NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ CHA TỔ LẠC LONG QUÂN (Phần 1).

*NẾU CẦN CLICK HAI LẦN VÀO TỰA BÀI ĐỂ MỞ BÀI

NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ CHA TỔ LẠC LONG QUÂN.

(phần 1).

Nguyễn Xuân Quang

Ngài Lạc Long Quân được coi là Cha Tổ của Lạc Việt, Việt Nam.

Lạc Long Quân, ngài là ai?

.Qua Sử Miệng (truyền thuyết, ca dao, tục ngữ).

Trước hết xin duyệt xét sơ qua những cái nhìn về cha tổ Lạc Long Quân từ trước tới nay qua truyền thuyết dân gian và văn chương truyền khẩu. Truyền thuyết về Lạc Long Quân rất nhiều, chỉ xin nêu ra những truyền thuyết chính yếu.

Lạc Long Quân có mạng Thủy, Nước.

Truyền thuyết Việt chép rằng một hôm Kinh Dương vương đi ngoạn cảnh ở hồ Động Đình gặp một người đẹp tuyệt vời tên là Long Nữ, con gái Động Đình quân. Lộc Tục kết duyên cùng nàng và sinh ra được một người con trai đặt tên là Sùng Lãm. Ông này lên nối vua cha lấy hiệu là Lạc Long Quân.

Qua truyền thuyết này ta thấy:

.Lạc Long Quân là có cha là của Kì Dương Vương Lửa thiếu dương thế gian Li và mẹ là Long Nữ có một khuôn mặt Nước thiếu âm thế gian Khảm, vì thế Lạc Long Quân có bản thể là Lửa Nước, Nọc Nước, Chàng Nước IOO, Chấn (xem dưới phần Di Truyền).

.Lạc Long Quân là cháu ngoại của Động Đình Quân ở Hồ Động Đình.

Động Đình Quân thuộc dòng Long Vương ở hồ Động Đình. Chúng tôi đã đến thăm Hồ Động Đình, quả thật nơi đây có đền thờ Long Vương cai quản Cõi Nước, Cõi Âm có một khuôn mặt Diêm Vương (xem Hồ Động Đình).

Như thế Lạc Long Quân có một khuôn mặt liên hệ với Nước thế gian, Cõi Âm, Âm phủ. Điểm này được xác thực bởi truyền thuyết Lạc Long Quân có thủy phủ ở Vịnh Hạ Long.

Theo Lĩnh Nam chích quái thì “Âu Cơ là con gái Đế Lai, cháu của Đế Nghi theo cha đi tuần thú xuống nước Xích Quỉ… Long quân thấy Âu Cơ dung mạo đẹp đẽ kỳ lạ, trong lòng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu niên phong tư tú lệ… Âu Cơ vui lòng theo Long quân… Âu Cơ lấy Long quân đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh đồng, qua sáu bẩy ngày bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai…” (tr.21-22).

Long Quân về sau về cai trị Thủy-quốc, nên chia tay với vợ: “Ta là nòi rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia ly. Ta đem năm mươi con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị…”.

Qua truyền thuyết này ta thấy:

.Cha Tổ Lạc Long Quân Lạc Long Quân nhận mình có mạng thủy và Mẹ Tổ Âu Cơ có mạng hỏa: ta là nòi rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con nhưng thủy hỏa

Rõ ràng Lạc Long quân thuộc ngành nước tức Nọc Nước. Chàng Nước, ở cõi thế gian là nước động, Biển.

Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Thần Biển và Chúa Tể Cõi Âm Nước Thế Gian, Diêm Vương cõi âm ty.

. Lạc Long Quân nói «Ta là nòi rồng đứng đầu thủy tộc».

Lạc Long Quân có một khuôn mặt là Rồng chúa những loài thủy tộc. Rồng là linh vật có cốt rắn nước. Đây là khuôn mặt thần thoại hóa muộn của các nhà nho Việt Nam bị ảnh hưởng văn hóa muộn của Trung Hoa. Nguyên thủy của văn hóa Việt Nam có cốt lõi là chim lửa-rắn nước còn khắc ghi rõ trên trống đồng nòng nọc âm dương của đại tộc đông sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á). Ta phải sửa lại, Lạc Long Quân phải nói là ‘Ta là nòi Rắn Nước…’. mới chính thống.

Ta cũng thường nói Con Rồng Cháu Tiên. Tiên là người ở trên núi có một khuôn mặt là chim ngành lửa (Nhận Diện Danh Tính và Bản Thể Mẹ Tổ Âu Cơ) thường hiểu là Con cháu Rồng Lạc Long Quân và Chim âu cơ. Thật ra phải sửa lại nói cho đúng là Con Rắn-Cháu Chim cho đúng với văn hóa chính thống Việt Nam.

.Lạc Long Quân mạng thủy, nước hôn phối với mẹ tổ Âu Cơ mạng hỏa cũng thấy rõ qua ca dao tục ngữ:

Ông giăng mà lấy bà giời,

Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Câu này ám chỉ bà giời (mặt trời nữ) Mẹ Tổ Âu Cơ lấy ông trăng Lạc Long Quân. Trăng là một thứ mặt trời đêm, một khuôn mặt âm trội của mặt trời hoàng hôn Lạc Long Quân.

Mồng 5 với số 5 là số Li, lửa, đất thế gian ứng với bản thể lửa, núi của Mẹ Tổ Âu Cơ. Mồng 10 với số 10 là số Khảm tầng 2 (10 = 2 + 8) có một nghĩa là nước liên hệ với ông trăng Lạc Long Quân. Hai ngày hỏa thủy này tương ứng với Mẹ Tổ Âu Cơ-Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân Có Cốt Rắn Nước.

Nước thái âm có biểu tượng là con rắn nước. Vì thế từ bản thể nước này Lạc Long Quân có cốt là con rắn nước. Về sau rắn nước thần thoại hóa thành rồng có cốt rắn, thuồng luồng có cốt rắn nước. Đây là rồng rắn không có chân và có lưỡi thè ra khỏi miệng như con rồng rắn nước của người Sasak ở đảo Lombok, Nam Dương (xem Hình Bóng Âu Lạc ở Đảo Hồi Giáo Lombok, Nam Dương).

Rồng Lạc Long Quân có cốt rắn thấy rõ qua từ Lạc trong tên Lạc Long viết với bộ trãi có nghĩa là con sâu không chân, tức là một loài rắn (xem dưới).

Lạc Long Quân còn cai trị các vùng đất âm có nước nên còn có các biểu tương khác cùng loài với rắn tức là loài bò sát có bốn chân sống được trên mặt đất như cá sấu, thằn lằn. Những thú biểu này về sau cũng thần thoại hóa thành một thứ rồng đất có bốn chân. Rống đất cốt cá sấu là rồng sấu dao hay giao long. Rồng có cốt thằn lằn là rồng kỳ đà như Rồng Komodo ở đảo Komodo Nam Dương.

Qua truyền thuyết trên cho biết Lạc Long Quân cháu ngoại Động Đình Quân dòng Long Vương ở Hồ Động Đình và là con gái bà Long Nữ cho thấy rõ Lạc Long Quân có cốt rắn nước.

Lạc Long Quân có cốt rắn nước nên đẻ con ra cũng có dòng máu rắn nước như thấy trong truyện Thần Núi Tản Viên:

Con Lạc Long quân là con rắn nước bị lũ tr đánh chết, được Thần núi Tn Viên Kỳ Mang cứu sống. Kỳ Mang được Lạc Long Quân tặng quyển sách ước”.

Truyền thuyết Mường Lường Vường (Long Vương) Lạc Long Quân chính là Bua Khú rắn nước (xem dưới). Ta cũng thấy theo kh = s, ta có Khú = Sú. Sú là Sấu, con cá sấu cùng họ bò sát nhà rắn, là biểu tượng của nhánh Giao Việt của Lạc Long Quân. Ngưởi Ao Naga tức Âu-Long, Âu Lạc cũng có vật biểu là con thằn lằn (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Cốt lõi văn hóa Việt Nam là lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn. Chim là chim Lửa, Chim Việt, Chim Cắt. Rắn là Rắn Nước, Trăn Nước giống như loài anaconda.

Hình ảnh Chim Lửa-Rắn Nước này còn khắc ghi lại trên trống đồng nòng nọc âm dương của đại tộc Đông Sơn (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á).

Tiên-Rồng là quan niệm muộn về sau, Chim-Rắn đã thần thoại hóa và có thể đã bị ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.

Cần phải phân biệt rồng Lạc Long Quân với rồng long Trung Hoa. Rồng Lạc Long Quân phải là rồng thuồng luồng.

Lạc Long Quân là Mặt Trời Nước

Theo truyền thuyết biến thành cổ sử thì Đế Minh, cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế là Đế Ánh Sáng là lửa vũ trụ, dương (I) thái dương (II) Càn (III), nói theo dòng các Lang Hùng là Chàng Lửa, sinh ra Mặt Trời Lửa thái dương. Kí Dương Vương là lửa thiếu dương đất thế gian Li là Chàng Đất, Mặt Trời Đất thiếu dương. Lạc Long Quân là con Kì Dương Vương. Lạc Long Quân là nước thái âm Chấn là Chàng Nước, Mặt Trời Nước thái âm. Lạc Long Quân đẻ ra Tổ Hùng thế gian là gió thiếu âm. Chàng Gió, Mặt Trời Gió thiếu âm.

Như vậy Lạc Long Quân là Chàng Nước, Mặt Trời Nước thái âm ngành nọc mặt trời thái dương.

Mặt Trời Nước thái âm ứng với mặt trời lặn, mặt trời hoàng hôn (xem dưới).

Lạc Long Quân có mặt ở cả Tam Thế.

.Thượng Thế

Truyền thuyết Lạc Long Quân, Mặt Trời Nước thái âm và Mẹ Tổ Âu Cơ, nử Mặt Trời Lửa thái dương đẻ ra bọc trứng nở ra trăm Lang Hùng sau trở thành các vua Hùng Mặt Trời lịch sử Việt Nam cho thấy Lạc Long Quân có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa ở tiểu vũ trụ, đội lốt Thần Nông ở đại vũ trụ. Ở tiểu vũ trụ, ngành nọc dương, mặt trời thái dương, Lạc Long Quân có những khuôn mặt ứng với mặt trời Nước thái âm mang tính sinh tạo đội lốt Thần Nông-Viêm Đế cõi đại vũ trụ. Khuôn mặt tạo hóa, sinh tạo này thấy rõ qua hình ảnh con Rùa Vàng biểu tượng của Lạc Long Quân  giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Rùa có một khuôn mặt biểu tượng của vũ trụ, tạo hóa, có mai biểu tượng cho vòm vũ trụ, vòm trời, phần bụng vuông biểu tượng cho đất. Rùa có bốn chân sống trên đất biểu tượng cho thế gian. Mầu vàng là mầu âm thái dương ngành nòng thái dương (xem dưới).

.Trung Thế

Truyền thuyết viết: ‘Lạc Long Quân dậy dân việc cầy cấy, nông tang… đôi khi trở về thủy phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự, không biết do đâu được thế. Hễ dân có việc lại lơn tiếng gọi Long quân rằng: Bố ơi ! Sao không lại cứu chúng tôi’ (Lĩnh Nam chích quái).

Ở dương thế đất âm, đất có nước sông, biển, Lạc Long Quân là Vua Nòng Việt chăm sóc Lạc Dân, Lạc Việt và Long nhân, Long Hộ, Giao Việt. Ở ngành nòng âm Lạc Long Quân có những khuôn mặt nước dương, lửa, chuyển động như biển, đất âm, sấm mưa, bão tố, đất âm có nước như ruộng nước, ruộng Lạc, đầm truông…

Người Việt coi Lạc Long Quân là một vị tổ, một Thần Nhân sinh tạo ra Lạc việt.

Hạ Thế

Lạc Long quân là cháu ngoại của Động Đình Quân ở Hồ Động Đình. Động Đình Quân thuộc dòng Long Vương ở hồ Động Đình. Như đã nói ở trên, chúng tôi đã đến thăm Hồ Động Đình, quả thật nơi đây có đền thờ Long Vương cai quản Cõi Nước, Cõi Âm có một khuôn mặt Diêm Vương (xem Hồ Động Đình).

clip_image002

Đền thờ Long Vương ở Động Đình Hồ, Hồ Nam, Trung Quốc.

Như thế Lạc Long Quân quân có một khuôn mặt liên hệ với Nước thế gian, Cõi Âm, Âm phủ. Điểm này được xác thực là Lạc Long Quân có thủy phủ ở Vịnh Hạ Long.

Khi Mẹ Tổ Âu Cơ xuống phương nam thì Lạc Long Quân đang ở dưới thủy phủ…

Lạc Long Quân thường sống dưới thủy phủ cõi nước, cõi âm ty. Đây là khuôn mặt Vua Hạ Thế, Diêm Vương cai trị cõi âm’ cõi chết.

Ta thấy Lạc Long Quân có thể sống lưỡng cư vừa ở trên cạn ở vùng đất thấp có nước ao đầm, hồ, ven sông, biển dậy dân cầy cấy, đây là Lạc dân là ruộng Lạc, ruộng nước… vừa sống ở dưới thủy phủ.

Một truyền thuyết khác cho thấy Lạc Long Quân đích thực có một khuôn mặt vua cõi âm, cõi nước: Ở làng Diềm, xã Hòa Long, huyện Yên Phong có một vị thần làng. Làng Diềm tên chữ Hán là Viêm Xá (biến âm d = v, Diềm = Diêm, que làm ra lửa = Viêm, nóng) liên hệ với thần mặt trời Viêm Đế. Mẹ Tổ Âu Cơ thuộc ngành lửa thái dương Viêm Đế.

Đặng Văn Lung cũng xác nhận “Viêm Ấp… gợi ta nhớ đến Viêm Đế, Viêm Giao và sự liên quan đến tục thờ Mặt trời. Làng có một ngôi nghè (đền) quay mặt ra vực Lở, tên chữ là vực Nhật Tảo — mặt trời buổi sớm — trong vực có hang ổ của loài thủy quái. Đó là nơi thờ vị thành hoàng có tên sau đây: Đương cảnh thành hoàng, quốc vương thiên tử Nhữ Nương Nam Nữ Nam Hải đại vương”. Người ta không biết bà là người ở đâu, chỉ biết buổi thiếu thời bà đến làng này mò cua bắt ốc. Một hôm bà cắt cỏ trên đồi Quả Cảm, ngẫu hứng hát câu:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Muôn vàn cây cỏ lại hàng tay ta.

Lúc đó có thuyền của vua Thủy Tề đi kinh lý trên sông Cầu. Vua nghe câu hát có khẩu khí đế vương, Vua trông lên thấy đám mây vàng rực rỡ che trên đầu bà. Vua biết là người nhà trời bèn xin cưới làm vợ. Bà ưng thuận và đi theo Thủy Tề xuống vực Lở.

Nhân dân thương nhớ bà lập nghè thờ. Hàng năm nhớ ngày mồng bẩy tháng hai, ngày ra đi của bà, tổ chức hát Quan Họ để cầu may, cầu phúc, lúc hạn cầu mưa, đã một lần phù giúp Trương Hống đánh thắng giặc.

Làng Diềm có một bài ca, giải thích rằng nguồn gốc hát Quan Họ là do bà Nhữ Nương sinh ra:

“Quan Họ thủy tổ sang ta

Những lời ca xướng vua Bà sinh ra”.

(sđd, tr.186-187).

Vua Thủy Tề chính là hình bóng Lạc Long Quân.

Lưu Ý

Cõi âm ở đây không hoàn toàn là âm ty, địa ngục. Theo Vũ Trụ giáo đây là Hạ Thế. Mỗi thế trong Tam Thế lại chia ra làm ba tầng, ba tiểu thế.

Tầng giữa ứng với Trung Thế, đây là cõi người ở âm thế. Hồn người vừa mới chết được về ở đây chờ được phán xét. Hình ảnh cõi người âm thế này thấy rõ qua cảnh nhân sinh thấy ở chân đế các trống đồng muộn của đại tộc Đông Sơn như các trống Malakamau, Salaya… ở Nam Dương (Trống Đồng Mang Săc Thái Nam Dương).

Tầng trên của Hạ Thế là cõi tạo hóa âm. Ở đây, sau khi được phán xét, các hồn thiện người chết được cho về Thượng Thế theo trục thế giới để được tái sinh hay đi về miền vĩnh hằng. Tầng trên này nằm ngay dưới vùng nước của Trung Thế dương gian vì thế mà các Thuyền Phán Xét Linh Hồn thường thấy ở vùng này ví dụ như thấy ở vùng nước tang trồng trên trống Ngọc Lũ I và các trống họ hàng (Ý Nghĩa Hình Thuyền, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc Âm Dương Đông Nam Á).

Tầng dưới cùng là âm ty, những hồn ác bị tống xuống vùng này. Lạc Long Quân có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, ở Hạ Thế cõi âm đảm trách định giá hồn người chết và cai quản âm ty. Ở Thượng Thế Lạc Long Quân đội lốt Thần Nông-Viêm Đế có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa trong thuyết vũ trụ tạo sinh, Lạc Long Quân là một thứ sấm tạo hóa, sáng thế, Big Bang là tiếng sấm khai thiêm lập địa. Ở đây Lạc Long Quân cũng lo việc tái sinh, hằng cửu cho người chết sau khi đã được phán xét ở Hạ Thế.

Ở Trung Thế tham dự vào sinh tạo ra bọc trứng thế gian sinh ra loài người trong đó có các vua Hùng thế gian, lịch sử Việt Nam.

Ở cõi âm, Lạc Long Quân có chim biểu là con cú mèo cũng được gọi tên là chim Lạc. Chim cú là biểu tượng cho chim cõi âm liên hệ tới sự chết chóc: “cú kêu ma”, “cú kêu cho ma ăn”, “cú dòm nhà bệnh”… (xem dưới).

Tóm lại, ta thấy Lạc Long Quân sống ở cả Tam Thế. Đặc biệt là Lạc long quân có lối sống lưỡng cư,lưỡng thế vừa sống ở dương gian vừa sống ở cõi âm, vừa là thẩn nhân dương thế vừa là thần linh cõi âm. Lạc Long Quân đi đi về về giữa Trung Thế và Hạ Thế như đi chợ.

Lạc Long Quân có một khuôn mặt thần sấm.

Theo truyền thuyết, Phù Đổng Thiên Vương có một khuôn mặt là thần Sấm Dông, là hậu thân, hóa thân của Lạc Long Quân (Ca Dao Tục Ngũ Tinh Hoa Dân Việt) cho thấy Lạc Long Quân có một khuôn mặt sấm mưa.

Nhưng rõ nhất, như đã biết, Lạc Long Quân có bản thể Chấn và Chấn có một khuôn mặt sấm. Tất cả những trống đồng có tượng cóc ếch và có mặt trời 12 nọc tia sáng (với 12 là số Cấn tầng 2 ứng với thái cực), hầu như đều là trống mưa, sấm mưa, biểu tượng của Lạc Long Quân (Trống Đồng Nhóm Cóc/Ếch). Ta cũng biết Cấn hôn phối với Chấn trong dịch Lạc Việt thế gian (Nhận Diện Danh Tính và Bản Thể Mẹ Tổ Âu Cơ).

Như đã nói Chấn Lạc Long Quân có mặt cả trong Tam Thê. Ở Thượng Thế, Chấn Lạc Long Quân đội lốt Thần Nông-Viêm Đế nên sấm Lạc Long Quân đội lốt sấm big bang tạo hóa khai thiên lập địa. Ở cõi tiểu vũ trụ, đất thế gian Trung Thế, sấm Lạc Long Quân là sấm mưa có nhà ở đầu non Mẹ Tổ Âu Cơ. Ở Hạ Thế, sấm Lạc Long Quân là sấm ‘thiên lôi’ phán xét các hồn người chết.

Lạc Long Quân là một cụ già.

Như đã biết truyền thuyết nói khi Mẹ Tổ Âu Cơ xuống phương nam nàng là một giai nhân trẻ đẹp như Tiên, lúc đó Lạc Long Quân đã là một cụ già đang ở thủy phủ, trở về bèn hóa ra ‘một trang thiếu niên phong tư tú lệ…’ để lấy Âu Cơ.

Lạc Long Quân là một cụ già, âm nam có một khuôn mặt của một Diêm Vương cõi chết. Vì thế mà Lạc Long Quân thường hiện ra là một cụ già tóc bạc phơ, mặc quân áo trắng tinh (mầu trắng có một khuôn mặt là mầu âm thái dương). Hình bóng này của Lạc Long Quân thấy rõ trong Truyện Đổng Thiên Vương ‘Trời mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng lớn, mày râu bạc trắng…, sau mới biết đó là Long Quân’.

Ở đây cho thấy rõ Lạc Long Quân là một cụ già mang âm tính thái âm (đàn ông già thành đàn bà và dàn bà già thành đàn ông ; dương cực đại thành âm, âm cực đại thành dương).

Người già gần kề Tây phương cực lạc, cõi chết nên thích về sống ở thủy phủ cõi âm.

Còn nhiều nữa, tất cả các thủy thần bầy tôi của Lạc Long Quân đều là những cụ già râu tóc bạc phơ như thủy thần sông Tô Lịch, như tích ‘ông lão chơi sông’ ở sông Lạc…

Cụ già cao hơn 9 thước với số 9 là số Chấn tầng 2 (1, 9). Chấn là bản thể của Lạc Long Quân, Chàng I Nước thái âm OO tức là IOO, Chấn.

Người già gần kề miệng lỗ, sắp về cõi âm hiển nhiên về cõi âm nên Lạc Long Quân mang hình bóng người già.

Người già cũng ứng với Mặt Trời Lặn, Mặt Trời Hoàng Hôn, Mặt trời Phương Tây. Theo thứ tự trong Tiên Thiên bát quái, Đế Minh ứng với Càn sinh ra Tổ Hùng Đoài vũ trụ, mặt trời buổi sáng có khuôn mặt là những lang, những chàng tráng niên. Kế tiếp là Kì Dương Vương Li là mặt trời trên đỉnh Núi Thế Gian (núi Kì), mặt trời  thiên đỉnh, chính ngọ, là mặt trời đứng bóng giữa trưa có khuôn mặt là người nam đứng tuổi. Cuối cùng là Lạc Long Quân Chấn là mặt trời chiều, mặt trời lặn, hoàng hôn có một khuôn mặt là người già (xem phần Dịch ở dưới).

Lạc Long Quân Sinh Đẻ Thần Kỳ.

Cùng với Âu Cơ, Lạc Long Quân sinh ra bọc trứng thế gian. Như vừa biết, Lạc Long Quân lúc đó là một cụ già mang tính thái âm đang ở dưới thủy phủ nên sự sinh đẻ này là do ‘giao hòa khí âm dương’ của vũ trụ. Nòng nọc, âm dương giao hòa sinh ra tam thế, vũ trụ, muôn sinh, loài người, trong đó có Bách Việt, các vị tổ Hùng Việt Nam. Bọc trứng là Bọc Trứng Sinh Tạo, Tạo Hóa, Vũ Trụ.

Đây là một cách sinh sản thần kỳ.

Lạc Long Quân cha của trăm Mẹ Nàng, Mị Nương.

Hiện nay chúng ta  thường hay chỉ nói Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra bọc trứng mà bỏ sót phần đóng góp của Cha Tổ Lạc Long Quân.

Theo lối sinh đẻ thần kỳ vừa nói, bọc trứng thế gian đội lốt vũ trụ, bọc trứng tạo hóa của Âu Cơ và Lạc Long Quân phải được nhìn theo diện lưỡng tính nòng nọc, âm dương nghĩa là phải  nhìn cả phía Lạc Long Quân.

Theo duy dương là bọc trứng chim mang tính chủ của nhánh lửa và theo duy âm là bọc trứng rắn mang tính chủ của nhánh nước. Vì vậy khi nói là Mẹ tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng, CHỈ nở ra một trăm Lang, hay khi nói theo truyền thuyết Mường đẻ ra một bọc trăm trứng chim thì đây là nói về phía mẹ tổ Âu Cơ thuộc ngành Lửa, Núi, Chim phía Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương. Nói như vậy là nói theo duy dương, nói về truyền thuyết vua Hùng là mặt trời nên chỉ nói tới phía nhánh mặt trời nọc thái dương phía nam, con trai cùa mẹ tổ Âu Cơ mà không nói tới phía nữ mang dòng máu nước của Lạc Long Quân đóng góp vào.

Lạc Long Quân có mạng thủy nên các di thể nước này có khuôn mặt chủ ứng với phần bọc trứng, ứng với phần tròng trắng của một cái trứng tức ứng với cái nang (bọc, bao, túi) sinh ra các nàng, các nường gọi là Mẹ Nàng, Mị Nương.

Vì thế phải hiểu bọc trứng của Mẹ Tổ Âu Cơ có hai phần nòng nọc, âm dương: phần nhân, tròng đỏ mang dương tính, mặt trời ứng với mẹ tổ Âu Cơ có mạng lửa, mặt trời sinh ra trăm Lang Hùng còn phần bọc trứng, lòng trắng trứng mang âm tính, không gian ứng với cha tổ Lạc Long Quân có mạng thủy, không gian sinh ra trăm Mẹ Nàng.

Bọc trứng thế gian đội lốt bọc trứng tạo hóa là bọc trứng Vũ Trụ có phần Trụ mặt trời ứng với Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra trăm Lang Hùng và phần Vũ (võ, vỏ) không gian ứng vối Lạc Long Quân sinh ra trăm Mẹ Nàng. Bọc trứng là bọc Trụ Vũ mặt trời Không Gian, Chim-Rắn, Tiên Rồng. Khi nói nở ra trăm Lang Hùng là chỉ nói tới khuôn mặt dương, chim mang tính chủ của ngành lửa phía Âu Cơ.

Theo duy âm, bọc trứng còn có một khuôn mặt là bọc trứng rắn. Trứng rắn ‘vất ra ngoài đồng’. Nhìn dưới diện lưỡng tính, bọc trứng nở ra trăm Lang và trăm Mẹ Nàng.

Lưu Ý

Dĩ nhiên các lang và mẹ nàng đều có các di thể của cả cha lẫn mẹ nhưng theo truyền thuyết này con trai có di thể lửa của mẹ mang tính trội và con gái có di thể nước của cha mang tính trội.

.Qua Ngôn Ngữ Học

a. Theo tước vị Quân

Tại sao Lạc Long được gọi là QUÂN chứ không gọi là Vương như Kinh Ddương Vương và Hùng Vương?

Nếu hiểu ‘quân’ theo chữ Hán thì giải tự từ ‘quân’ có chữ ‘doãn’ (cai trị) ở trên vẽ hình tay cầm roi, dưới là chữ ‘khẩu’ (miệng). Vậy quân là một ông vua hung bạo không đủ đức độ nên phải cai trị bằng cái roi và cái miệng (Phạm Khắc Hàm, Triết lý Lý Đông A, tr.345). Cũng vì thế một ông vua hung bạo, tàn ác mới gọi là ‘hôn quân’.

Lạc Long Quân là một ông vua hung bạo? Dĩ nhiên là không. Lạc Long Quân cũng như những tên khác trong cổ sử Việt phần lớn là những từ phiên âm dịch nghĩa từ Việt ngữ ta phải hiểu theo kiểu tiếng Việt. Trước hết quân biến âm với quan. Ta đã biết Nữ Oa khi chết hóa thành chim Tinh Vệ, tức là con vịt Nhật Bản Oan-Ương phiên âm sang Anh ngữ là “Mandarin duck” (‘Vịt quan’): mandarin dịch nghĩa từ quan. Quan chính là Oan. Ta có thể kiểm chứng lại qua qui luật q = 0 (q câm) như queo = ueo = oeo = eo (cong): quan = uan, oan. Oan có gốc Oa có nghĩa con ốc con sống dưới nước, là con ếch, con ách, con nước (oasis là ốc đảo, đảo nước ở sa mạc), oan ương là le le vịt nước…’ Anh ngữ swan (thiên nga) có -wan = uan = oan, cùng dòng chim nước với oan ương. Điều này cũng thấy rõ nơi nguồn gốc của người Sumerian ở Lưỡng Hà. Theo truyền thuyết của người Sumer thì tổ tiên của họ là Người Cá, Nhân ngư Hoannes, Oannes, nửa cá nửa người. Có nhiều khảo cứu cho thấy tiếng Sumer liên hệ với ngôn ngữ Nam Đảo. Từ thập niên ba mươi, James Churchward trong The Lost Continent of Mu dã giải thích Hoannes, Oannes bằng ngôn ngữ mà ông gọi là Maya-Naga (ở Á châu). Theo ông, Oannes hay Hoa-ana có na (water) là nước, ‘a‘ là ‘thy’ (nó, y) và na (house), nhà: Oannes là “he who lives in a boat” (‘người sống trên thuyền’). Ta đã biết Việt ngữ ruột thịt với Maya ngữ (Maya có cùng DNA với cổ Việt ở Đông Nam Á  xem Tương Đồng Giữa Maya và Cổ Việt). Như thế tiếng Sumer cũng liên hệ với ngôn ngữ Việt. Ta có thể dùng Việt ngữ giải thích tên Hoannes, Oannes này. Oannes có O là u (mẹ), Oa là nước, a biến âm với ả, ý, y (nó), –na là nã là nước, là ‘‘ là mường, bản:, Oannes là “Người ở nà”, “Người mường nước”. Ta cũng thấy rõ Oannes có Oan- chính là Oan trong oan ương chính là Oa thuộc dòng “người ở nước”.

Điểm này cho thấy Người Cá, Nhân Ngư Oannes Sumer ruột thịt với Giao Nhân, Long Hộ, ‘Người ở Nước’ của Giao Việt. Ta cũng thấy Hoannes có Hoan. Châu Hoan là châu Nước (Châu Dương là Châu Lửa, Châu Kỳ là Châu Đất, Châu Phong là Châu Gió). Châu Hoan là châu Nước của đại tộc Lạc Việt Lạc Long Quân.

Như thế Quân liên hệ với quan, oan, hàm nghĩa Nước.

Quân là tên gọi vua, tổ, thủ lãnh dòng nước, Mặt Trời Nước. Điều này cũng được xác thực qua bằng chứng là vua của các nước Tây Âu (dòng Nòng, Nước) thường gọi là quân chứ không gọi là vương như “Tây Âu Quân là vua nước Tây Âu” (Bình Nguyên Lộc, Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam tr.234).

Quân tương đương với từ nào của Việt ngữ? Việt ngữ có từ khuấn chỉ ông tổ. Theo q = kh như quấy = khuấy, ta có quân = khuấn. “Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung còn cho biết, ngày trước Sơn Tây, trẻ con chi nhau có câu ‘tiên sư ông Khuấn nhà mày‘. Khuấn coi như ông tổ, người cầm đầu một gia tộc, như ‘khuntz’ của người ‘Mun-da’” (Trần Quốc Vượng, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t III, tr.354). Sơn Tây là đất tổ Lạc Long Quân (xem dưới). Khuấn là thần tổ Lạc Long Quân.

Như đã nói ở trên Lạc Long Quân là cháu ngoại của Động Đình Quân, ở động Đình Hồ, Ngày nay con đền thờ Long Vương thần tổ dòng Nước ở hồ này. Lạc Long Quân mang dòng máu, di thể Quân, Nước, Long Vương này. Ở hồ này cũng có đảo Quân Sơn ở giữa hồ mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian (xem Hồ Đọng Đình).

Như thế từ quân chỉ vị chúa tể, lãnh tụ, vua chúa dòng nước, cõi âm.

Hiểu theo màu sắc.

Ta có màu ‘quân’ trong tên qu hồng quân hay mồng quân (Flacourtia cataphracta, Roxb.). Huỳnh Tịnh Paulus Của, trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị ghi: “mồng quân, thứ cây có nhiều gai, có trái tròn mà nhỏ, người ta hay ăn, trái nó chín đỏ đen như màu huân cho nên cũng kêu là hồng huân…”, ở nơi từ huân ghi:”huyền huân, màu đen tím”, ở đây huân là màu tím và “trái hồng huân, tiếng tục gọi là trái mùng quân”. Ta thấy rất rõ, theo q=h, như quả phụ = hóa phụ, ta có quân = huân, quân biến âm với Hán ngữ huân‘khói lửa bốc lên‘ như thế huân là màu lửa đỏ pha màu khói đen tức mầu đỏ tím đen. Huân ruột thịt với Việt ngữ hun (xông khói, đốt lửa tạo ra khói như hun hang chuột), hùn. Màu hùn hùn là màu thâm thâm (Lê Ngọc Trụ, Giải Nghĩa Một Hai Tiếng Nói Trại, in lại trong Dòng Việt số 3 tr.103). Ta cũng có hun biến âm với hôn, từ hoàng hôn là lúc trời có mầu hoàng (vàng), mầu rơi rớt của chiều vàng và mầu hôn, mầu hun, huân. Mầu vàng là mầu thái dương ngành âm tức âm thái dương trong khi mầu đỏ là mầu dương thái dương. Hoàng hôn là mầu vàng tím, đỏ tím lúc mặt trời lặn.

Lạc Long được gọi là quân vì là vua Mặt Trời màu ‘quân’, màu tím đỏ. Như thế qua ý nghĩa về mầu sắc của từ Quân ta cũng thấy rõ Lạc Long Quân có khuôn mặt của Mặt trời lặn, mặt trời hoàng hôn.

Ta đã biết Lạc Long Quân là một cụ già, đã xế bóng về chiều, ở tuổi hoàng hôn của đời người nên rất đúng với nghĩa này của từ quân.

Ngoài ra ta cũng biết Mẹ Tổ Âu Cơ là mặt trời nhật tảo, mặt trời mới nhô lên ở chân trời buổi sáng tinh mơ nên ngược lại, Lạc Long Quân có một khuôn mặt là mặt trời lặn, mặt trời hoàng hôn. Với Quân có nghĩa gốc liên hệ với nước thái âm (có mầu đen) nên Quân cũng cho biết là mặt trời hoàng hôn, mặt trời đêm là mặt trời dòng Lửa-Nước, Nước thái dương.

b. Theo vương hiệu Lạc Long.

Theo ngôn ngữ Học Từ lạc có rất nhiều nghĩa.

Lạc

Cách thứ nhất hiểu theo cách từ Lạc là biến âm của một từ thuần Việt.

Ta thấy Lạc biến âm với Nác. N là âm cổ của L hay L là âm dương hóa của N (Tiếng Việt Huyền Diệu). Có hiện tượng âm N Việt ngữ khi Hán Việt hóa trở thành âm L ví dụ từ thuần Việt nang là cau, Mã Lai ngữ pinang là cau (đảo Pinang, Pénang là Đảo Cau) chuyển qua Hán Việt là binh lang (Cau). Lang Sinh là cậu học trò tên Cau khi chết hóa thành cây cau nang. Từ cổ Việt Nác là Nước. Ruộng lạc là ruộng nước. Như thế Lạc Long là Rồng Nác, Rồng Nước.

Cách thứ hai là hiểu Lạc theo nghĩa Hán Việt.

Trước hết ta hãy duyệt qua một vài từ Lạc có nghĩa tiêu biểu chính yếu còn các nghĩa khác sẽ nói tới ở phần vật biểu.

-Lạc là đực, nọc, vật nhọn, sừng.

Lạc biến âm với gạc (l=g: bắn lạc = bắn gạc) và có nghĩa là vật nhọn như sừng hươu = gạc hươu hàm nghĩa nọc, đực. Pháp ngữ garçon, con trai có gar- là gạc, vật nhọn. Theo g = c (gài = cài) gạc = cặc. Garçon có gar-, có gạc, có cặc.

-Lạc là đỏ.

Lạc là lửa là đỏ là mặt trời. Đông phương có một thứ “nhựa” cây màu đỏ do một thứ côn trùng tạo ra gọi là gôm ‘lac’ dùng làm dầu sơn (lacquer), sơn mài (lacquer ware, đồ sơn mài).

-Lạc liên hệ với mặt trời lặn

Hán Việt lạc liên hệ với mặt trời lặn: lạc dương là mặt trời lặn, lạc chiếu là ánh mặt trời lặn, lạc huy: bóng mặt trời lặn…

Gộp lại các nghĩa này nọc, đực, dương với dương có một nghĩa là mặt trời, đỏ là mầu dương thái dương, đỏ là tỏ là mặt trời và lạc là mặt trời lặn, ta có Lạc là mặt trời lặn ngành dương thái dương.

…..

Bây giờ ta tìm hiểu từ Lạc trong thư tịch.

Ở đây chỉ xin giới hạn vào từ Lạc viết trong vương hiệu Lạc Long Quân. Xét theo thư tịch, từ Lạc trong vương hiệu Lạc Long Quân viết với bộ ‘trãi’ hay ‘trĩ’. Tại sao Lạc không viết theo bộ thủy, bộ hỏa, bộ chuy, bộ mã, bộ khuyển…? Có người trả lời thắc mắc này như sau: “Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ các cụ đã không chấp nhận chữ ‘lạc’ có bộ ‘mã’ vì cho rằng chữ ấy biểu thị thái độ khinh miệt dân tộc (đến nay ta vẫn còn nói ‘thân trâu ngựa’) và có lẽ các cụ cho rằng chính chữ Lạc có bộ ‘trãi’ mới là chữ chỉ giống người” (Nguyễn Kim Thản, Vương Lộc, Thử Tìm Nguồn Gốc Ngữ Nghĩa của Từ Tố Lạc, Hùng Vương Dựng Nước, NXB KHXH, HN, 1972 t IV, tr.134). Theo chúng tôi không hẳn là vậy. Công bằng mà nói thật ra nhiều lúc chúng ta cũng đổ oan cho các sử gia chân chính người Trung Hoa cổ thời. Các tộc các dòng Man, Kì, Lạc, Hùng Việt Mặt trời thái dương cũng như các tộc khác trên thế giới thời thái cổ tự gọi mình theo các tên loài vật như ngựa, chó, trâu, cú vọ, rắn rết, thằn lằn, cắc ké… với những ý nghĩa cao đẹp trong đạo giáo, trong Vũ trụ giáo, trong Mặt trời giáo… ví dụ họ Việt là họ chim Cắt, họ Bộc là chim Nông… Chúng tôi không tin là các cụ Việt nho không viết từ Lạc với bộ mã vì sợ bị chê là khuyển mã, vì “dân tộc” bị “miệt thị”. Lạc với bộ trãi có ý nghĩa sâu xa của nó. Bộ trãi hay trĩ có nghĩa là ‘con sâu không chân’ và từ Lạc viết với bộ Trãi có nghĩa là “tên một con thú tựa như con ly hoặc một động vật giống con thỏ, còn có nghĩa nữa là một loài sâu” (Hoa Bằng, Về Hùng vương… HVDN, t.II, tr.287).

Lạc viết với bộ trãi (con sâu không chân) với nghĩa con sâu là đúng nhất.

Như trên ta đã thấy rắn cũng gọi là con ‘sâu’ và không có chân. Ta cũng thấy trãi chuyển hóa với dải (dây, rắn nước) theo tr = d như tràn = dàn: trãi = dải. Dải cũng có nghĩa là con rắn Con rắn con dải rông như dây, dải. Trên trống đồng Quảng Xương nhánh nước Rắn Lạc Long Quân được diễn tả bằng những dải dài sau trang phục đầu (Trống Quảng Xương : Một Chương Sử Đồng).

Như thế từ Lạc viết với bộ trãi với hàm ý Lạc Long Quân thuộc dòng “sâu”, rắn. Nước, bản thể của Lạc Long Quân, có biểu tượng là con rắn. Con rắn thần thoại hóa thành con rồng.

Hiển nhiên Lạc bộ trãi chỉ cho biết Lạc Long Quân có cốt là rắn, rồng thuộc đại tộc nước thái âm ngành nọc thái dương.

Nghĩa thứ hai của từ Lạc bộ trãi có nghĩa là con thỏ.

Một khuôn mặt âm hơn nữa của Lạc Long Quân Mặt Trời Lặn là mặt trời đêm tức mặt trăng. Lạc Long Quân có một khuôn mặt là ông Trăng. Trăng có biểu tượng là con thỏ gọi là thỏ ngọc. Điều này giải thích tại sao Lạc bộ trãi có thêm một nghĩa là con thỏ. Nghĩa này theo ý nghĩa biểu tượng không phải là ý nghĩa tầm nguyên ngữ.

Con thỏ có đặc điểm là có hai tai rất dài giống như hai cái sừng đầu tròn tức một thứ sừng mềm mang âm tính. Hai sừng âm là âm thái dương. Con thỏ biểu tượng cho âm thái dương. Đây chỉ mặt trăng sừng, trăng lưỡi liêm có hai sừng nhọn tức trăng thái dương. Vật con thỏ chỉ ông trăng thái dương là biểu tượng của Lạc Long Quân ở nhánh nòng âm thái dương trong khi con trâu là thú biểu của Lạc Long Quân ở ngành nọc dương thái dương.

Nghĩa thứ ba của từ Lạc bộ trãi là “tên một con thú tựa như con ly”.

Từ Lạc viết với bộ trãi trong tên Lạc Long Quân còn đọc theo âm “hạc” chỉ một loài chồn mũi nhọn, lông dầy, da dùng làm áo lông. Mũi nhọn là hình chữ viết nòng nọc vòng tròn que nọc mũi tên mũi mác (>) mang nghĩa nọc, lửa, dương, thái dương… Con chồn này là chốn thái dương. Con chồn không có sừng mà chỉ có mũi nhọn mặc dầu cũng mang tính thái dương nhưng so với sừng thái dương thì mũi thái dương mang âm tính tức phía nòng âm (mũi nhọn coi như tương đương với một chiếc sừng mà thôi. Theo duy dương tức thái dương của âm IIO (Đoài vũ trụ) khí gió, chồn cáo họ nhà chó biểu tượng khí gió thiếu dương. Theo duy âm, con chồn, con cáo là loài thú quỉ quyệt, mang nhiều âm tính nên có từ cáo cầy, chồn cáo và từ hồ ly chỉ một người nữ quỉ quyệt. Chồn sống ở dưới hang, có loài ăn xác chết vì thế chồn có một khuôn mặt liên hệ với cõi âm. Ai Cập cổ có con thú Anubis thuộc loài cầy cáo, chồn là thần tẩm liệm xác chết liên hệ với cõi âm. Anubis Anh ngữ gọi là jackal, Pháp ngữ chacal. Theo j = ch (Java = Chà Và) = l (chia = lìa), Jac- = chac- = lạc.

Vậy chồn ly viết với bộ trãi, theo duy âm là thú biểu ở cõi âm của Lạc Long Quân.

Cũng nên biết là Lạc Long Quân có thú biểu chồn cáo này nên có thể giết được con chồn tinh chín đuôi và Hồ Tây liên hệ với Lạc Long Quân còn có tên là Đầm Xác Cáo.

c. Theo tên mẹ đẻ Sùng Lãm,

Dĩ nhiên cũng như những tên các nhân vật cổ sử khác của chúng ta, Sùng Lãm cũng chỉ là từ phiên âm hay dịch nghĩa của tên cổ Việt, không phả là tên gốc Hán ngữ chính gốc … Ta hãy tìm hiểu nghĩa theo hai cách.

Cách thứ nhất là hiểu Sùng Lãm là tên phiên dịch từ cổ ngữ Việt.

Sùng Lãm phiên âm từ Sừng Lã, Sừng-Nước. Sùng Lãm là con thú có sừng sống được dưới nước tức con trâu nước.

Sừng Lãm cũng có thể biến âm với Sừng Lầm, Sừng Lấm, Sừng Lam. Lầm bùn nước như cát vẩn bụi lầm, lầm than. Lấm là vấy bẩn do bùn đất như lầm bùn. Lam là bẩn thỉu như lam lũ. Sùng Lãm là con thú sừng sống ở vũng lầy, bùn nước bẩn thỉu nghĩa là con trâu nước.

Truyền thuyết Con Trâu Vàng ở huyện Tiên Du, ‘Vũng Trâu Đâm’ Hồ Tây xác thực Lạc Long Quân có biểu tượng thế gian là con trâu nước (xem Vật Biểu ở dưới).

Còn hiểu Sùng là con sâu như khoai sùng là khoai bị sâu, Con sâu không chân bộ trãi trong chữ Lạc của tên Lạc Long Quân, như đã biết liên hệ với loài bò sát, rắn, cá sấu, thằn lằn. Ta cũng thấy con thằn làn gọi là sùng qua tên Thạch Sùng. Theo truyền thuyết Trung Hoa, Thạch Sùng là tên một người giầu có bị mất hết của cải, vì tiếc của khi chết biến thành con thằn lằn ở trên vách đá, vách nhà nên có tên là Thạch Sùng. Thạch Sùng theo ‘nghĩa nngang’ là Thằn Lằn Đá.

Theo nghĩa này Sùng Lãm là con thằn lằn sống ở vũng lầy đầm lầy tức con cá sấu, Vì thế mà Sùng Lãm Lạc Long Quân có thú biểu là con cá sấu, sấu Lạc, con thú chủ của Dao Long.

Cách thứ hai theo Hán Việt: Sùng là gì? Sùng là cao, ví dụ sùng lâu là lầu cao, sùng sơn là núi cao. Lãm là xem. Sùng Lãm là “cao xem”, “xem cao”? Cái gì trông “Đẹp và Cao”? trông rất đẹp và rất cao, rất lịch lãm? Xin thưa Sùng Lãm là núi cao trông đẹp mắt. Sùng Lãm là Non Cao xinh đẹp mắt!

Theo di truyền tính cha Kì Dương Vương Núi Trụ Thế Gian thì con Sùng Lãm có di thể Non Cao. Sùng Lãm có bản thể thái âm nước nên có núi là núi có nước, núi âm núi nòng tức Non. Ta cũng thấy rõ nước đi với non. Nước non. Chúng ta không bao giờ nói ‘nước núi’.

(còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: