NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ MẸ TỔ ÂU CƠ (2).

(*Nếu cần, bấm hai lần vào tựa bài để mở bài).

NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ MẸ TỔ ÂU CƠ.

(phần 2)

Nguyễn Xuân Quang

Ở trên ta đã thấy theo di truyền học, Mẹ Tổ Âu Cơ là cháu Đế Nghi ứng với Đế Minh đội lốt thần mặt trời Viêm Đế có một khuôn mặt là Nàng Thái Dương, Nữ Thần mặt trời, Nàng O Lửa II tức OII, Tốn. Mẹ Tổ Âu Cơ là con Đế Lai ứng với Kì Dương Vương có một khuôn mặt là Nàng O Lửa Đất Thiếu Dương OI tức OOI, Cấn, núi.

Đó là theo dòng nội, nọc, lửa thái dương mặt trời Viêm Đế theo các di thể biểu hiện.

Còn theo dòng ngoại, nòng, nước thái âm không gian Thần Nông, Mẹ Tổ Âu Cơ có các di thể âm mang tính ẩn. Là cháu của Vụ Tiên, Khôn thái âm nước bầu trời đội lốt Thần Nông ở cõi tạo hóa có một khuôn mặt là chim nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ nên Mẹ Tổ Âu Cơ mới đẻ ra Trứng Thế Gian.

Mẹ Tổ Âu Cơ cũng mang dòng máu mẹ Long Nữ Khảm OIO, khí gió âm cõi trời, nước thiếu âm thế gian. Vì thế mà Mẹ Tổ Âu Cơ mới có khuôn mặt Tốn hiểu theo nghĩa thiếu âm gió âm ở cõi trời (xem dưới).

Các Loại Dịch theo Khuôn Mặt Tốn

Mẹ Tổ Âu Cơ hôn phối và tương giao với các khuôn mặt dương khác tạo ra các loại Dịch khác nhau.

.Dựa theo thứ tự “hoàng phả” của các tổ phụ Chàng và tổ mẫu Nàng ta viết ra được một bát quái đồ sau đây:

clip_image002

Đây là một thứ Dịch thuộc loại Tiên Thiên bát quái được cho là của Phục Hy trong  đó Tốn hôn phối với Chấn

clip_image004

Tiên Thiên bát quái  Phục Hy viết theo thứ tự Tạo Hóa Thế Gian Càn (hôn phối với Khôn) sinh ra Trời Đoài vũ trụ (hôn phối với Cấn), Đất Li (hôn phối với Khảm, Nước ), Chấn (hôn phối với Tốn).

Tiên Thiên bát quái Phục Hy viết theo thứ tự Tạo Hóa Thế Gian Càn (hôn phối với Khôn), Trời Đoài vũ trụ (hôn phối với Cấn), Đất Li (hôn phối với Khảm), Nước  Chấn (hôn phối với Tốn).

Lưu Ý

Ở Việt Dịch sinh tạo theo các vị tổ của chúng ta tức Tiên Thiên bát quái theo truyền thuyết Việt và ở Tiên Thiên bát quái  Phục Hy ở hình trên, sự hôn phối nòng nọc, âm dương từng cặp giống nhau nhưng thứ tự các cặp khác nhau. Ở Việt Dịch Tiên Thiên bát quái thứ tự các quẻ dương đọc theo chiều dương ngược chiều kim đồng hồ là Càn Đế Minh, Li Kì Dương Vương, Chấn Lạc Long Quân và Đoài vũ trụ Tổ Hùng thế gian (truyền thuyết, tức bọc trứng). Trong khi ở Tiên Thiên bát quái Phục Hy,  đọc theo chiều dương là Càn (lửa vũ trụ) ứng với Đế Minh sinh ra Đoài vũ trụ (không gian dương, khí gió) ở cõi trên ứng với Tổ Hùng. Đoài vũ trụ sinh ra Li, lửa đất ứng Kì Dương Vương cõi giữa. Li sinh ra Chấn, nước dương cõi dưới ứng với Lạc Long Quân.

Trong Dịch Cửu Thần của Ai Cập cổ thứ tự cũng khác nhau viết theo thứ tự chín vị thần (Sự Tương Đồng Giữa Cổ Sử Ai Cập và Cổ Việt).

Sự thay đổi vị trí các quẻ làm tính nòng nọc, âm dương cũng thay đổi theo vì ở các tầng sinh tạo khác nhau trong Vũ Trụ Tạo Sinh. Ví dụ ở Tiên Thiên bát quái  Phục Hy, Đế Minh Càn sinh ra Tổ Hùng Đoài vũ trụ thì Tổ Hùng có một khuôn mặt thái dương đội lốt Đế Minh.

Theo Việt Dịch Tiên Thiên thì Cha Tổ Lạc Long Quân và Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra Tổ Hùng (chứ không phải Hùng Vương) có khuôn mặt truyền thuyết bọc trứng thế gian. Tổ Hùng ở Việt Dịch là con của Lạc Long Quân-Âu Cơ. Sau đó Tổ Hùng mới sinh ra Hùng Vương lịch sử.

Theo Tiên Thiên bát quái  Phục Hy, Đế Minh Càn sinh ra Tổ Hùng Đoài vũ trụ. Tổ Hùng này sinh ra Kì Dương Vương, rồi Kì Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân. Tổ Hùng ở đây là ông của Lạc Long Quân. Sau đó Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ trực tiếp ra các Hùng Vương lịch sử.

Vì thế mà trong ca dao tục ngữ mới có câu

Sinh con rồi mới sinh cha,

Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.

Ta thấy

.Khuôn mặt chính của Mẹ Tổ Âu Cơ ở Việt DịchTiên Thiên sinh ra tổ Hùng bọc trứng thế gian là Tốn.

Khuôn mặt chính của Mẹ Tổ Âu Cơ ở Tiên Thiên bát quái  viết theo thứ tự  Tạo Hóa  Thế Gian (Càn Khôn) Trời, Đất, Nước sinh trực tiếp ra Hùng Vương lịch sử là Cấn, Núi, đất thế gian.

Cần phải phân biệt Tổ Hùng với Hùng Vương lịch sử.

Theo duy dương ngành lửa Nàng Lửa Âu Cơ hôn phối với Chàng Nước Lạc Long Quân hay Mặt Trời Nữ lấy Không Gian nam ở cõi đại vũ trụ, tạo hóa (vì thế mới gọi là Tiên Thiên). Nhưng ở đây mặt trời là một khuôn mặt nữ nên phải nhớ nhìn theo diện dương nữ.

.Trong một loại Dịch thấy ở lá bùa trừ tà của dân gian Việt Nam tôi gọi là Dịch Lạc Việt hay Âu Cơ-Lạc Long Quân thế gian.

clip_image006

Dịch Lạc Việt hay Âu Cơ–Lạc Long Quân thế gian, ở đây trên lá bùa, Lạc Long Quân có khuôn mặt sấm mưa (vì phải có khuôn mặt thiên lôi bùa mới có hiệu lực trừ tà).

Gọi Dịch này là Dịch Lạc Việt hay Âu Cơ-Lạc Long Quân thế gian vì có khuôn mặt Cấn Núi của Âu Cơ  hôn phối với Chấn Lạc Long Quân (trong khi ở Tiên Thiên bát quái, khuôn mặt Tốn sinh tạo cõi trời của Âu Cơ hôn phối với Chấn). Còn lại trong Dịch này, khuôn mặt Tốn OII của Âu Cơ hôn phối với Đoài IIO vũ trụ. Đây là một thứ Hậu Thiên Bát Quái  Lạc Việt.

Trước hết nói về Tốn hôn phối với Đoài vũ trụ qua sự hôn phối giữa Phục Hy và Nữ Oa.

Nữ Oa và Phục Hy đều thuộc dòng nòng âm vì cả hai đều có đuôi rắn.

clip_image008

Nữ Oa có một khuôn mặt thái dương thấy qua biểu tượng con ốc có hai cái ngà của Nữ Oa (Kim Định, Việt Lý Tố Nguyên). Hai cái ngà là hai nọc nhọn, hai dương, thái dương.

Theo duy dương, Nữ Oa Tốn OII là Nàng sò ốc O có hai ngà thái dương II, là Nàng O Thái Dương II, Mặt Trời Nữ Thái Dương. Kiểm chứng lại với chữ nòng nọc vòng tròn-que ta cũng thấy rõ như ban ngày OA có O là Nòng, Nàng và A là chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghĩa là thái  dương. OA là Nàng Thái Dương.

Phục Hy có Phục là Phúc, bụng, bọng, bao, bọc O và Hy biến âm với hí, tiếng rít của hơi, khí, gió (thiếu âm IO) thoát qua một lỗ, một ống nhỏ, qua khe nhỏ. Bào Hy là chiếc Bao Hơi Hí tức Bầu Khí, không khí gió chuyển động mang dương tính. Vì thế mà Phục Hy còn có hiệu là Bào Hy (Bao Hí). Phục Hy là Chàng I Khí Gió IO tức IIO, Đoài vũ trụ khí gió (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Nữ Oa là Nàng Lửa thái dương. Phục Hy là Chàng thiếu âm Khí Gió.

Ta có Nữ Oa mặt trời nữ thái dương Tốn hôn phối với Phục Hy Đoài bầu trời không gian khí gió.

Theo duy âm, Nữ Oa Tốn OII là không gian O thái dương, Lửa II tức Khôn dương khí gió âm hôn phối với Phục Hy Đoài vũ trụ khi gió IIO (theo diện đồng bản thể) hay với Phục Hy Đoài vũ trụ IIO có một khuôn mặt ngành nọc dương là Mặt Trời I thiếu âm IO.

Bây giờ nói về sự hôn phối giữa khuôn mặt Cấn Núi thế gian của Mẹ Tổ Âu Cơ  với Chấn.

Cấn hôn phối với Chấn là khuôn mặt Mẹ Tổ Âu Cơ Nàng O thiếu dương OI tức OOI Cấn, núi (lửa thế gian âm) lấy Lạc Long Quân Chàng I Nước OO tức Chấn IOO. Ở cõi trời thế gian là tia chớp lửa-nước mưa là sấm mưa. Truyền thuyết diễn giải là ông thần sấm có nhà ở đầu non. Sấm mưa Lạc Long Quân Chấn có nhà (có một nghĩa là vợ) ở đầu non Âu Cơ. Sấm ở đầu non là sấm thế gian trong khi sấm big bang là sấm tạo hóa. Khuôn mặt sấm này của Chấn Lạc Long Quân thấy trên lá bùa trừ tà ở trên.

Mặt khác, nếu hiểu Chấn IOO là nọc I nước OO tức nước dương, nước chuyển động là biển, sông thì Cấn núi non hôn phối với nước sông biển Chấn. Mẹ Tổ Âu Cơ non lấy Lạc Long Quân nước sông biển. Sự hôn phối này đã được Tản Đà diễn tả Non Non, Nước Nước rất tuyệt vời trong bài thơ Tình Non Nước.

Tiện đây cũng xin nói tới một điều mà nhiều nhà làm văn hóa Việt Nam ‘bi quan’ hay thích tán gẫu cho là vì Lạc Long Quân và Âu ly thân nhau nên dân Việt chia rẽ, ly tán, không đoàn kết. Ở truyền thuyết trên viết Lạc Long Quân nói “Ta là nòi rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia ly…”.

Thật ra sự chia ly giữa Mẹ Tổ Âu Cơ và Lạc Long Quân không phải là ly thân, ly dị mà chỉ tạm chia tay lúc ban ngày để hai người đi cai trị ở hai vùng núi, biển khác nhau:

Ta đem năm mươi con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị…’ .

Lạc Long Quân xuống biển, ban ngày nắng. nước biển bốc hơi lên trời gặp lạnh tụ thành mây. Chiều tối mây Lạc Long Quân bay về nhà ở đầu non Âu Cơ. Ban đêm hai người “mây mưa’. Sáng hôm sau Nước Lạc Long Quân theo suối sông ra biển trở lại. “Nước đi ra biển lại bay về nguồn’.

Lưu Ý

Ta thấy sấm đầu non của Chấn Lạc Long Quân có khuôn mặt thế gian, nước biển Chấn cũng có khuôn mặt thế gian và Cấn Núi Âu Cơ dĩ  nhiên là thế gian, tất cả là thế gian vì thế mới gọi là Dịch Âu Cơ–Lạc Long Quân thế gian hay Dịch Lạc Việt.

.Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương

HTBQ

Trong Hậu Thiên bát quái của Văn Vương, Tốn OII tương giao với Càn. Đây là dạng Tốn không gian O thái dương II tức khí gió hôn phối với Càn mặt trời I thái dương II. Đây là khuôn mặt Nàng không gian thái dương khí gió Tốn Âu Cơ tương giao với Chàng mặt trời thái dương Đế Minh (ông của Mẹ Tổ Âu Cơ). Đây là dạng tương giao đồng bản thể thái dương. Còn Cấn của Âu Cơ hôn phối với Khôn tức theo diện tương giao đồng bản thể âm của Âu Cơ Cấn với bà Vụ Tiên Khôn (Cấn và Khôn đều là hai quẻ âm). Ta thấy Âu Cơ qua hai khuôn mặt Tốn Cấn  giao phối với Càn Khôn như thế Âu Cơ mang tính Càn Khôn là Mẹ Thế Gian tiểu vũ trụ đội lốt Mẹ Tạo Hóa ở đại vũ trụ. Âu Cơ đội lốt Nữ Oa.

Âu có  U là dạng thái dương của O nên Âu = Ao như thấy qua liên hiệp Ao-Naga (Âu-Long) ở Assam. Rõ ràng Ao (Âu) và Oa (Nữ) là hình bóng của nhau qua một tấm gương.

Trong truyền thuyết, sự tương giao hôn phối đồng bản thể này thường diễn dịch là ruột thịt lấy nhau. Ở đây Mẹ Tổ Âu Cơ lấy ông Đế Minh. Ở chỗ khác thường thì anh chị em lấy nhau. Ví dụ như như đã nói ở trên Phục Hy và Nữ Oa cùng có đuôi rắn thuộc ngành nòng âm là hai anh chị em ruột lấy nhau có một sự hôn phối theo tương giao đồng bản thể khí gió là Nữ Oa không gian thái dương khí gió ngành âm hôn phối với Phục Hy có một khuôn mặt khí gió ngành dương.

Trong truyền thuyết Ai Cập cổ, sự hôn phối đồng bản thể này thấy rõ qua hai khuôn mặt thần Shu và nữ thần Tefnut. Thần Shu khí gió dương ứng với Đoài vũ trụ. Tefnut có một khuôn mặt bầu trời -nut, khí gió âm ứng với Tốn. Shu và Tefnut là anh chị em ruột đồng bản thể lấy nhau.

Sự hôn phối đồng bản thể có hai khuôn mặt nòng nọc, âm dương ngược nhau. Ví dụ như chị hay em (O), lửa (II) tức Tốn OII lấy anh hay em (I) thiếu âm gió IO, tức Đoài IIO vũ trụ.

Ta thấy rõ Tốn OII là khuôn mặt đọc ngược lại của Đoài IIO.

. Qua Hình Bóng Nữ Oa

Qua Dịch học và di truyền học ta đã biếu Mẹ Tổ Âu Cơ đội lốt Nữ Oa ở cõi tạo hóa. Như thế ta có thể kiểm chứng danh tính và bản thể Mẹ Tổ Âu Cơ qua Nữ Oa.

.Thần thoại Việt Nam có truyện Thần Nam, Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa.

Theo truyện này thì ông Tứ Tượng ngỏ ý muốn lấy Nữ Oa. Bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao do bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núi Nam Giới ở Hà Tĩnh ngày nay (các nhà nho gọi là núi Nam Giới thật ra núi hình dương vật. Đây chính là núi Dương Vật trụ chống trời. Núi Nam Giới là hình ảnh dương vật của thần Đất Keb Ai Cập cổ cố vươn cao lên tận vòm trời để tới được bộ phận sinh dục nữ của thần nữ bầu trời Nut và cũng là hình ảnh linga trụ thế gian của thần Shiva của Ấn giáo.

Ông Tứ Tượng đắp núi thua nhưng kiên gan trì chí đeo đuổi mãi, cuối cùng bà Nữ Oa cũng xiêu lòng lấy ông làm chồng. Trong dân gian ngày nay còn có câu ví:

… bà Nữ Oa bằng ba mẫu ruộng,

… ông Tứ Tượng mười bốn con sào.

Qua tài đắp núi này cho thấy Nữ Oa có một khuôn mặt Đất, Đá, Núi. Ta thấy rất đúng là Mẹ Tổ Âu Cơ có bản thể Núi Cấn giống như Nữ Oa.

.Qua Ngôn Ngữ Học, Nữ Oa nghĩa là gì?

Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh Oa là nước chẩy cuộn, con ốc, con ếch, con nhái, cái hang, cái lỗ, con gái đẹp…

Trước hết Oa là nước chẩy cuộn, Âu Cơ có một khuôn mặt núi, nên có khuôn mặt nước chuyển động từ núi chẩy ra, tức là nước suối nguồn đầu núi. Âu Cơ là mẹ, là nước nguồn vì thế mới có câu “Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chẩy ra”, “nguồn sữa mẹ’…

Như đã biết thiếu dương là nguyên thể của núi non. Nước nguồn là nước O thiếu âm IO tức quẻ OIO, Khảm ở đầu non thiếu dương. Như đã biết, về phía ngoại Âu Cơ có hai di thể ẩn là Khảm và Khôn. Hai di thể này thấy rõ qua khuôn mặt của Nữ Thần Ai Cập cổ Nepthys là em sinh đôi với thần nữ Isis, một hình bóng của Âu Cơ (xem dưới).

Nữ Oa là cái hang, cái lỗ. Hang, lỗ là bộ phận sinh dục nữ. Nữ Oa biểu tượng cho phái nữ. Âu Cơ có Âu là U. U là chỗ phồng lên (swelling) có nghĩa là vú (Anh ngữ breast có nghĩa là swelling). Vú biểu tượng cho phái nữ. Vú là Mẹ (Trung Nam gọi mẹ là Vú). Âu là U là Vú, là Mẹ.

Nữ Oa là con ếch, con nhái. Ếch nhái biểu tượng cho nước, mưa liên hệ với nước nguồn đầu non, tương đồng bản thể với nước động Chấn.  Cóc ếch liên hệ với sấm mưa Chấn. Âu Cơ  hôn phối với Lạc Long Quân Chấn biển (nước động), sấm mưa. Trong Vũ Trụ giáo, ếch biểu tượng cho Mẹ, Thần Nữ, mắn sinh, tái sinh… (Con Cóc Là Cậu Ông Trời). Đây cũng là những khuôn mặt của Âu Cơ.

Nữ Oa là con ốc.

Như trên đã biết con ốc có vỏ cứng như đá. Như vậy Nữ Oa có một khuôn mặt đất đá. Chính khuôn mặt đất đá này mà bà đắp được núi Nam Giới cao tới nóc trời. Cũng chính khuôn mặt này mà Nữ Oa mới «đội đá vá trời được», «Tha đá lấp biển Đông».

Mẹ Tổ Âu Cơ có khuôn mặt Cấn Núi giống như Nữ Oa có khuôn mặt đá, núi này.

Ngoài ra như đã biết con ốc Nữ Oa có hai cái ngà. Nữ Oa con ốc, cái hang, cái lổ, con gái đẹp là Nàng, Nường, O. Hai cái ngà là hai nọc nhọn, hai dương, thái dương. Như thế Nữ Oa có một khuôn mặt là O Thái Dương II tức OII, Tốn. Theo duy dương Tốn OII là Nàng O, Lửa II, O thái dương II, mặt trời nữ O thái dương II. Theo duy âm Tốn OII là không gian, thái dương tức Khôn thái dương khí gió. Như đã nói ở trên Mẹ Tổ Âu Cơ cũng có khuôn mặt Tốn này.

.Truyền thuyềt cho biềt Nữ Oa khi chết biến thành Chim Tinh Vệ và cũng nói chim Tinh Vệ là con gái Viêm Đế tức con của Viêm Đế Thần Nòng. Như thế Nữ Oa là con gái của Viêm Đế-Thần Nông. Ta đã biết Nữ Thần Nông có chim biểu là con nông và Viêm Đế có chim nọc mỏ cắt. Chim Tinh Vệ một loài chim nước sống ở bờ biển (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển). Nhưng thật sự chim Tinh Vệ là loài vịt Nhật Bản oan ương, uyên ương (mandarin duck) cũng là loài chim nước. Chim Tinh Vệ vịt uyên ương cùng loài chim nước với chim nông.

Tác giả Kim Định giải nghĩa Tinh Vệ có Vệ là bảo vệ và Tinh là Thanh Tinh (Rồng xanh), biệt hiệu của Phục Hy. Tinh Vệ nghĩa là bảo vệ Phục Hy. Theo tác giả Kim Định “Khi chết bà hóa ra chim Tinh Vệ tha đá lấp bể đông không phải vì tức giận bị chết đuối mà vì tình yêu thương Phục Hy” (Kim Định, Hùng Sử Việt tr.95).

Tình yêu của Tinh Vệ Nữ Oa được Nguyễn Du nói tới trong Kiều:

Ngọn triều non bạc trùng trùng,

Vời trông còn tưởng bóng hồng lúc gieo,

Tình thương bể thắm lạ điều,

Mà hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào.

Như đã biết Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là chim. Dĩ nhiên phải là một loài chim nước cùng loài chim nông, chim biểu của Thần Nông; cùng loài vịt uyên ương, chim biểu của Nữ Oa (xem dưới).

.-Nữ Oa là người con gái đẹp.

Mẹ Tổ Âu Cơ là Nàng Tiên.

-Nữ Oa là thần sinh đẻ ra con người, thần mắn đẻ.

Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra Tổ Hùng và sinh ra một lúc 100 con.

……

Âu Cơ và Nữ Oa là hình bóng của nhau.

.Qua Khào Cổ Học

Hình bóng Mẹ Tổ Âu Cơ thấy khắc ghi lại trên các mảnh đất nung hay “Gạch trang trí người theo phong cách dân gian” hiện đang trưng bầy tại Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội.

clip_image009

“Gạch trang trí người theo phong cách dân gian”

(triều Lê Trung Hưng thế kỷ 15-17?,Viện Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội) (ảnh của tác giả).

Khối đất nung để đứng cho thấy hình một người ngồi ở tư thế sinh con.

Khối đất nung để nằm cho thấy một người nữ ở tư thế sinh con đang đẻ ra một cái bọc tròn. Nhìn tổng thể bọc tròn biểu tượng cho Bầu Hư Không, Bầu Vũ Trụ, Trứng Vũ Trụ, Bầu Trời Thế Gian, Trứng Thế Gian, Bầu Sinh Tạo, Bầu Tạo Hóa (bầu có một nghĩa là mang thai). Nhìn dưới diện Tổ Hùng thế gian, đây chính là hình ảnh Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc trứng.

Xin lưu tâm một điểm rất quan trọng là trong tất cả các hình Mẹ Đời ngồi ở vị thế sinh con ở khắp các nơi trên thế giới chỉ có hình ở Việt Nam này là có hình đĩa thái cực hay Trứng Vũ Trụ ở hai bên. Điều này trước hết khẳng định là cái bọc được sinh ra mang tính nòng nọc, âm dương, hình ảnh của Trứng Vũ Trụ, đĩa thái cực tức biểu tượng cho sinh tạo, tạo hóa.

.Trống đồng nòng nọc, âm dương Đào Xá

clip_image010

               Trống Đào Xá có mặt trời 6 nòng vòng ánh sáng (nguồn: Phạm Huy Thông và các cộng tác viên).

Trống có mặt trời là một u đĩa tròn nổi mang âm tính ngành Nòng (vì đây trên mặt trống nên đây là mặt trời chứ không thể coi là mặt trăng được). Mặt trời có quầng sáng 6 nòng vòng ánh sáng âm Tốn tầng 1 vũ trụ. Số 6 là số lão âm, âm thái dương. Trống này có mặt trời ánh sáng âm nòng vòng tròn thái dương.

Với số 6 nòng ánh sáng Tốn là mặt trời nòng thái dương.

Ta đã biết Tốn OII có một khuôn mặt là Nàng Lửa, Nàng mặt trời thái dương tức một khuôn mặt của Mẹ Tổ Âu Cơ. Như thế trống này liên hệ ruột thịt với Mẹ Tổ Âu Cơ, là trống biểu của phía thái dương thần nữ Âu Cơ dưới khuôn mặt Tốn vũ trụ.

Vì ở trên trống, theo duy dương, nòng thái dương phải được đại diện bởi một khuôn mặt nam nghĩa là ở cõi vũ trụ truyền thuyết thì khuôn mặt chồng Chấn Lạc Long Quân đại diện còn ở cõi thế gian, lịch sử thì trống là trống biểu của một khuôn mặt nam, lang trong 50 lang Hùng theo mẹ lên núi. Ở đây ta thấy trống là trống biểu của nhánh lửa 50 lang Hùng theo mẹ lên núi (xem thêm Nhóm Trống Mặt Trời Có Ánh Sáng Âm Nòng Vòng Ánh Sáng).

Dù gì thì trống Đào Xá có hình mặt trời nòng âm đĩa tròn thái dương với 6 ánh sáng âm nòng vòng tròn thái dương cũng ruột thịt với Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ.

.Trống Đồng Nhánh Lửa, Núi.

Trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn là trống nòng nọc, âm dương của Bách Việt có cốt lõi văn hóa là lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng nên cũng chia ra làm hai nhánh Lửa Núi thuộc nhánh chim phía Mẹ Tổ Âu Cơ và nhánh Nước, Biển thuộc nhánh Cha Tổ Lạc Long Quân (Lạc Việt).

Như đã biết nhóm trống và đồ đồng Điền mang tính lửa, núi. Trống thường được chồng lên nhau thành trục diễn tả Trụ Chống Trời, Núi Trụ Thế Gian, Trục Thế Giới có một khuôn mặt biểu tượng cho núi, đất dương, cõi giữa thế gian. Ở các trống và đồ đồng thuộc nhóm này thường, thú biểu thường thấy nhất là bò u, là loài thú bốn chân có hai sừng sống trên cạn biểu tượng lửa thái dương, mặt trời thái dương của đất dương của nhánh lửa, núi (bò biểu tượng cho mặt trời thấy rõ trong Ai Cập cổ và thấy qua hình ngữ chữ A hình đầu bò Phoenician ở trên). Bò là thú biểu của nhánh dương lửa, đất dương, lửa phía Mẹ Tổ Âu Cơ đối nghịch với trâu nước là thú biểu của nhánh nước, đất âm phía Lạc Long Quân (Lạc Long Quân có thú biểu Kim Ngưu, Trâu Vàng). Trống cũng có hình chim cắt hồng hoàng, chim biểu của ngành nọc lửa Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương. Ngoài ra còn có các cảnh săn bắn liên hệ với đời sống núi rừng…

Trống đồng Điền biểu tượng của các tộc Âu Tầy Thái thuộc nhánh Hùng Vương lửa, núi theo Mẹ Tổ Âu Cơ lên núi.

Trống đồng Điền mang sắc thái nhánh lửa, núi khác với nhánh trống ở vùng thấp thuộc nhánh nước, đất âm của Lạc Việt có nhiều biểu tượng mang âm tính như chim nông nước, cá sấu, thuyền… (xem thêm Trống Đồng: Đồ Đồng Điền và Trống Đông Sơn).

…..

.Dân Tộc Học

.Phụ nữ Việt Nam và Ao-Naga (Âu-Long, Âu Lạc) có chiếc nón thúng quai thao là nón mặt trời đĩa tròn biểu tượng của thái dương thần nữ Âu Cơ.

clip_image012

Nón mặt trời cổ truyền của phụ nữ Việt Nam (tranh dân gian).

Jean Cuisinier trong Les Mường gọi chiếc nón này là ‘le chapeau de soleil’ (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

Chiếc nón mặt trời này là vật biểu của Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ.

.Trang phục của các vị nữ vương, nữ tướng Việt Nam thường có hình mặt trời âm, nữ của dòng thái dương Thần Nữ Âu Cơ. Các hình mặt trời nữ thái dương này thường có nọc tia sáng để diễn tả tính thái dương nhưng vì có âm tính của phái nữ nên các nọc tia sáng thái dương này có đầu và cạnh có nét âm cong, trở thành cánh hoa (hoa thị,  hoa cúc…). Ngoài ra hoa cũng là biểu tượng cho phái nữ nên mặt trời thái dương nữ được biểu tượng bằng một loài hoa.

Ví dụ như hoa mặt trời nữ thấy trên xiêm y của Bà Triệu.

clip_image013

clip_image014

Hình mặt trời nữ viết theo chữ nòng nọc vòng tròn-que là hình  vòng tròn chấm có tia sáng nọc âm thái dương hình cánh hoa ở mũ, ngực bà Triệu Ẩu và ở giải dây chân sau voi (tranh dân gian).

Hình hoa mặt trời nữ ở chân sau voi có 14 tia sáng âm cánh hoa. Số 14 là số Tốn tầng 2 (14 = 6 + 8). Tốn OII là Nàng Thái Dương. Hoa mặt trời nữ này là mặt trời nữ thái dương thế gian, một hình bóng của Thái Dương Thần Nữ Âu Cơ.

Tuy nhiên, hoa mặt trời ở ngực bà Triệu có số tia sáng âm cánh hoa sai đối với dòng nữ Việt. Ở đây hoa mặt trời có 9 tia sáng âm cánh hoa. Số 9 là số lẻ, số dương. Hoa mặt trời nữ phải có số tia sáng âm cánh hoa là số chẵn, số âm. Đúng ra phải là 8 cánh hoa thôi. Số 8 là số Khôn tầng 2 (0,8). Hoa mặt trời nữ 8 tia sáng âm cánh hoa là mặt trời nữ càn khôn sinh tạo tầng 2 thế gian. Sinh tạo là khuôn mặt của Mẹ Tổ Âu Cơ.

Hình hoa cúc 16 cánh là biểu tượng mặt trời sinh tạo càn khôn thế gian của thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật Bản.

clip_image016 clip_image018

Mặt trời thái dương nữ hình hoa cúc 16 cánh tia sáng âm là biểu tượng mặt trời sinh tạo càn khôn thế gian của thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật Bản.

Số 16 là số Khôn tầng 3 (0, 8, 16) ứng với khuôn mặt nữ. Mặt trời hoa cúc có 16 tia sáng âm cánh hoa Khôn là mặt trời Càn-Khôn sinh tạo âm nữ.

Các thần tổ nữ thuộc dòng mặt trời của Ai Cập cổ và Cận Đông cũng có hình mặt trời hoa cúc này (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

clip_image020

clip_image022

Mặt trời nữ hoa cúc trên nhũ hoa của hoàng hậu Ramesses II Meryetanun, Thebes, Triều Đại 20 dòng mặt trời nữ thái dương.

Mặt trời hoa cúc trên nhũ hoa này cũng có 16 tia sáng cánh hoa giống như biểu tượng mặt trời hoa cúc 16 cánh của thái dương thần nữ Amaterasu Nhật Bản.

Đức Mẹ của Thiên Chúa giáo cũng có một khuôn mặt là mặt trời nữ thấy qua nhiều ảnh tượng bà có hào quang hình mặt trời tỏa rạng. Hình hoa hồng (rosette) thường là biểu tượng cho hoa mặt trời của Đức Mẹ (Dan Brown, The Da Vinci Code). Trong các nhà thờ Đức Bà thường có các biểu tượng hình hoa hồng, hoa thị, hoa cúc này.

clip_image023

Hình hoa cúc kép ở nhà thờ Notre Dame de Paris (nguồn commons.wikimedia.org).

Hình hoa cúc mặt trời nữ thái dương ở đây vành trong có 16 cánh như hoa cúc của thái dương thần nữ Nhật Bản. Vành ngoài có 32 cánh. Số Khôn 32 = số Khôn 0 thấy rõ qua 32 độ F = 0 độ C. Hoa ở đây cũng mang tính sinh tạo ngành nữ.

Chứng tích mặt trời thái dương thần nữ của Mẹ Tổ Âu Cơ còn thấy qua trang phục của các vị anh thư Việt Nam, con cháu của Âu Cơ.

.Bánh chưng

Bánh chứng là bánh biểu của Đất Mẹ Tổ Âu Cơ. Bánh chưng có nhiều hình dạng. Bánh chưng vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho đất thái dương đồng ruộng (đồng có một nghĩa là mẹ) của Mẹ Tổ Âu Cơ. Bánh ú một dạng của bánh chưng có hình ụ, hình vú. Hình ụ có một khuôn mặt là núi tháp biểu tượng cho đất núi của Mẹ Tổ Âu Cơ. Hình vú có một khuôn mặt biểu tượng cho U, Mẹ, Vú Âu Cơ (Trung Nam gọi mẹ là Vú). Bánh chưng hình trụ tròn gọi là bánh tét, theo duy âm, hình trụ tròn biểu tượng cho núi âm, non mang hònh ảnh trục thế giới ngành âm của Mẹ Tổ Âu Cơ (theo duy dương có thể là khuôn mặt núi âm Cao Đẹp Sùng Lãm của Lạc Long Quân).

…..

Bản Thể và Biểu Tượng Của Âu Cơ

-Mẹ Sinh Tạo Thế Gian đội lốt Mẹ Tạo Hóa.

Âu Cơ có Âu có một nghĩa là U, Mẹ, Vú mang hình bóng Mẹ Tổ của Việt Nam nói riêng và của loài người nó chung. Như đã biết, Âu Cơ qua hai khuôn mặt Tốn Cấn  giao phối với Càn Khôn như thế Âu Cơ mang tính Càn Khôn là Mẹ Thế Gian tiểu vũ trụ đội lốt Mẹ Tạo Hóa ở đại vũ trụ.  Mẹ Tổ Âu Cơ đội lốt Nữ Oa ở cõi tạo hóa mà Nữ Oa và Phục Hy được coi như là hai vị tổ của loài người.

Mẹ Tổ Âu Cơ có tất cả các tính chất và chức vụ [như mắn sinh (đẻ một lúc trăm con), đầy Tình Yêu, nuôi con, chăm lo cho chồng (Lạc Long Quân thường vắng nhà)…] của các thần tổ nữ, mẹ tổ, nữ vương… của tất cả các nền văn hóa của loài người, Bằng chứng là Mẹ Tổ Âu Cơ có hình hoa mặt trời thái dương (hoa thị, hoa cúc) cùng chung với tất cả các thần tổ nữ khác cũng có cùng loại hoa biểu tượng này).

Hình ảnh người mẹ tuyệt vời, cao đẹp này của Mẹ Tổ Âu Cơ thấy rõ qua khuôn mặt thần nữ Isis của Ai Cập cổ. Isis là bóng hình của Mẹ Tổ Âu Cơ (xem dưới) .

-Phái nữ

Như đã biết Âu Cơ có Âu là U. U là chỗ phồng lên (swelling) có nghĩa là vú (Anh ngữ breast có nghĩa là swelling). Vú biểu tượng cho phái nữ.

Isis của Ai Cập cổ là hình bóng của Âu Cơ nên Isis có một khuôn mặt biểu tượng cho phụ nữ nói chung (xem dưới).

-Nàng Tiên

Mẹ Tổ Âu Cơ là Nàng Tiên, người đẹp như tiên, là giai nhân tuyệt sắc, ở cõi trời. Mẹ Tổ Âu Cơ biểu tượng cho phái đẹp của Việt Nam nói riêng và của loài người nói chung. Phụ nữ Việt Nam là ‘cháu Tiên’ nên mang di thể (gene) Tiên, giai nhân này. Ta cũng đã biết Nữ Oa có một khuôn mặt là người đẹp. Âu Cơ đội lốt Nữ Oa nên cũng có một khuôn mặt giai nhân.

-Nước nguồn, nước đầu non, nước núi.

Như đã biết Âu Cơ  là suối nguồn, là nước trong nguồn chẩy ra, là nguồn sữa… Nước nguồn đầu non thiếu dương là nuớc thiếu âm Khảm. Di thể Khảm này do mẹ Khảm Long Nữ truyền xuống.

-Ngỗng hồng

Biểu tượng động vật ở cõi trời là một loài chim.

Như đã biết Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là chim lửa, thái dương đẻ ra bọc trứng chim. Mẹ Tổ Âu Cơ là phái nữ, nòng, nước nên theo ngành nòng, chim biểu phải là một loài chim nước CHÂN CÓ MÀNG giống như các khôn mặt thần tổ nữ khác. Ở cõi sinh tạo vũ trụ, Thần Nông có chim biểu là chim nông đẻ ra trứng vũ trụ. Ở tầng sinh tạo lưỡng nghi, Nữ Oa có chim biểu là chim tinh vệ, một loài vịt nước uyên ương. Ở cõi sinh tạo thế gian, Vụ Tiên là con vịt trời Le Le. Ở cõi trời thế gian Mẹ Tổ Âu Cơ có mạng lửa, thái dương nên chim biểu tượng phải là con chim nước mang dương tính lửa, mặt trời. Như đã biết, Mẹ Tổ Âu Cơ đội lốt Nữ Oa như thế chim biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ ngành nước phải cùng loài chim nước với chim Tinh Vệ Uyên Ương.

Con ngỗng là loài chim nước chân có màng có cổ dài mang dương tính. Ngỗng biến âm với ngổng (chỉ bộ phận sinh dục nam lúc cương cứng: cu ngổng; con công mang dương tính có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời cũng có tính ‘công ngủ’ này). Ngỗng mang dương tính lửa thấy rõ qua một khuôn mặt lửa, mặt trời của vị thần Đất Keb tức Lửa đất Li. Trên một trang phục đầu của Keb có hình con ngỗng.

clip_image024

Thần Đất Keb với khuôn mặt lửa thế gian qua hình con ngỗng trên trang phục đầu.

Như đã biết thần đất Keb có một khuôn mặt tương đương với vua đất thế gian Kì Dương Vương và Đế Lai cha của Mẹ Tổ Âu Cơ. Như thế Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt ngỗng này giống như Kì Dương Vương có thú biểu hươu sừng Lộc Tục thì Âu Cơ cũng có thú biểu là con nai sao (xem dưới).

Ngỗng thiên nga thời cổ cũng đã từng là biểu tượng cho mặt trời. Chứng tích còn thấy là các tộc Bắc Âu cổ thời cho chim thiên nga là mặt trời.

Thần Vệ nữ Venus có chim biểu là thiên nga thuộc họ nhà ngỗng. Ngôi sao Vệ Nữ Venus là ngôi sao sáng nhất ban đêm coi như là một thứ «mặt trời nữ» về đêm.

Ngoài ra ngỗng cũng là biểu tượng cho mẹ như thấy qua hình ảnh mother-goose của Tây Phương.

Con ngỗng cũng đẻ ra bọc Trứng Thế Gian giống Mẹ Tổ Âu Cơ như thấy qua con ngỗng Great Cackle của Ai Cập cổ.

Ta cũng thấy Âu biến âm với Oa, với Pháp ngữ Oie là con ngỗng.

Như vậy theo duy âm biểu tượng cõi trời của Mẹ Tổ Âu Cơ là con ngỗng mang tính thái dương, lửa. Đây là con ngỗng hồng cái. Hồng là mầu đỏ âm thái dương vì thế mầu hồng là mầu biểu của các anh thư như thấy qua từ quần hồng.

Theo di truyền tính ta thấy rõ con Nông là chim biểu của Thần Nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ giáo. Chim nông Hán Việt gọi là đường nga. Nga có một nghĩa là ngỗng, ngan.

Di thể ‘nga’ của chim nông đường nga, chim biểu của Thần Nông đẻ ra Trứng Vũ Trụ truyền xuống thế gian là con ngỗng hồng, chim biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra Trứng Thế Gian nở ra trăm Lang Hùng.

Như thế ngỗng hồng cái là chim biểu của Thái dương thần nữ Âu-cơ.

Chúng ta thường nghe nói tới con Hồng cháu Lạc, Lạc Hồng, Hồng Lạc. Nếu chỉ nhìn Hồng Lạc (duy âm), Lạc Hồng (duy dương) dưới diện của Âu-Lạc thì có thể là con Ngỗng Hồng cái chim biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ và chim Lạc, một loài chim nước, chim biểu của Lạc Long Quân. Nếu nhìn dưới diện rộng hơn trong họ Hồng Bàng gồm hai ngành nọc lửa Kì Dương Vương và nọc nước Lạc Long Quân thì Hồng là chim cắt Hồng Hoàng và Lạc là chim nước thuộc họ nhà Ngỗng.

Người Việt miền bắc nuôi ngỗng rất nhiều ăn trứng lấy lông nhồi mền gối nhưng lại kiêng ăn thịt ngan ngỗng. Đây chính là taboo kiêng ăn thịt vật tổ có từ ngàn xưa còn lưu sót lại vì ngan ngỗng là chim biểu của Thái dương thần nữ Âu Cơ.

Áo lông ngỗng của Mỵ Châu có thể là một vật thờ chim tổ của dòng nòng Âu Cơ có một khuôn mặt ngỗng hồng. Áo lông ngỗng cũng là một phong tục đặc biết thấy ở các tộc Tày, Nùng, Choang: “Chiếc áo lông ngỗng của người Tày xuất hiện ở Hà Nội và rải ra suốt vùng đồng bằng, ven biển Bắc Bộ và bắc Trung Bộ, theo truyền thuyết.” (Lê Văn Lan và Văn Trọng, Đời sống vật chất và tinh thần thời Hùng Vương, HVDN, NXB KHXH, HN, 1972 t. IV, tr.302).

Về địa danh thì có địa danh nổi tiếng là Nga Sơn.

Núi Ngỗng thuộc huyện Nga sơn tỉnh Thanh Hóa nổi tiếng về truyền thuyết An Tiêm và quả dưa đỏ.

Theo Lĩnh Nam chích quái “Về đời Hùng vương có viên quan tên là Mai Tiêm vốn người ngoại quốc, khi lên 7,8 tuổi vua mua từ thương thuyền về làm nô bộc. Khi lớn lên diện mạo đoan chính, nhớ thuộc sự vật, vua ban tên cho là Mai Yển hiệu An Tiêm lại ban cho một người thiếp…” Sau vì kiêu ngạo nên bị “đầy ra ngoài cửa bể huyện Nga sơn”. Một hôm ”bỗng thấy một con bạch trĩ (có bản chép là một con chim trắng) từ phương Tây bay lại đậu ở đầu núi kêu lên 3,4 tiếng, 6,7 hạt dưa theo tiếng kêu mà rơi xuống cát, mọc lên xanh rì rồi kết thành quả”. Bổ ra ăn thấy ngon, ‘Tiêm không biết gọi là quả gì, nhân vì chim trĩ (bạch) ngậm hạt từ phương Tây bay tới nên gọi là quả Tây qua’ .

An Tiêm là người ngoại quốc không thuộc dòng Hùng Vương đang cai trị, có vợ Việt tên là Việt Nga, Ngỗng Việt thuộc dòng nòng âm nữ Âu Cơ. Được chim trĩ trắng cứu sống đem hạt dưa đỏ tới cho. Chim trĩ trắng có một khuôn mặt là chim lửa âm thuộc dòng nòng nữ biểu tượng cho mặt trời nữ dòng Âu Cơ (xem dưới).

Người Tày Thái cũng có truyền thuyết về dưa hấu như chúng ta. An Tiêm có thể là người Tày Thái. An Tiêm-Việt Nga là một thứ Âu-Tầy.

Dưa đỏ tên Hán Việt là Tây qua, thứ quả ở phía Tây giống như Tây ngưu, tê giác. Người Hán ám chĩ những thứ này thuộc  vùng phía Tây từ Bách Việt. Tương tự họ gọi bí ngô là nam qua đến từ phương nam.

Ta thấy rõ Nàng Ngỗng Việt Nga dòng Mẹ Tổ Âu Cơ lấy dân Tầy Thái An Tiêm được chim trĩ trắng có một khuôn mặt chim biểu của Âu Cơ giúp trồng, Dưa đỏ có hình bọc, hình trứng đỏ lòng là một thứ thực vật biểu của Âu Cơ. Di thể (gene) quả trứng đỏ này của Mẹ Tổ Âu Cơ sinh ra quả trứng cau nang, biểu tượng cho Tổ Hùng (Truyện Trầu Cau).

Ngoài ra cũng đào tìm thấy những tượng vịt, ngỗng…

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn bên cạnh hình cò bay có vài trống có hình như loài ngỗng.

Đặc biệt rõ nhất là trên các trống Shan của tộc người nói tiếng Tầy Thái có nhiều hình chim nước thuộc loài vịt ngỗng (xem Trống Đồng Shan).

.Các loài chim lửa khác

Theo duy dương ngành nọc lửa thì chim biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ có thể là những loài chim lửa như chim cắt mài, chim trĩ mái, gà mái có các chi tiết mang âm tính như mầu hồng, mầu trắng, mầu vàng…

-Chim trĩ trắng

Âu với nghĩa là đỏ, lửa nên Mẹ Tổ Âu Cơ có chim biểu là con chim lửa mái. Chim trĩ thuộc họ nhà gà. Chim trĩ mái thần thoại hóa thành con chim hoàng (chim đực là phượng).

Điều này thấy qua sự kiện là đôi lúc chim phượng cái cũng được coi là biểu tượng cho phái đẹp. Hoàng là con phượng mái dùng làm biểu tượng cho Hoàng hậu, mũ áo Vua trang trí hình rồng, mũ áo Hoàng hậu hình chim (phượng) hoàng. Rõ nhất là trong các nhà hàng ăn Tầu, trong căn phòng tiệc cưới thường trang trí bằng hình rồng phượng. Theo Lạc Việt, Rồng được coi là biểu tượng cho nam phái (chú rể), còn phượng là biểu tượng cho nữ phái (cô dâu). Rồng Lạc Long hôn phối với chim Hoàng Âu cơ.

Như đã biết ở trên chim trỉ trắng đã đem hột dưa hấu giúp An Tiêm-Việt Nga, một thứ Âu-Tầy, Âu-Thái.

Xa hơn nữa, Việt-Thường đem trĩ trắng cống Chu Thành Vương. Nếu hiểu Việt Thường theo cốt lõi nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng thì Việt là Rìu dương ngành nọc, Chim Viêm Đế. Ở cõi trời thế gian có chim biểu là chim trĩ lửa, trĩ Việt. Còn Thường thuộc ngành nòng âm. Thường biến âm với thuồng (thuồng luồng), thằn (thằn lằn), lằn, lăn, trăn (rắn). Thường thuộc ngành nòng Rắn Thần Nông, theo duy dương ở cõi trời thế gian có con chim trĩ lửa mang âm tính là con trĩ trắng. Mẹ Tổ Âu Cơ là thái dương thần nữ về phía nội, lửa, núi có có dòng máu chim trĩ trắng.

-Gà Mái Trắng

Gà là chim biểu mặt trời. Nước Pháp có nghĩa gốc là Nước Mặt Trời. La France có Fra- ruột thịt với Phạn ngữ Brah-, sáng, làm sáng liên hệ với mặt trời, ruột thịt với Việt ngữ Bật (bật sáng, bật lửa, bật đèn). Thần Brahma của Ấn giáo có một khuôn mặt là thần Mặt Trời.

Pháp có Pha- ruột thịt với phare (đèn pha, đèn chiếu sáng), với Pharaoh, Vua Mặt Trời. Nước Pháp Mặt Trời có biểu tượng là con gà trống. Gà là loài chim nhưng sống nhiều trên mặt đất nên là biểu tượng cho mặt trời đất thế gian. Hình ảnh gà là chim biểu cho mặt trời đất thế gian thấy rõ qua trò chơi Bầu Cua Cá Cọc. Trên bàn Bầu Cua có con gà biểu tượng cho Lửa, Mặt Trời cõi đất thế gian đội lốt chim cắt hồng hoàng, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế ở cõi tạo hóa. Tương tự con tôm đối ngược với gà là biểu tượng của Nước thế gian đội lốt rắn nước, biểu tượng cho Thần Nông (Bầu Cua Cá Cọc).

Vì Mẹ Tổ Âu Cơ là phái nữ nên biểu tượng gà phải là gà mái, có thể là gà mái trắng. Vì thế mà nhiều làng xã ở vùng đất tổ cũ vẫn còn tục thờ gà mái trắng gắn liền với sự thờ phượng Âu Cơ.

.Cõi đất thế gian

-Nàng Đẹp trên Núi.

Từ Tiên cũng chỉ người ở trên núi. Mẹ Tổ Âu Cơ cũng có một khuôn mặt là Người Đẹp ở trên núi. Đây chính là khuôn mặt Núi của Mẹ Tổ Âu Cơ.

Như thế qua từ Tiên, Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt cõi trời, vũ trụ, không gian có một khuôn mặt ứng với Gió âm Tốn và một khuôn mặt ở núi ứng với khuôn mặt Cấn, Núi.

Ngoài ta Tiên còn có nghĩa ruột thịt với chim như đã nói ở trên và Tiên là người đẹp.

-Nai sao

Biểu tượng của Mẹ Tổ Âu Cơ ở cõi đất thế gian là loài thú bốn chân sống trên mặt đất mang tính lửa, thái dương âm.

Như đã biết hươu cọc, hươu sừng biểu tượng cho đất dương gian. Kì Dương Vương vua tổ thế gian, vua nước Xích Quỉ có nhũ danh là Lộc Tục (Hươu Đục, Hươu Đọc, Hươu Nọc). Mẹ Tổ Âu Cơ có mạng lửa, núi cũng có thú biểu là loài hươu. Như đã nói ở trên, Mẹ Tổ Âu Cơ có thể coi là con của Kì Dương Vương ứng với Đế Lai. Như thế thú biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ cũng là một loài hươu cái tức con nai cái không có sừng (nai cái không có sừng ngoại trừ loài hươu chà tuần lộc reindeer con cái có sừng). Nai cùng vần với nái, ná, nạ là mẹ.

Thay cho cặp sừng mang dương tính, lửa, thái dương, mặt trời, trên người con nai cái này có những đốm sao. Sao là vật sáng về đêm mang dương tính của phía nòng, âm nữ tương đương với mặt trời mang dương tính của phía nọc, nam. Dân gian Việt Nam gọi sao là Nàng Sáng, một thứ mặt trời đêm của phái nữ tộc lửa.

Nai sao là nai thái dương thú biểu của Mẹ Tổ Âu Cơ. Nai sao là Mẹ thái dương.

Điểm này thấy rõ là nai sao là thú biểu của bà Ngu Cơ của người Mường (và con cá chép là cá biểu của Lạc Long Quân). Người Mường khi làm lễ cúng tổ thường có hai lá cờ nai sao và cá chép cắm hai bên bàn thờ.

clip_image026 clip_image027

Cờ nai sao và cá chép của người Mường (J. Cusinier, Les Mường).

Trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I hai hàng hươu cũng có những con cái tức nai. Nhưng ở trên trống cũng như ở trên lá cờ của người Mường hươu cái, nai sao đều có sừng. Phải hiểu hai chiếc sừng ở các con nai cái này chỉ mang một ý nghĩa biểu tượng, chỉ cố ý dùng để diễn đạt tính, lửa, thái dương, mặt trời của chúng.

.Bò

Như đã nói ở trên bò là thú biểu của nhánh lửa, núi Mẹ Tổ Âu Cơ thấy nhiều trên trống và đồ đồng Điền.

Âu Cơ là thái dương thần nữ nên thú biểu là con Bò Vàng. Vùng đất tổ có nơi còn thờ Âu Cơ Lạc Long Quân có con sông tên là sông Bò Vàng: “từ sông Đuống ra tới vùng sông Ngụ (còn gọi là sông Bái Giang hay sông Bò Vàng) ta còn thấy một loạt địa điểm thờ Lạc Long Quân…” (Đặng văn Lung sđd, tr.150). Ở Sơn Tây có núi U Bò, ở đó có Giếng Mũi Gươm. Theo Trần Gia Linh “mũi gươm thần” tương đương với sừng tê giác: “Trong một số dị bản sừng tê được thay bằng mũi gươm thần” (sđd tr.328).

Ai Cập cổ có nữ thần Mut, Mẹ tổ loài người và nữ thần Hathor có vật tổ là con bò cái. Nữ thần Isis, một hình bóng của Mẹ Tổ Âu Cơ dòng dõi Hathor, Mut cũng có biểu tượng bò cái thấy qua trang phục đầu có cặp sừng bò (xem dưới).

. Tê giác

Tê giác có sừng được coi như một loài họ hàng với bò (trâu) sống ở vùng núi rừng, chỉ sống ở vùng thuộc địa bàn  phía Tây  nên người Trung Hoa gọi là Tây Ngưu. Vì thế tê giác có thể là thú biểu của những tộc Âu Việt. Tê giàc có thể là thú chủ (host) của linh thú Lân trong cặp kì lân.

.Linh Thú Lân

Việt Nam và một số tộc thuộc Bách Việt có tục múa Lân.

Lân là linh thú Cái trong cặp kì lân. Như thế Lân là linh thú của ngành nòng nữ. Lân là thú bốn chân sống trên măt đất, Âu Cơ  cò khuôn mặt đất núi vậy Lân là linh thú của Mẹ Tổ Âu Cơ.

Ta đã biết con Kì là con thú đực trong cặp Kì Lân có cốt là con kì, con kè, con Cọc, con hươu sừng (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc), linh thú của Kì Dương Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Lân là con thú Cái. Lân biến âm với Nân, Nầng, Nàng. Kì Nọc đi với Lân Nòng. Kì Lân là Cọc Nang, Nọc Nòng. Như thế con Lân, con thú Cái, có thể là linh thú của Nàng Nai Sao Âu Cơ, con của linh thú Kì Kì Dương Vương.

Tôi thấy qua hình ảnh ở miền Bắc Việt có múa một loài «lân» có hai sừng có mấu nhọn. Đây có thể là múa Kì. Trong khi Trung Nam múa Lân đầu có hai hoặc một sừng không có nhánh nhọn hay không có sừng.

Theo duy âm, tê giác hai sừng sống trên vùng đất khô núi rừng tương đương với bò. Ở trên ta đã thấy bò liên hệ với tê giác ‘Ở Sơn Tây có núi U Bò, ở đó có Giếng Mũi Gươm. Theo Trần Gia Linh “mũi gươm thần” tương đương với sừng tê giác: “Trong một số dị bản sừng tê được thay bằng mũi gươm thần”. Như thế các tộc nhánh Mẹ Tổ Âu Cơ cũng có thể dùng tê giác làm vật tổ thay cho bò. Tê giác hai sừng có thể là con thú chủ của linh thú Lân (con cái) thái dương hai sừng của Nàng Mặt Trời Thái Dương Âu Cơ. Trong truyền thuyết về Âu Lạc thường nói tới biểu tượng sừng tê giác như An Dương Vương cầm sừng tê giác rẽ nước đi xuống biển về với Lạc Long Quân sau khi giết con gái Mỵ Châu.

Tê giác còn có một loài chỉ có một sừng. Giống này có mặt tại Việt Nam (gần đây, những máy quay phim cho thấy còn sót lại vài con). Tê giác một sừng là thú chủ của linh thú Lân một sừng. Lân là Nòng (O) một sừng là một Nọc (I). Lân một sừng là OI, thiếu dương, nguyên thể của đất dương ứng với khuôn mặt núi Cấn cũa Mẹ Tổ Âu Cơ.

Như thế theo duy âm, Lân hai sừng là linh thú biểu tượng cho khuôn mặt thái dương, mặt trời ứng với Tốn và lân một sừng là linh thú biểu tượng cho khuôn mặt thiếu dương, núi ứng với Cấn của Mẹ Tổ Âu Cơ.

Lân không sừng có thể chỉ dùng để diễn tả con cái trong trường hợp theo duy dương lân có sừng được coi là biểu tượng cho Lạc Long Quân. Điều này là nghịch lý vì theo chính thống Lân phải là con Cái không thể là biểu tượng của Lạc Long Quân được.

Kiểm chứng với nữ thần Isis của Ai Cập cổ, một hình bóng của Mẹ Tổ Âu Cơ, ta thấy Isis có thú biểu là linh thú Unicon một sừng (xem dưới).

.Các thú biểu khác

Theo duy âm các thú biểu khác có thể là mèo, cọp, báo, chồn…

Trên trống đồng, đồ đồng Điền thuộc nhánh trống mang tính lửa, núi  dòng Âu Cơ có nhiều chim cắt, hình bò, cảnh săn bắn cũng có nhiều hình cọp và trên một trống đồng Lào, một chi Tầy Thái, có khắc hình chồn.

……

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: