạc”, HVDN t.IV, tr.135). Hán thư (thế kỷ thứ 1, thứ 2) viết từ Lạc bộ mã này chỉ người Lạc Việt. Ngựa trắng bờm đen với trắng đen là màu biểu của Lạc Long Quân.

Cóc Lạc

Mường ngữ rạc: con cóc. Rạc là lạc (l=r) là lác là nước. Cổ ngữ Việt (dùng nhiều ở vùng đất tổ Phú Thọ) rạc, rặc là nước: nước rặc, cạn rặc là nước xuống, nước lui, ‘ruộng chằm’ (chằm là đầm) là ‘ruộng rặc’ là ruộng nước. Ruộng “rộc” cũng là ruộng nước. Con rạc là con nước. Cóc, ếch liên hệ với sấm mưa là vật  biểu của Lạc Long Quân có cốt nước, có khuôn mặt sấm mưa. Con cóc là cậu của Lạc Long Quân. Ta có từ cóc cụ ứng với khuôn mặt cụ già của Lạc Long Quân (xem Con Cóc Là Cậu Ông Trời).

Nhóm trống đồng có tượng cóc/ếch liên hệ với Lạc Long Quân (xem Nhóm Trống Cóc Ếch).

.Vùng Nước thế gian

Rắn, Trăn Nước, Rắn Lạc.

Lạc Long Quân có mạng nước nên vật biểu chính là con rắn nước. Ở ngành nọc dương thái dương là con rắn có mang dương tính có mào hay có sừng ứng với Chấn như thấy ở mũi thuyền trẽn trống Ngọc Lũ I.

Rắn nước thần thoại hóa thành rồng nước, rồng nác, Rồng Lạc.

Hình bóng rắn Lạc Long Quân có mặt ở cả ba cõi. Ở cõi Thượng Thế đội lốt rắn sinh tạo, tạo hóa Thần Nông thái âm, ở cõi giữa Trung Thế là thần rắn nước và ở cõi Hạ Thế là loài rắn âm (độc) cai quản cõi chết.

Hình bóng rắn và rồng này rất nhiều không cần kể ra đây, sẽ chỉ nói qua các khảo cổ vật ở phần Khảo Cổ Học ở dưới.

Cá Chép

Cá chép sống hoàn toàn dưới nước và có thể hóa rồng nên là vật biểu nước thế gian của Lạc Long Quân.

Như đã biết, ở Việt Nam còn nhiều nơi thờ cá chép. Người Mường thờ cá chép là vật biểu của Lạc Long Quân.

Người Mường thờ cúng tổ thường có hai lá cờ cá chép, vật biểu của Lạc Long Quân và cờ nai sao, thú biểu của bà Ngu Cơ cắm ở hai bên bàn thờ.

clip_image008 clip_image009

Cờ cá chép và nai sao của người Mường (J. Cusinier, Les Mường).

Như đã nói ở trên, ở Cẩm Lương Thanh Hóa có suối Cá Thần thờ cá chép, vật biểu của Lạc Long Quân.

Trong khảo cổ vật cũng đào tìm thấy hình tượng cá chép

(xem dưới).

Với khuôn mặt cá chép hóa rồng này Lạc Long Quân giết được Ngư Tinh:

“Con tinh ngư xà hại dân, Lạc Long Quân thương dân giết ngư tinh. Lạc Long quân cắt đứt đuôi cá, lột da phủ lên trên núi nay chỗ đó gọi là Bạch Long vĩ còn cái đầu trôi ra biển biến thành con chó. Lạc Long Quân chém con chó, cái đầu biến thành Cẩu đầu sơn. Thân trôi ra ngoài mạn cầu gọi Mạn-cầu-thủy hay Cẩu-đầu-thủy” (LNCQ tr.28-29). Ngày nay ở vịnh Hạ Long còn có một đảo nhỏ mang tên là Bạch Long Vĩ.

Rùa Lạc

Với khuôn mặt sinh tạo cõi thế gian, Lạc Long Quân có vật biểu là con rùa nước, rùa biển như thấy rõ qua truyền thuyết Rùa Vàng Kim Qui, vật biểu của Lạc Long Quân giúp An Dương Vương  xây thành Cổ Loa.

Xin nhắc lại, rùa có khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa vì rùa có mai hình vòm trời và bụng rùa vuông là đất.  Bụng và mai là vuông tròn, là đất trời, âm dương giao hòa mang tính sinh tạo, tạo hóa. Vì  thế rùa thường thấy đi với Dịch.

3. Hạ Thế, Cõi Âm

Chim cú Lạc

Lạc là chim cú: Sách Quảng vận (đời Tống bản của Trạch Tồn Đường) thích nghĩa “lạc” là ‘chim kỵ kỳ’. Còn ‘kỵ kỳ’ từ điển Từ Hả dẫn Nhĩ-nhã giải thích đó là chim ‘hưu hưu’ mà ‘hưu hưu’ thì Từ Hải giải thích là con cú mèo có ghi thêm tiếng Latin Otus sunia joponicus (dẫn lại trong Nguyễn Kim Thản, Vương Lộc, sđd tr.135).

Chim cú là biểu tượng cho chim cõi âm liên hệ tới chết chóc: “cú kêu ma”, “cú kêu cho ma ăn”, “cú dòm nhà bệnh”… Đây là chim biểu của khuôn mặt cõi âm của Lạc Long Quân.

Nên nhớ cõi âm không phải chỉ là địa ngục. Ngày nay tộc người Ao-Naga (Âu Long, Âu Lạc) vẫn giữ tục kiêng ăn thịt cú.

Có rất nhiều khảo cổ vật đông phương mang hình cú…

Trên mặt trống Yên Tập có hình chim cú (xem dưới).

Như đã biết trong bài Nhận Diện Danh tính và Bản Thể Mẹ Tổ Âu Cơ, nữ thần Ai Cập cổ Isis, một hình bóng của Âu Cơ có chim biểu là chim cú. Như thế Âu Cơ cũng có thể có chim biểu là chim cú nhưng là loài chim cú lửa, thái dương tức là loài cú sừng (horned owl). Khuôn mặt chim cú này của Âu Cơ là dạng đồng bản thể với chồng nên Âu Cơ có thể phụ giúp chồng trong việc cai quản cõi âm, trong qui trình tạo sinh, tái sinh, hằng cửu.

Chó Lạc

Chồn cáo thuộc họ nhà cầy, chó nên chó mang âm tính cũng là một khuôn mặt của Lạc Long Quân. Con chó này liên hệ với cõi âm, cõi chết.

Trong vũ trụ giáo con chó này liên hệ với việc định giá, phán xét linh hồn người chết. Hình ảnh con chó này còn ghi khắc trên các thuyền phán xét linh hồn ở trên trống đồng Ngọc Lũ I (xem Giải Đọc Trống Đồng). Hình ảnh con chó này thấy rõ trong cổ sử Ai Cập. Người Ai Cập cổ gọi con chó này là Inpu, phiên âm thành Anubis, vị thần chuyên lo việc tẩm liệm mai táng. Tây phương cho Anubis là jackal (Anh ngữ), chacal (Pháp ngữ). Loài chó hoang này giống chó sói nhưng chuyên môn ăn các xác thú vật đã chết (đây là một hình thức ‘tẩm liệm’, hóa kiếp!). Jackal có jac-, chacal có chac- biến âm với lạc (J = ch như Java = Chà Và; ch = l như chếch = lệch). Lạc, ly là cáo chồn. Nếu muốn ta có thể gọicon  chó cõi âm, cõi này là chó Lạc.

Phật giáo có con chó cõi âm gọi là chó ngao cũng tham dự vào việc phán xét linh hồn người chết ở địa ngục.

LINH THÚ

Xin thật vắn tắt, Rắn Nước, Rắn Lạc Lạc Long Quân thần thoại hóa thành Rồng Rắn Lạc Long Quân. Rồng Rắn Nước Lạc Long Quân mang trọn vẹn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo nên cũng có nhiều khuôn mặt ứng với các giai đoạn của qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh. Nói một cách khác có những loại Rồng Rắn, Rồng Lạc có khuôn mặt mang tính sinh tạo ứng với thái cực, Trứng Vũ Trụ, khuôn mặt của hai nhánh nòng nọc, âm dương ứng với lưỡng nghi, những khuôn mặt ứng với tứ tượng, tam thế…  Nên nhớ các khuôn mặt này là khuôn mặt của các chi thuộc Đại Tộc Nước

Cần phải phân biệt Rồng Nước Lạc Long Quân với các loại Rồng Lửa, Rồng Đất, Rồng Gió của các Đại Tộc khác. Xin đừng lầm lẫn các chi tộc rồng lửa, đất, gió của đại tộc Rồng Nước với Rồng Lửa, Đất, Gió của các  đại tộc Rồng khác.

Như đã biết Rồng Cá sấu Lạc thần thoại hóa thành Dao Long, Giao Long.

Qua bài viết Nhận Diện Danh Tính và Bản Thể Âu Cơ ta đã biết Âu Cơ có linh thú Cái là con Lân có cốt là tê giác. Nếu nhìn theo diện đồng bản thể thì Lạc Long Quân cũng có thể có linh thú là con Lân đực có sừng.

Như đã biết, tê giác liên hệ với ngành nòng Lạc Long Quân như thấy qua sự kiện là An Dương Vương vào phút cuối của cuộc đời cầm sừng tê giác bẩy khấc rẽ nước đi xuống lòng biển về với Lạc Long Quân .

……

(còn nữa)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: