CHỮ NONG NỌC VÒNG TRÒN-QUE (kỳ 7): Dấu Nọc Chữ V, Ba Nọc Que.

(* nếu cần bấm hai lần double click vào tựa bài để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC Vòng Tròn Que (kỳ 7)

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-Que

Dấu Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-Que  (tiếp theo).

Dấu Nọc Chữ V, Ba Nọc Que.

Nguyễn Xuân Quang

 

2. Dấu Nọc Chữ V.

Tổng quát, hình nọc mũi nhọn chữ V là hình ngược với hình nọc mũi mác thẳng đứng nên có nghĩa ngược lại với nọc mũi mác răng sói /\. Nếu chỉ nhìn dưới diện âm dương bao quát và theo thuần âm nữ mà thôi thì nọc chữ V mà Dan Brown gọi là chalice chỉ biểu tượng cho nòng, âm, nữ, dạ con… Nhìn dưới diện mật mã, ta thấy mật mã chalice hình chữ V trên bức tranh The Last Supper của Leonard da Vinci có gốc từ chữ Nòng O. Chữ này có nghĩa ngược với chữ Nọc mũi mác blade do hai nọc (II) ghép lại. Nọc mũi nhọn /\ cũng có gốc từ chữ Nọc que I sinh ra (một nọc I tách ra thành hai nọc, hai nọc ghép lại thành nọc mũi mác, nọc mũi nhọn). Nọc mũi nhọn /\ là dạng sinh động của nọc hình que I. Rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” là hình biểu tượng cho dương, đàn ông, dương vật là blade /\ và biểu tượng cho âm, phái nữ, âm hộ là chalice \/ của Da Vinci Code có nguồn gốc từ chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que. Đây là hai chữ Nòng Nọc Vòng Tròn Que thấy trên trống đồng âm dương. Mã số Da Vinci có nguồn gốc từ chữ Nòng Nọc, một thứ chữ tối cổ của loài người còn ghi khắc lại trên trống đồng Đông Sơn.

Về phương diện mật mã, Da Vinci Code đã củng cố sự khám phá của tôi về Chữ Nòng Nọc và kiểm chứng lại cách giải đọc của tôi về Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn Que trên trống đồng âm dương Đông Nam Á và ngược lại chữ nòng nọc vòng quetrên trống đồng âm dương đã kiểm chứng và xác quyết lại ý nghĩa của Da Vinci Code.

Ở những trống đồng muộn, nhất là những trống đồng âm dương của dòng Mặt Trời Nước dòng nòng âm như các trống ở Nam Trung Hoa, trên chân trống (vùng biểu tượng Cõi Dưới, Cõi Nước, Cõi Âm) thường thấy những hình nọc chữ V biểu tượng cho âm, Cõi Âm. Nhiều khi những hình này kết nối lại thành vành “hoa văn” hình sóng chữ V.

clip_image002

Hình sóng nước chữ V ở chân một trống Nam Trung Hoa.

Lưu Ý

 

Nếu nhìn toàn diện trọn vẹn dưới lăng kính của Vũ Trụ giáo và Dịch lý thì nọc chữ V này mang trọn vẹn ý nghĩa âm dương của Dịch của nhánh âm nòng, Khôn. Theo duy âm (thái âm) thì V có nghĩa là Khôn âm thái dương tức nước thái dương Chấn. Theo duy dương (thiếu âm) th ì V có nghĩa là Khôn dương thái dương tức kh í gió thái dương Đoài vũ trụ (xem dấu tam giác ở dưới).

3. Dấu Ba Nọc Que

Tổng quát cũng như các dấu ba nọc que III thường nhỏ hơn chữ ba nọc que. Tuy nhiên cũng như trong trường hợp các dấu khác nhiều khi dấu và chữ ba nọc que cũng dùng lẫn lộn (nghĩa là chữ dùng như một dấu).

Ba nọc que là ba nọc dương III tức nọc (I) thái dương (II), lửa (II) dương (I), tức ba hào dương III tức quẻ Càn, lửa vũ trụ, mặt trời thái dương…

Nhìn chung dấu và chữ ba nọc que cũng có tất cả ý nghĩa của chấm nọc, nọc que, hai nọc que nhưng có tính nòng nọc, âm dương và tính sinh tạo khác nhau. Ba nọc que mang tính sinh tạo ở tầng thứ tư ở tầng sinh tạo tứ tượng. Hãy lấy một ví dụ để làm sáng tỏ. Đế Minh là lửa vũ trụ Càn III ở cõi trời thế gian (sinh ra Kì Dương Vương Lửa Đất thế gian Li, vua tổ thế gian). Ta thấy rõ theo truyền thuyết Việt Nam, Đế Minh là cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế, tức cháu bốn đời của thần Thần Nông-Viêm Đế nhất thể ổ tầng thái cực. Thần Nông-Viêm Đế nhất thể tương đương với thần mặt trời Ra (Re) của Ai Cập cổ diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là vòng tròn-chấm (linh tự Ra). Lúc này Viêm Đế còn ở dạng nguyên tạo diễn tả bằng hình chấm nọc (.) trong chữ vòng tròn-chấm. Ở cõi tạo hóa thần mặt trời Viêm Đế (-Thần Nông) diển tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là một chấm nọc nguyên tạo.

Thần Nông Viêm Đế nhất thể phân cực ra thành hai cực Viêm Đế và Thần Nông ở tầng lưỡng nghi. Viêm Đế lúc này là mặt trời nọc dương diễn tả bằng chữ nọc que (I).

Một nọc que tách ra thành hai nọc que ở tầng sinh tạo thứ ba và rồi thành 3 nọc que ở tầng sinh tạo thế gian thứ tư tức tầng tứ tượng (vì thế có truyền thuyết nói Đế Minh là cháu bốn đời của thần mặt trời Viêm Đế).

Đế Minh là Đế ánh sáng, là lửa vũ trụ, không gian, mặt trời thái dương Càn diễn tả bằng ba nọc que III sinh ra các vị vua thế gian là Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương.

Sau đây là một vài dấu (và có thể là chữ) ba nọc que.

.Linh tự ánh sáng Ai Cập cổ mặt trời có ba tia nọc ánh sáng

clip_image004

-Chim sấm sét hay lôi điểu (thunderbird) của Thổ dân Mỹ châu.

Ở hai cánh chim có ba chiếc lông diễn tả bằng ba nọc thẳng đứng là Càn, lửa vũ trụ. Sau cổ có hình dấu móc ở phía tay trái và hình xoắn ở thân người biểu tượng nước sinh động. Lửa-nước, chớp mưa cõi trời tạo ra sấm.

clip_image005

Lôi điểu của Thổ dân Mỹ châu.

Chú ý dấu móc ở cổ ở bên trái mang âm tính và cả hai dấu móc ở cổ và thân đều quay về bên trái mang tính âm, cho biết đây là sấm mưa.

Chim biểu tượng cho mặt trời của Tây Tạng

clip_image007

The sun and the moon (Robert Beer, plate 65).

 

Mặt trăng và mặt trời trong các biểu tượng của Tây Tạng.

 

Hình bên phải là mặt trời, trong có hình chim mang dương tính quay về phía tay phải, dương. Cánh có hình ba nọc que của quẻ Càn có một nghĩa là là mặt trời thái dương.

Thần Seth Ai Cập cổ

Thần Seth trong truyền thuyết Ai Cập cổ là Thần Nọc Lửa. Seth biến âm với Việt ngữ Sẹt, phát ra lửa như sẹt lửa.

Lửa thái dương là lửa vũ trụ Càn. Seth cùng âm với Sét là sấm sét, liên hệ với với lửa chớp, lửa trời.  Lửa sấm chớp ở cỏi vũ trụ, cõi trời là lửa trời Càn. Khuôn mặt lửa Càn này thấy rõ qua cái đuôi đinh ba Càn tức ba nọc dương, ba hào dương của con thú biểu cầy lửa Setekh.

clip_image008

Cầy Lửa Setekh, thú biểu của Seth.

Nhưng vì Seth có khuôn mặt tà ác nên là lửa âm, lửa quỉ vì thế có một khuôn mặt ác quỉ của quỉ sứ Satan nên Càn đinh ba ở phía đuôi âm.

Lửa thiếu dương là lửa đất thế gian là Li vì thế Seth có biểu tượng là con cầy lửa là thú bốn chân sống trên đất lửa sa mạc. Khuôn mặt lửa thế gian Li ứng được diễn tả bằng cặp sừng hai nọc que. Vì Seth có khuôn mặt tà ác nên lửa mang tính âm, quỉ vì vậy mà sừng diễn tả bằng hình chữ V là thái dương âm (lửa âm, quỉ).

Như thế Seth có khuôn mặt lửa thế gian Li và Lửa trời Càn mang âm tính (lửa quỉ) (xem Tương Đồng giữa Truyền Thuyết Ai Cập cổ và Cổ Việt 7).

Con dê

Trở lại bức hình những người đầu nhọn hình mũi mác trong tác phẩm L’art des Steppes của Kart Jettmar.

clip_image010

 

Hình người nhọn đầu trong trong tác phẩm L’art des Steppes của Kart Jettmar.

Bây giờ chú ý tới con dê là chủ thể của hình.

Giống như hươu, dê là thú bốn chân sống trên mặt đất biểu tượng cho cỏi đất, trung thế. Dê có hai sừng là hai nọc nhọn biểu tượng cho nọc dương, lửa, mặt trời thế gian.

Trên người có dấu hay chữ ba nọc que và hình tháp trụ bằng đầu. Ba nọc que là lửa vũ trụ, mặt trời thái dương Càn. Tháp trụ bằng đầu có một khuôn mặt biểu tượng cho núi trụ, Trục Thế Giới ở cõi bằng đất thế gian. Ta thấy hình núi tháp trụ bằng đầu này trên người dê giống hình chữ D

hình núi tháp bằng đầu của Nga ngữ.

clip_image012

Chữ Da! của Nga ngữ.

Chư D này tương đương chữ delta hình tam giác tháp nhọn của Hy Lạp. Như đã biết trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), tam giác chỉ thiên hình núi tháp nhọn có một nghĩa là núi dương, núi lửa biểu tượng cho cho đất thế gian.

Gộp lại các chữ trên người dê là mặt trời ở thiên đỉnh trên trục vũ trụ hay núi trụ thế gian Li. Con dê có một khuôn mặt biểu tượng cho mặt trời thái dương thế gian giống như trong truyền thuyết Ai Cập cổ.

Quạ ba chân

 

Ba chân quạ biểu tượng cho ba nọc que, lửa vũ trụ, mặt trời Càn.

Quạ vàng (kim ô) ba chân biểu tượng cho mặt trời thái dương dương thế còn quạ đen ba chân biểu tượng cho mặt trời cõi âm.

clip_image014

.Dấu Ba Nọc Que Kết Hợp

 

.Dấu Hình tam giác.

Tam giác có ba cạnh là ba nọc que có một khuôn mặt là lửa vũ trụ, Càn.

Ngoài ra tam giác này cũng có ba đỉnh nhọn là ba đỉnh nọc mũi mác. Mỗi đỉnh tam giác là một đỉnh của một nọc mũi mác. Như thế tam giác có một nghĩa là ba nọc mũi mác tức ba lửa sinh động tức lửa vũ trụ Càn sinh động. Vì thế cần phải dựa theo các chi tiết khác để biết rõ do ba nọc mũi mác hay ba nọc que hay dùng lẫn lộn như nhau.

a. Tam giác thuận

Tam giác thuận có đỉnh chỉ thiên mang dương tính.

Như đã nói ở trên nếu nhìn toàn diện trọn vẹn dưới lăng kính của Vũ Trụ giáo và Dịch lý thì chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) và hình tam giác thuận này mang trọn vẹn ý nghĩa âm dương của Dịch của nhánh nọc dương thái dương Càn, Li.

Theo duy dương có nghĩa dương của dương là thái dương, lửa vũ trụ Càn và theo duy âm là âm của dương là thiếu dương lửa đất Li.

1. Ví dụ dấu tam giác thuận mang nghĩa lửa vũ trụ, Càn.

-Hình nọc tia sáng hình tam giác.

Hình mặt trời dưới đây diển tả nọc tia sáng thái dương hình tam giác.

clip_image015

Mặt trời cĩ nọc tia sáng hình tam gic l mặt trời nọc thi dương.

Nọc tia s áng tam gi ác tương đương với các nọc tia sáng hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) của mặt trời thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn.

clip_image017

Ở mặt sau tảng bùa ở Đền Hùng, Phú Thọ có chữ mặt trời có nọc tia sáng hình tam giác trong có chữ vạn có một nghĩa là mặt trời (Giả Mã Tảng Đá Bùa Ở Đền Hùng, Phú Thọ, phần 2)

clip_image018

-Trong phong thủy Trung Hoa hình tam giác thuận biểu tượng cho hành hỏa.

clip_image020

-Chim mỏ tam giác ở thạp đồng Hợp Minh

clip_image022

Mỏ chim diễn tả bằng dấu hay hình tam giác trên thạp đồng Hợp Minh.

2. Ví dụ dấu tam giác thuận mang nghĩa lửa đất thế gian Li.

Dấu hình tam giác ở hình cò ở trống Phú Xuyên Kì Việt.

clip_image024

Cò bay có dấu nọc tam giác ở giữa hai cánh trên trống Phú Xuyên.

Trống Phú Xuyên có hình hươu sủa mang khuôn mặt lửa đất thế gian mang tính chủ ứng với Kì Dương Vương nên dấu hình tam giác có khuôn mặt lửa Li thế gian mang tính chủ (xem trống Phú Xuyên).

b. Tam giác ngược

Dấu (chữ) tam giác ngược có đỉnh chỉ địa mang âm tính.

Như đã nói ở trên nếu nhìn toàn diện trọn vẹn dưới lăng kính của Vũ Trụ giáo và Dịch lý thì chữ V và hình tam giác ngược mang trọn vẹn ý nghĩa âm dương của Dịch của nhánh nọc âm thái dương Chấn Đoài vũ trụ.

Theo duy dương có nghĩa dương của âm là thiếu âm, khí gió vũ trụ Đoài. Theo duy âm là âm của âm là thái âm ngành nọc dương Chấn.

a. Ví dụ dấu tam giác ngược mang nghĩa thái âm mang t ính thái dương.

.Tam giác ngược mang nghĩa thái âm (nữ, bộ phận sinh dục nữ, nước ngành nọc dương, thái dương.

.linh tự sema

Ngày nay các nh à Ai Cập học cho Linh tự sema là có hình khí quản và hai lá phổi mang nghĩa kết hợp (union).

clip_image026

Thật ra đây là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que có hình hình đinh nhọn biểu tượng cho nọc, dương, bộ phận sinh dục nam cắm vào hình tam giác ngược tròn đỉnh biểu tượng cho nòng, âm nữ, bộ phận sinh dục nữ. Đây là hình nọc cắm vào nòng mang nghĩa giao hợp, hơn phối, kết hợp (xem Chữ Viết Nòng Nọc vòng tròn-que trong Linh Tự Ai Cập Cổ).

.tam giác ngược

Trong văn hóa cổ Tây phương tam giác ngược cũng có nghĩa là nước.

. clip_image027

Ở đây nước phải hiểu theo chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là nước thái dương, ngành nọc dương.

b. Ví dụ Tam giác ngược mang nghĩa thiếu âm ngành nọc thái dương Đoài vũ trụ.

Trên trống Miếu Môn I, dưới mõm những “con thú lạ” và những con cò bay có chữ nòng nọc hình chữ V. Các nhà nghiên cứu trống đồng hiện nay cho đây là những con thú và chim đang “tha mồi”. Nếu hiểu theo nghĩa bao quát của chữ V (tức hiểu theo chalice của Dan Brown) như trên thì những con thú có hình ngữ chữ V này dưới mõm và mỏ là những con vật mang âm Khôn mang ngữ tính lửa, thái dương thuộc nhánh nòng, Khôn dòng mặt trời thái dương (ứng với phía John/Mary Madelene).

 

 

clip_image029

 

Hình thú có hình ngữ chữ V dưới mõm và mỏ trên trống đồng Miếu Môn I.

Bây giờ ta đi xa hơn vào nghĩa của hình ngữ V dựa trên tính âm dương của Dịch. Theo Dịch, âm còn có âm của âm là thái âm, Khôn âm (có một khôn mặt là nguyên thể của nước) và âm còn có dương của âm là thiếu âm, Khôn dương (nguyên thể của gió). Như đã biết nòng O theo duy âm nữ có một khuôn mặt biểu tượng cho âm, nữ, bộ phận sinh dục nữ, theo Dịch là Khôn. Khôn khi dương hóa mở ra thành chữ U và V. Ta thấy rõ điểm này qua các chữ viết của loài người hiện nay. Ta có U của ngôn ngữ này = V của ngôn ngữ kia hay ở ngay cả trong cùng một ngôn ngữ, ví dụ Latin hiện kim Vox = Anh ngữ Voice = Latin cổ Uox (âm thanh, tiếng nói) = Việt ngữ U ơ (âm thanh, tiếng nói của trẻ thơ), Ú ớ (âm thanh, tiếng nói không ra lời). Rõ hơn trong chữ Việt, trong Từ Điển Việt Bồ La của Alexandre de Rhodes, có từ cổ Ùa = từ hiệm kim . Và là Ùa thức ăn vào miệng. Rõ hơn nữa ta thấy rõ O = U = V qua từ O (phương ngữ Huế o là mụ, cô, mệ; mụ có một nghĩa là mẹ như Thiên Mụ = Mẹ Trời) = U (người Bắc gọi mẹ là U) = V = Vê = Vú (Trung Nam gọi mẹ là Vú). Hiển nhiên ta thấy trước mắt cái vú, cái vê của U, của O, của Vú, của mẹ, của phái nữ có hình tròn nòng O. Rõ như ban ngày, V là biến dạng của O. Điểm này soi sáng thắc mắc của nhiều người khi đọc Dan Brown giải thích chalice hình chữ V có nghĩa là “dạ con” của phái nữ. Dạ con hình túi, hình bao làm sao mà giống hình chữ V được? Dan Brown đã lấy nghĩa chalice hình chữ V theo nghĩa nguyên thủy của chalice là vật đựng, bầu đựng, túi, nang đựng có gốc từ chữ U, chữ nòng O. Nòng O có một biểu tượng là lỗ sinh dục nữ, bọc dạ con phái nữ.

Trong chữ nòng nọc U, V là dạng dương hóa của O (U còn một vòng cung tròn ở đáy nên còn mang âm tính nhiều hơn chữ V nhọn đầu).

Áp dụng ý nghĩa âm dương của chữ nòng nọc theo Dịch lý ở đây, hình ngữ V dưới mõm của những con “thú lạ” và của những con cò là dạng dương hóa của nòng O. Nói một cách khác hình ngữ V là O dương, nòng dương, Khôn dương tức biểu tượng cho khí gió vũ trụ (Đoài vũ trụ). Hình ngữ chữ V hay “cái mồi” của các tác giả hiện nay chính là cái bao, cái bọc, cái nang hình nòng O biểu tượng hư không, khí gió ở dưới dạng dương hóa, thái dương. Ta thấy rất rõ chữ V dưới mõm và mỏ tạo thành chiếc túi hình tam giác ngược (tam giác là một biến dạng của V, xem dưới).

Tam giác là cái bọc hình nòng O dương hóa, là O thái dương. Ở đây là tam giác ngược tức mang âm tính tức O thái dương của phía âm. âu hỏi phải trả lời là cái bọc dương tam giác này là Khôn âm, nước thái dương hay Khôn dương khí gió? Trống Miếu Môn I là trống Đoài/Tốn có mặt trời 14 nọc tia sáng nên cái bọc tam giác này nghiêng về Khôn dương khí gió Đoài vũ trụ (Đoài ở cõi vũ trụ IIO là khí gió dương là khuôn mặt dương của Tốn OII, gió âm).

Ta cũng thấy thái dương (II) của âm O có một khuôn mặt là quẻ IIO, Đoài vũ trụ, khí gió. Như thế nhìn dưới dạng túi tam giác thì tam giác dưới mỏ cò là túi khí gió Khôn dương sinh động. Túi gió chuyển động phát ra âm thanh. Đây chính là hình ngữ túi âm thanh (xem chương Ý Nghĩa Dấu, Hình, Biểu Tượng Trên Trống Đồng). Con thú lạ có túi âm thanh dưới cổ là con thú có đặc tính là hay hú hay tru tức thuộc về loài sói, lang, chó. Tôi gọi con thú có bọc âm thanh hình chữ V này là linh thú lang sói. Nó có cốt là con chó sói, con lang, tương đương với từ thiên cẩu ngày nay dùng ở nhiều vùng quê ở Việt Nam. Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy thiên cẩu sói lang là hình bóng thú biểu thế gian của Hùng Vương có mạng khí gió vũ trụ (Đoài vũ trụ) vì một trăm Lang Hùng sinh ra từ một cái BỌC, cái NANG (trứng). Lang là dạng dương hóa của Nang (L là dạng dương hóa của N, xem Tiếng Việt Huyền Diệu). Lang có một nghĩa là túi, bọc dương, bầu dương, Khôn dương tức khí gió vũ trụ. Tổ Hùng Vương có cốt là Bọc, Bầu Trứng Vũ Trụ, có mạng Khôn dương (khí gió), là

Mặt Trời-Không Gian vũ trụ (Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc). Hùng Vương thứ nhất có hiệu là Lân Lang có một nghĩa là Con Sói Rạng Ngời (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Sói Mặt Trời thái dương rạng ngời Lân Lang là Sói Trời, Thiên Cẩu. Gần đây ở hồ Trúc Bạch vừa tìm thấy một miếu thờ Chó. Ngày nay ở vùng quê Việt Nam nhiều nơi còn múa thiên cẩu trong ngày lễ tết. Lạc Việt Tráng Zhuang ở Quảng Tây ngày nay còn giữ tục múa chó khi trẻ sơ sinh chào đời (xem Lạc Việt Tráng Zhuang).

Những con cò có túi âm thanh là những con cò có thể “huýt sáo” là những con cò gió, cò lả, cò trắng (mầu trắng là mầu của khí gió trong suốt), cò lang (lang có một nghĩa là trắng, chứng lang da vitiligo là chứng da hóa trắng, mầu lang là mầu sáng, mầu trắng) (xem chương Thế Giới Loài Vật Trên Trống Đồng Âm Dương Đông Nam Á). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, những con cò Lang (lang có nghĩa là trắng và cũng có một nghĩa nữa là Lang, con trai tức trăm Lang Hùng), cò trắng, Bạch Hạc, Cò Gió là chim biểu của Hùng Vương vì thế Hùng Vương mới đóng đô ở đất Bạch Hạc Cò Trắng, ở Phong Châu tức Châu Gió.

Kiểm chứng lại ta thấy rất rõ trống Miếu Môn I là trống Đoài/Tốn có mặt trời 14 nọc tia sáng (Đoài ở cõi vũ trụ là khí gió dương, Tốn là gió âm) có một khuôn mặt biểu tượng cho Hùng Vương có mạng Đoài khí gió vũ trụ mang dòng máu Tốn gió âm của Mẹ Âu-Cơ, sinh ra từ bọc, bầu không gian, nang Trứng Vũ Trụ.

 

. Hình tia chớp

 

Ba nọc que ghép lại thành hình ngằn ngoèo, chữ chi ta có hình tia chớp cũng có một nghĩa là lửa vũ trụ, Càn.

clip_image031

Tia chớp là lửa vũ trụ liên tác với mây, nguyên thể của nước, mưa, nước vũ trụ tạo ra sấm mưa.

.Hình túi vũ trụ ở tảng ngọc bùa ở đền Hùng, Phú Thọ.

clip_image032

Túi Vũ Trụ, Thái Cực trên tảng bùa.

Ở hình bùa trên một mặt của tảng ngọc bùa có hình túi có mấu. Phần có mấu nhọn là chữ có ba nhánh hình tia chớp. Chớp là lửa vũ trụ. Ba nhánh là ba nọc que tức quẻ Càn. Ở tận cùng dưới chân mỗi nhánh có phụ đề ba chấm nọc. Chấm nọc có nghĩa là nọc dương còn ở dạng nguyên tạo, sinh tạo. Ba nọc nguyên tạo có nghĩa là lửa Càn vũ trụ, mặt trời thái dương tạo hóa. Tóm tắt lại hình nọc nhọn diễn tả chớp lửa vũ trụ ứng với nọc tạo hóa, Càn.

Hình vòng tròn thể điệu hóa ở dạng chuyển động, sinh tạo mang hình ảnh giọt nước là dạng biến thể của chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nòng O có nghĩa là nòng, thái âm, nước, không gian, Khôn sinh tạo.

Tóm gọn lại đây là chớp lửa vũ trụ-không gian nước vũ trụ,‘túi càn khôn”. Ở dạng nhất thể tương ứng với thái cực. Chớp lửa vũ trụ liên tác vớ nước vũ trụ tạo ra sấm vũ trụ. Đây là hình ảnh của tiếng sấm big bang (Giải Mã Tảng Đá Bùa ở Đền Hùng, Phú Thọ).

Ngày nay hình tia chớp dùng biểu tượng cho điện cao thế.

 

clip_image034

Hình tia chớp dùng biểu tượng cho điện cao thế

(Ảnh của tác giả chụp tại lò sát sinh người Do Thái của Đức Quốc Xã t ại Auschwitz, Ba Lan).

 

.Hình chữ S gẫy

Hình chữ S gẫy là một dạng của tia chớp.

Trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn dạng chữ S gẫy này thấy rất nhiều. ví dụ như ở vùng tứ hành ở trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

:

clip_image036

Vùng tứ hành trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I.

-Vành số 1 là vành sóng vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Đoài vũ Trụ Như trên đã nói vành nằm sát mặt trời thường là vành diễn tả khôn mặt mang tính trội của trống. Trống Ngọc Lũ I có mặt trời 14 nọc tia sáng là trống Đoài/Tốn thế gian vì thế ta chọn nghĩa vành sóng “chấm vòng tròn” này là Đoài sinh động, tạo sinh. Như vậy vành 1 là vành sóng thiếu âm Đoài khí gió dương vận hành.

-Vành số 2 ở giữa có hình ngữ sóng ánh sáng (tia chớp) chữ S gẫy khúc nghiêng (có tác giả cho là chữ N nghiêng) ôm hình chữ S mập, đậm đen là hình những giọt nước biến thể, là sóng nước dương (xem chương Chương Những Dấu, Hình, Vật Biểu Tượng). Vành tia chớp là Càn lửa vũ trụ, thái dương vận hành và vành sóng lửa nước đậm đen là Chấn, nước dương vũ trụ, thái âm dương vận hành. Hai vành sóng ánh sáng và sóng nước ôm nhau còn mang nghĩa Càn-Chấn lửa-nước, âm dương vận hành, thái dương thái âm giao hòa vận hành, sinh tạo. Vì thế hai vành sóng này cũng mang nghĩa âm dương càn khôn kết hợp, giao hợp (dĩ nhiên theo duy dương của ngành nọc thái dương vì Chấn đại diện cho nòng Khôn âm, thuần âm).

-Vành số 3 cũng là vành sóng vòng tròn có chấm có tiếp tuyến Li/Đoài vũ trụ nhưng ngược với vành số 1 tức có nghĩa là thiếu dương Li, đá , đất dương (ở cõi vũ trụ, tạo hóa là thiên thạch). Đây là sóng thiếu dương Li vận hành.

Vậy bốn vành này biểu tượng Đoài, Càn, Chấn, Li vũ trụ dưới dạng Tứ Hành vận hành. Bốn vành này chuyển động theo hình vòng tròn vô cùng vô tận, không đầu không đuôi nên đây là Tứ Hành vận hành chuyển hành sinh tạo đời đời.

4. Dấu Nhiều Nọc Que

Nhiều nọc que kết hợp lại tạo thành nhiều dấu, hình, chữ khác nhau, có nghĩa mang tính khác nhau của chữ nọc que.

Nếu các chữ nhiều nọc que này dùng làm dấu thì dấu cũng mang cùng nghĩa của chữ. Xem chữ kết hợp nhiều nọc que.

(Còn nữa).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: