ÂU CƠ: NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ MẸ TỔ ÂU CƠ.

NHẬN DIỆN DANH TÍNH và BẢN THỂ MẸ TỔ ÂU CƠ.

(phần 1).

Nguyễn Xuân Quang

Bà Âu Cơ được coi là Mẹ Tổ Âu của Việt Nam.

Mẹ Tổ Âu Cơ bà là ai?

.Qua Sử Miệng (truyền thuyết, ca dao, tục ngữ).

Trước hết xin duyệt xét sơ qua những cái nhìn về bà từ trước tới nay qua truyền thuyết dân gian và văn chương truyền khẩu.

Theo Lĩnh nam chích quái thì “Âu Cơ là con gái Đế Lai, cháu của Đế Nghi theo cha đi tuần thú xuống nước Xích Quỉ… Long quân thấy Âu Cơ dung mạo đẹp đẽ kỳ lạ, trong lòng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu niên phong tư tú lệ… Âu Cơ vui lòng theo Long quân… Âu Cơ lấy Long quân đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh đồng, qua sáu bẩy ngày bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai…” (tr.21-22).

Long quân về sau về cai trị Thủy-quốc, nên chia tay với vợ: “Ta là nòi rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con nhưng thủy hỏa tương khắc, giòng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia ly. Ta đem năm mươi con về thủy phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất, chia nước mà trị…”.

Qua truyền thuyết này ta thấy:

.Mẹ Tổ Âu Cơ là con Đế Lai và cháu Đế Nghi. Với gh câm như nghèo = neo (neo ngưởi, ít ngưởi, ít cùng nghĩa với nghèo), ta có Nghi = Ni. Ni ruột thịt với Phạn ngữ agni là Lửa (II), Lửa thái dương vũ trụ là Càn. Lai biến âm với Đai là Đất (đất đai). Khối lửa vũ trụ thái dương II bay trong không gian nguội (âm hóa, nòng O hóa một nửa) đi thành thiên thạch, đá, đất thiếu dương OI.

Như thế Mẹ Tổ Âu Cơ thuộc ngành nọc, lửa. Lửa vũ trụ là Càn, mặt trời và lửa thế gian là Li, đất dương (đá, núi lửa, núi dương).

.Lạc Long Quân nhận mình có mạng thủy và Mẹ Tổ Âu Cơ có mạng hỏa: ta là nòi rồng đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên sống trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con nhưng thủy hỏa

Rõ ràng Mẹ Tổ Âu Cơ thuộc ngành hỏa tức nọc, lửa, ở cõi thế gian là lửa núi, núi dương.

. Lạc Long Quân nói «nàng là giống tiên sống trên đất».

Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt đất, núi.

.Truyền thuyết trên nói Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc… vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai

Truyền thuyết Mường nói rõ thêm Mẹ Tổ Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng chim. Chim có một khuôn mặt chính mang dương tính biểu tượng cho nọc, dương, nam, bộ phận sinh dục nam, lửa, mặt trời (thái ngữ nok ruột thịt với Việt ngữ nọc là chim, bộ phận sinh dục nam gọi là chim). Ta thường nói con Rồng cháu Tiên, thường hiểu là Con Rồng Lạc Long Quân có một khuôn mặt biển, nước có cốt là con rắn nước mang dương tính. Tiên là người ở trên núi. Các nhà nho dùng chữ Tiên với mục đích lấy thêm hình ảnh Tiên là một người nữ đẹp, giai nhân ở trên trời (giáng tiên), trên núi (nàng tiên, tiên nữ). Qua từ Tiên này, Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt cõi trời và đất núi tức lửa Li thiếu dương. Thật ra Tiên biến âm với tiêm là vật nhọn như kim tiêm (chích thuốc). Vật nhọn là nọc dương, lửa. Theo Bình Nguyên Lộc tộc Khả Lá Vàng, một tộc cổ Việt (theo tôi có lẽ tộc Khả này liên hệ với tộc Xá Khmu) có từ tiêm là chim (Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam).

Vậy Tiên là núi ứng với lửa thiếu dương thế gian và Tiên là chim có một khuôn mặt là lửa thái dương vũ trụ Càn.

Như thế Con Rồng Cháu Tiên có gốc là Con Rắn Cháu Chim.

Khuôn mặt chim của Mẹ Tổ Âu Cơ cũng cho thấy bà thuộc ngành lửa.

Một truyền thuyết khác cho thấy Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là thái dương thần nữ.

Ở làng Diềm, xã Hòa Long, huyện Yên Phong có một vị thần làng. Làng Diềm tên chữ Hán là Viêm Xá (biến âm d = v, Diềm = Diêm, que làm ra lửa = Viêm, nóng). Theo Đặng Văn Lung “Viêm Ấp… gợi ta nhớ đến Viêm Đế, Viêm Giao và sự liên quan đến tục thờ Mặt trời. Làng có một ngôi nghè (đền) quay mặt ra vực Lở, tên chữ là vực Nhật Tảo — mặt trời buổi sớm — trong vực có hang ổ của loài thủy quái. Đó là nơi thờ vị thành hoàng có tên sau đây: Đương cảnh thành hoàng, quốc vương thiên tử Nhữ Nương Nam Nữ Nam Hải đại vương”. Người ta không biết bà là người ở đâu, chỉ biết buổi thiếu thời bà đến làng này mò cua bắt ốc. Một hôm bà cắt cỏ trên đồi Quả Cảm, ngẫu hứng hát câu:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Muôn vàn cây cỏ lại hàng tay ta.

Lúc đó có thuyền của vua Thủy Tề đi kinh lý trên sông Cầu. Vua nghe câu hát có khẩu khí đế vương, Vua trông lên thấy đám mây vàng rực rỡ che trên đầu bà. Vua biết là người nhà trời bèn xin cưới làm vợ. Bà ưng thuận và đi theo Thủy Tề xuống vực Lở.

Nhân dân thương nhớ bà lập nghè thờ. Hàng năm nhớ ngày mồng bẩy tháng hai ngày ra đi của bà, tổ chức hát Quan Họ để cầu may, cầu phúc, lúc hạn cầu mưa, đã một lần phù giúp Trương Hống đánh thắng giặc.

Làng Diềm có một bài ca, giải thích rằng nguồn gốc hát Quan Họ là do bà Nhữ Nương sinh ra:

“Quan Họ thủy tổ sang ta

Những lời ca xướng vua Bà sinh ra”.

(sđd, tr.186-187).

Tác giả Đặng Văn Lung so sánh truyền thuyết này với truyền thuyết Âu Cơ và cho rằng hai người có nhiều điểm tương đồng.

Tôi xin bổ túc. Trước hết là làng Diềm, làng Diêm, Viêm Xá liên hệ với thần mặt trời Viêm Đế. Mẹ Tổ Âu Cơ thuộc ngành lửa thái dương Viêm Đế. Làng Diềm, làng Diêm làng “Lửa Thái dương” cũng liên hệ tới Âu Cơ và cũng vì thế mà ngôi đền thờ của bà quay mặt ra vực Lở có tên chữ Hán là Nhật Tảo – mặt trời mọc tinh mơ. Tên Nhữ Nương với h câm, Nhữ = Nữ cùng nghĩa với nàng, u, o tức ruột thịt với Âu. Nhữ Nương = Nữ Nương = O Nương = Âu Nương = Âu Cơ. Vì bà là mặt trời mọc, là Thái dương thần nữ nên trên đầu bà có đám mây vàng. Bà lấy vua Thủy Tề, đây là hình bóng Lạc Long Quân.

Tóm lại Nhữ Nương, Nữ Nương chính là hình bóng của Âu Cơ. Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là mặt trời tinh mơ hôn phối với mặt trời hoàng hôn, mặt trời đêm (ông trăng) Lạc Long Quân. Điểm này thấy rõ Lạc Long Quân là mặt trời hoàng hôn thường được biểu hiện bằng một cụ già râu tóc bạc. Truyền thuyết ở trên cũng xác nhận ông già Lạc Long Quân «thấy Âu Cơ dung mạo đẹp đẽ kỳ lạ, trong lòng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu niên phong tư tú lệ..).

Mẹ Tổ Âu Cơ là mặt trời tinh mơ nên mới được thờ tại ngôi nghè Nhật Tảo.

Ca dao tục ngữ có câu

Ông giăng mà lấy bà giời,

Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu.

Câu này ám chỉ bà giời (mặt trời nữ) Mẹ Tổ Âu Cơ lấy ông trăng Lạc Long Quân. Trăng là một thứ mặt trời đêm, một khuôn mặt âm trội của mặt trời hoàng hôn Lạc Long Quân.

Mồng 5 với số 5 là số Li, lửa, đất thế gian ứng với bản thể lửa, núi của Mẹ Tổ Âu Cơ. Mồng 10 với số 10 là số Khảm tầng 2 (10 = 2 + 8) có một nghĩa là nước liên hệ với ông trăng Lạc Long Quân (trăng nước). Hai ngày hỏa thủy này tương hợp với Mẹ Tổ Âu Cơ-Lạc Long Quân.

Như thế qua sử miệng Mẹ Tổ Âu Cơ thuộc ngành nọc, lửa. Lửa vũ trụ là Càn có một khuôn mặt là nữ thần mặt trời và lửa thế gian là Li, đất dương (đá, núi lửa, núi dương) có một khuôn mặt là non, núi.

.Qua Ngôn Ngữ Học

-Âu biến âm với au là đỏ (đỏ au). Đỏ là tỏ là mặt trời, lửa.

So sánh với Ấn-Âu ngữ ta có Pháp ngữ aube, aurore, Ý, Tây Ban Nha, Bồ ngữ aurora (rạng đông) có au- liên hệ với âu.

Như thế Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là mặt trời rạng đông (về phái nữ là mặt trời tinh mơ hình đĩa tròn không có ánh sáng hình nọc tỏa ra). Ta đã thấy rõ Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là nữ thần mặt trời tinh mơ qua truyền thuyết bà Nhữ Nương ở trên.

Và ta cũng thấy rõ qua sự hôn phối âm dương Âu Cơ mặt trời rạng đông kết duyên cùng Lạc Long Quân mặt trời lặn lạc dương.

-Âu là U: theo chuyển hóa au = u như bâu = bu (ruồi…) Âu = U (mẹ). Ở vùng Sơn Tây, vùng đất của Lạc Long Quân, bố mẹ gọi là thầy u. Lạc Long Quân được gọi là Thầy như núi Thầy, chùa Thầy, bánh Thầy, bánh Tầy, bánh dầy. Mẹ Âu Cơ chính là U. Ta có bánh Ú hình núi tháp, hình vú, một dạng bánh chưng biểu tượng của Mẹ Tổ Âu Cơ. Bánh Ú hình tháp biểu tượng cho khuôn mặt núi của Mẹ Tổ Âu Cơ. Bánh Ú hình vú là bánh Vú, bánh U, bánh Mẹ Tổ Âu Cơ (miền Bắc gọi U là mẹ, Trung Nam gọi mẹ là Vú).

Còn từ Cơ là cô, phái nữ. Hán Việt Cơ là “mỹ hiệu của đàn bà ví dụ Âu-cơ. Cũng đọc là ky” (Đào Duy Anh, Hán Việt Từ Điển).

Ta biết Âu là au là đỏ là lửa là mặt trời và Cơ là Cô, Nàng. Vậy Âu Cơ có bản thể là Cô-Lửa, Nàng Lửa, Nàng Mặt Trời Thái Dương và Âu hiểu theo U thì Mẹ Tổ Âu Cơ là U Lửa, U Mặt Trời Thái Dương, U đất núi.

…..

.Qua Sử Sách

Các học giả Việt hiện nay phần lớn cho Mẹ Tổ Âu Cơ có chủ thể là Chim, Núi cho ăn khớp với truyền thuyết ‘năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển’ và với ‘con rồng cháu tiên’. Có người đã viết ra công thức: Âu-Cơ = Tiên = Chim = Núi = Đất.

.Qua Việt Dịch và Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que.

Ta đã biết cốt lõi văn hóa Việt Nam dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng, nguyên lý căn bản của Dịch. Như thế ta phải nhận diện các nhân vật truyền thuyết và cổ sử Việt qua lăng kính Dịch nhất là Việt Dịch nòng nọc vòng tròn-que. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc

a. Qua chữ viết nòng nọc vòng tròn-que

Chữ nòng nọc vòng tròn-que là một chữ viết cổ nhất của loài người. Tất cả chữ viết của loaì người hiện nay trong đó có mẫu tự ABC của Tây phương có nguồn gốc từ chữ Phoenician đều là di duệ hay còn có các di tích của chữ nòng nọc vòng tròn-que (Chữ Nòng Nọc Nòng Tròn-Que). 

Từ AU A trong mẫu tự ABC được coi là có gốc phát xuất từ hình ngữ cổ A hình đầu bò có hai sừng trong mẫu tự Phoenician.

clip_image002

Mẫu tự A hình đầu bò có hai sừng trong mẫu tự Phoenician.

Hai sừng là hai nọc, hai dương là thái dương, lửa. Chữ A dầu bò hai sừng mang tinh thái dương, lửa.  Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que A là một dạng nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) clip_image003 có nghĩa là nọc, dương, lửa, thái dương, mặt trời…

Thấy rõ nhất khi chữ A viết dưới dạng chữ A hoa “thôn dã” (Rustic A) viết theo hình “dấu mũ” , mũi tên, mũi mác (từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ 12)

clip_image004

Chữ thứ 6 trong hình Biography of a letter A, từ trái qua phải gồm có hai nọc (II) ghép lại thành nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) ^ cũng mang những ý nghĩa giống như chữ A ba nọc chỉ khác ở tầng mang ý nghĩa về sinh tạo.

Chữ A dạng dấu mũ, mũi mác, mũi lao cũng đã thấy trong hình ngữ cổ KHAN (thường được hiểu theo một nghĩa là Nước. Ta thấy rất rõ Khan chính là K’an, tức Khảm, hiểu theo một nghĩa trong Dịch Khan, Khảm là Nước).

clip_image005

Tuy nhiên nhìn dưới lăng kính trọn vẹn của Vũ Trụ Tạo Sinh (Cosmogeny), của chữ nòng nọc thì  KHAN có chữ KH hình vòm biểu tượng Cõi Trên, Cõi Trời,  khí gió thái dương, nòng dương. Chữ nọc dấu mũ, mũi mác, mũi lao (/\) tức A ở giữa biểu tượng dương, lửa. Còn hình sóng nước là nước. KHAN bao gồm khí gió, lửa và nước. Ở cõi giữa thế gian là cõi trời, cõi đất và cõi nước.

A biểu tượng cho lửa, mặt trời thấy rõ qua gốc Phạn ngữ ar, đốt; agni, lửa, arson, đốt lửa gây hỏa hoạn, ace, một (một là mặt trời), châu Á là châu lửa, phía mặt trời mọc. Những tổ phụ dòng lửa, mặt trời của nhiều tộc trên thế giới có tên khởi đầu bằng mẫu tự A như vua mặt trời Ai Cập là Atum, Atom, các thần dòng thái dương của Maya đều có tên khởi đầu bằng từ Ah như Ah Kinchil, thần mặt trời, Ah Puch, Diêm Vương, Ahmakiq, thần nông nghiệp… Thái dương thần nữ Amaterasu của Nhật cũng khởi đầu bằng chữ A, người đàn ông đầu tiên trên trái đất của Thiên chúa giáo là Adam, cổ ngữ Việt, áng là cha, ánh là ánh sáng mặt trời…

Trong linh tự Ai Cập, mẫu tự A, a đọc là Ahau.

clip_image007

Theo các nhà Ai Cập học, Ahau được biểu thị bằng con kên kên (vulture), một loài mãnh cầm biểu thị cho dương tính, lửa, mặt trời. Ta thấy Ahau có A là lửa, mặt trời, thái dương và -hau  liên hệ với Việt ngữ hâu (diều hâu), với Anh ngữ hawk cũng là một loài mãnh cầm biểu thị cho dương tính, lửa, mặt trời.

Ở đây cũng cho ta thấy rõ như ban ngày Mẹ Tổ Âu Cơ là Nàng Lửa, Mặt Trời nên có một khuôn mặt là chim mang dương tính lửa.

Như thế tóm lại chữ A là di duệ của hình ngữ hai sừng bò, trong chữ viết nòng nọc do hai nọc que (A dân dã) hay do ba nọc que ghép lại có gốc từ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có nghỉa là nọc, dương, đực, bộ phận sinh dục nam, cha, lửa…

A có một khuôn mặt là Lửa. Lửa thái dương là lửa vũ trụ, ánh sáng, mặt trời, Càn. Lửa thiếu dương là lửa thế gian Li.

(xem Từ Điển Tương Đồng Anh-Việt Vần A và Mẫu Tự BC và Chữ Nòng Nọc Vòng Tròn-Que).

U là dạng thái dương âm của nòng O. U có hai nhánh đứng là hai nọc thái dương và vòng cong ở đáy còn mang âm tính nên là dạng thái dương âm của nòng O (trong khi V phần đáy có mũi nhọn mang dương tính là dạng thái dương dương của nòng O).

Như thế trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que , AU là U (có một nghĩa là mẹ) Thái Dương, Mẹ Thái Dương, Nữ Mặt Trời Thái Dương có gốc từ O Thái Dương, Nàng Thái Dương, Nữ Mặt Trời Thái Dương.

U thấy rõ có góc từ O qua phương ngữ Huế O là mụ, cô, nường và qua tên tộc Ao-Naga ở Assam, vùng đông bắc Myanmar. AO là O lửa, O Thái Dương…

Như vậy qua chữ viết nòng nọc vòng tròn-que ÂU, AO, U có nghĩa là Nàng ( O, Mẹ, Mụ) Lửa, Thái Dương, Mặt Trời…

b.Qua Dịch Nòng Nọc Vòng Tròn-Que

Cốt lõi văn hóa Việt Nam dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên Rồng, nguyên lý căn bản của Dịch nên các vị tổ phụ và tổ mẫu của Việt Nam đều diễn tả theo Dịch.

Theo dân gian Việt Nam, trong các buổi tế lễ ngày nay, nhiều nơi vẫn gọi các tổ phụ của chúng ta là CHÀNG tức gọi theo các Lang, các con trai Hùng Vương và các tổ mẫu gọi là các NÀNG tức gọi theo các Mệ Nàng, con gái Hùng Vương.

Tóm tắt ở đây ta có

.Đế Minh

Đế Minh là Đế Ánh Sáng tức lửa vũ trụ Càn III.

Theo Dịch Trung Hoa Càn vi thiên, trời. Từ thiên ở đây thật mơ hồ và có mang tính bói toán, phong thủy.

Trong Dịch nòng nọc vòng tròn-que, Càn III là lửa II mặt trời I, lửa vũ trụ.

Gọi theo dân gian là Chàng (I) Lửa II thái dương, vũ trụ.

.Vụ Tiên,

Đế Minh Càn III có một khuôn mặt là lửa thái dưong vũ trụ hôn phối với vợ Vụ Tiên có khuôn mặt nòng nọc, âm dương ngược lại là nước thái âm OO không gian O tức OOO, quẻ Khôn.

Vụ Tiên là con Le Le, vịt nước OO ở bầu vũ trụ, bầu trời O (le le là loài vịt trời) tức Khôn OOO.

Gọi theo dân gian là Nàng (O) Nước thái âm vũ trụ.

.Kì Dương Vương

Kì Dương Vương là con hươu sừng Lộc Tục (Lộc Đục, Lộc Tục) là đất lửa thế gian Li IOI.

Gọi theo dân gian là Chàng (I) thiếu dương (OI) Đất lửa thế gian.

.Long Nữ hay Thần Long

Kì Dương Vương IOI có một khuôn mặt là lửa thiếu dương hôn phối với vợ Long Nữ có khuôn mặt nòng nọc, âm dương ngược lại là nước thế gian O thiếu âm IO tức Khảm OIO.

Long Nữ có cốt vốn là rắn nước OO nhưng dương hóa thành rồng bay lên trời được. Nước thái âm OO đun nóng (dương hóa) một nửa O biến thành nọc I, biến thành hơi (nước), khí gió thiếu âm IO. Như thế Thần Long, Long Nữ có mạng thiếu âm hơi nước, khí gió ở cõi trời thế gian ứng với một khuôn mặt sinh tạo của Khảm OIO.

Theo Dịch Trung Hoa Khảm vi thủy, nước.

Như đã thấy ở trên Khảm OIO trong Dịch nòng nọc vòng tròn-que có một khuôn mặt thiếu âm (IO) khí gió ở bầu trời thế gian O (cái, phái nữ, nàng, âm).

Gọi theo dân gian Việt Nam là Nàng (O) Khí Gió thiếu âm (IO).

Khảm có phần thiếu âm IO nên nếu hiểu theo nghĩa là nước thì phải hiểu nước đây là nước thiếu âm ở tiểu vũ trụ, thế gian.

Khảm là nước thiếu âm ở cõi thế gian nhưng ở cõi trời, không gian (O) là khí, hơi nước thiếu âm (IO).

Điểm này cũng thấy rõ qua hình ngữ cổ KHAN có một nghĩa là là Khảm.

Trở lại chữ KHAN ở trên có một nghĩa là Khảm.

Ta thấy Khảm có KH hình bầu trời và chữ /\ (A) nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) lửa, dương. Đọc từ trái qua phải theo chiều âm (vì hiểu theo ngành nòng, nước mang âm tính), ta có sóng N tức nước. Lửa chữ

/\ (A) là nọc I và không gian KH (hình vòm) là nòng O. Lửa-không gian là Khôn dương tức thiếu âm IO. Rõ ràng Khảm là nước – thiếu âm.

.Lạc Long Quân

Lạc Long Quân là lửa-nước có một khuôn mặt sấm Chấn IOO.

Theo Dịch Trung Hoa là Chấn vi lôi, sấm, động.

Trong Dịch nòng nọc vòng tròn-que, Chấn IOO có nghĩa là

Nọc I thái âm OO. Gọi theo dân gian Việt là Chàng (I) Nước (OO).

Chấn là lửa-nước thái âm, là lửa trời-mưa, chớp-mưa có một khuôn mặt là sấm mưa. Khuôn mặt sấm này là khuôn mặt sấm cõi trời thế gian (Lạc Long Quân Chấn có một khuôn mặt là sấm thế gian có nhà ở đầu núi Mẹ Tổ Âu Cơ). Trong khi đó lửa vũ trụ Càn III và nước không gian Khôn OOO có một khuôn mặt là sấm big bang cõi tạo hóa.

Chấn IOO cũng phân tích ra thiếu âm IO nguyên thể khí gió trong không gian nòng, O. Đây là khuôn mặt rồng Long bay lên trời của Lạc Long Quân.

Chấn IOO cũng phân tích ra OO, là nước thái âm và I, nọc, dương (I) tức nước dương chuyển động (Mây cõi trời). Ở cõi thế gian nước dương, chuyển động là sông, biển (Lạc Long Quân Chấn có một khuôn mặt thế gian là Biển).

…..

.Âu Cơ

Lạc Long Quân Chấn IOO có một khuôn mặt là nọc nước, nước hôn phối với vợ Âu Cơ có khuôn mặt nòng nọc, âm dương ngược lại là OII tức Tốn có một khuôn mặt là lửa II âm O, nòng lửa.

Theo Dịch Trung Hoa, Tốn vi phong, gió.

Đây là hiểu Tốn OII với khuôn mặt nòng O là không gian và thái dương II tức không gian thái dương, là khí gió. Gió đây mang âm tính vì khởi đầu bằng hào âm O.

Trong Dịch nòng nọc vòng tròn-que, Tốn có nghĩa là:

.Nòng âm O thái dương II.

Gọi theo dân gian Việt là Nàng (O) Lửa (II), O Thái Dương II, thái dương nữ, mặt trời nòng, âm nữ.

Âu Cơ có một khuôn mặt Tốn Nàng Lửa, Thái Dương Thần Nữ này.

Tốn OII phân tách ra là thiếu dương OI nọc dương I. Tốn IIO có một khuôn mặt thiếu dương đất ngành nọc dương. Bà Âu Cơ có một khuôn mặt Đất, Núi (dẫn 50 con lên núi) ngành nọc dương Viêm Đế-Đế Minh-Kì Dương Vương.

Tốn OII cũng tách ra thành thái dương II ngành nòng O.

Như đã nói ở trên, Mẹ Tổ Âu Cơ có khuôn mặt lửa, thái dương, mặt trời ngành nòng O.

Như thế qua các quẻ Dịch ứng với truyền thuyết và cổ sử Việt, Mẹ Tổ Âu Cơ cũng có mạng lửa có hai khuôn mặt chính là lửa thái dương vũ trụ là nữ mặt trời thái dương là lửa thiếu dương thế gian là đất dương núi.

.Tổ Hùng Thế Gian (truyền thuyết).

Tổ Hùng thế gian có cốt là bọc trứng chim. Bọc là bầu vũ trụ, bầu trời và chim mang dương tính. Bầu vũ trụ, bầu trời dương là Khôn dương thiế âm IO, nguyên thể khí gió. Như thế tổ Hùng thế gian là khí gió không gian, vũ trụ thiếu âm OI ngành nọc, dương I tức quẻ IIO, Đoài vũ trụ.

Theo Dịch Trung Hoa, Đoài vi trạch là chằm, đầm.

Hiểu theo Dịch thế gian này thì Đoài IIO là lửa II nòng O, theo âm là nước-lửa, nước âm ao đầm.

Như đã nói ở trên trong Dịch nòng nọc vòng tròn-que, Đoài có thêm nghĩa là

.Nọc I thiếu âm IO (nguyên thể là gió) là nọc khí gió (dương) ở cõi vũ trụ.

Gọi theo dân gian Việt là Chàng (I) Khí Gió thiếu âm (IO).

Ở cõi thế gian Đoài IIO có O là bọc nước mang tính lửa, thái dương II nên là bọc nước ấm, nóng tức ao đầm. Dịch Trung Hoa hiểu Đoài vi trạch là chằm, đầm, ao là hiểu theo nghĩa thế gian này.

Lưu ý

Vì thế phải phân biệt hai khuôn mặt Đoài vũ trụ khí, gió và Đoài thế gian ao đầm.

. Vợ Tổ Hùng thế gian (truyền thuyết).

Tổ Hùng thế gian Đoài IIO hôn phối với vợ có khuôn mặt nòng nọc, âm dương ngược lại là OOI tức Cấn.

Theo Dịch Trung Hoa Cấn vi sơn, núi, an tĩnh.

Trong Dịch nòng nọc vòng tròn-que, Cấn OOI có nghĩa là:

.Nòng O thiếu dương OI.

là nòng, âm O, thiếu dương OI (nguyên thể của đất) có một khuôn mặt là đất âm, núi âm tức sơn.

Theo Việt Dịch là Nàng O thiếu dương OI tức Nàng Đất, Nàng Non.

Vợ của Hùng Vương sinh tạo truyền thuyết có mạng núi âm Cấn OOI, dân gian gọi là Nàng (O) thiếu dương Đất.

Chàng thiếu âm khí gió cõi trời Đoài IIO vũ trụ hôn phối với Nàng thiếu dương đất Cấn OOI.

Ta thấy rất rõ tên bốn tổ phụ của Việt Nam ứng với tứ tượng dương và tên bốn tổ mẫ ứng với tứ tượng âm.

Như thế riêng về Mẹ Tổ Âu Cơ có mạng gió âm Tốn OII đọc theo Việt Dịch nòng nọc vòng tròn-que tức gọi theo Nàng Chàng thì ta có Tốn là Nàng (O) Lửa II. Ở cõi vũ trụ, tạo hóa, sinh tạo Lửa là lửa vũ trụ, thái dương, Mẹ Tổ Âu Cơ là nàng Lửa thái dương, Nữ Mặt Trời thái dương. Đây chính là khuôn mặt chim sinh tạo đẻ ra bọc trứng chim.

Ở cõi thế gian, Lửa là lửa thiếu dương, lửa đất thế gian, đất dương Li. Đây chính là khuôn mặt non, núi của Mẹ Tổ Âu Cơ mang 50 con lên núi.

.Qua Di Truyền Học.

Về phía ngành nòng, âm, nữ, Mẹ Tổ Âu Cơ có thể coi như là cháu của Vụ Tiên, vợ của Đế Minh và là con của Long Nữ, vợ của Kì Dương Vương.

Chàng I Lửa II vũ trụ tức Càn III Đế Minh giao phối với Nàng O Nước thái âm OO tức Khôn OOO Vụ Tiên, ta có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương đại vũ trụ thái dương II với thái âm OO:

II x OO

Đọc theo âm, ngành nòng tức theo chiều kim đồng hồ ta có IO, thiếu âm. Ta thấy rõ Long Nữ con của Vụ Tiên có mạng thiếu âm, nguyên thể của khí gió, hơi nước ở cõi trời, ở cõi thế gian là nước thiếu âm ứng với quẻ Khảm.

Giải thích theo vật lý thì nước Vụ Tiện tương giao với lửa vũ trụ Đế Minh thì nước bốc thành hơi, khí, thiếu âm IO. Long Nữ là Nàng O thiếu âm tức OIO, Khảm.

Nàng Khảm Long Nữ thiếu âm IO lấy Chàng Lửa thiếu dương  OI Li ta có lưỡng hợp nòng nọc, âm dương tiểu vũ trụ thiếu âm với thiếu dương:

IO x OI

Đọc theo chiều âm, chiều kim đồng hồ, ta có

IO, II

OO, OI

Hàng trên cho thấy thiếu âm IO Long Nữ đẻ ra thái dương II, Âu Cơ.

Giải thích theo vật lý thì nước thiếu âm Long Nữ tương giao với lửa thế gian Li Kì Dương Vương thì hơi nước khí, thiếu âm IO bị lửa đốt thêm nữa biến thành thái dương II.

Mẹ Tổ Âu Cơ là Nàng O Lửa, Thái Dương II, tức OII, Tốn.

Ở đây ta có thể dùng di truyền học để kiểm chứng lại ý nghĩa của hai từ Đế Nghi nói trong truyền thuyết ở trên.

Ở đây ta thấy Âu Cơ mang dòng máu Lửa vũ trụ Càn của ông Đế Minh và dòng máu Lửa đất thế gian Li của cha Kì Dương Vương. Như thế theo truyền thuyết Mẹ Tổ Âu Cơ là cháu Đế Nghi thì Đế Nghi phải có bản thể chính là Lửa vũ trụ Càn. Đúng như đã thấy ở trên từ Nghi biến âm với Ni ruột thịt với Phạn ngữ agni là Lửa (II).

Mẹ Tổ Âu Cơ là con của Đế Lai thì Đế Lai phải có bản thể chính là Lửa thế gian, Núi Li. Đúng như đã thấy ở trên từ Lai biến âm với Đai là Đất (đất đai).

Như thế qua di truyền ta cũng thấy Mẹ Tổ Âu Cơ là Nàng Lửa. Ở cõi sinh tạo, tạo hóa là Nàng O Thái Dương II, Lửa vũ trụ, Nữ Mặt Trời Thái Dương tức OII, Tốn. Ở cõi thế gian là Nàng O thiếu dương OI lửa đất thế gian tức núi Cấn OOI.

Lưu Ý

.Ở đây ta thấy Tốn và Cấn là hai khuôn mặt của Mẹ Tổ Âu Cơ có cùng bản thể tương đồng lửa là thái dương và thiếu dương.

Điều này giải thích tại sao trong nhiều nền văn hóa theo Vũ Trụ giáo dựa trên Dịch lý có truyền thuyết các anh chị em sinh đôi tức cùng bản thể. Ví dụ Phục Hy và Nữ Oa cùng có đuôi rắn thuộc ngành nòng, âm. Phục Hy phái nam nên là thiếu âm và Nữ Oa là phái nữ nên là thái âm. Theo truyền thuyết Phục Hy và Nữ Oa sinh đôi và lấy nhau.

.Ở trên là ta nói theo duy âm về phía ngành nòng, âm nữ (Nàng). Vụ Tiên Nàng O Nước Thái Âm OO vũ trụ tức Khôn OOO lấy Chàng Lửa vũ trụ Càn Đế Minh, di thể thái âm OO của Vụ Tiên giao hòa với thái dương II, dương hóa thành thiếu âm IO nên đẻ ra Long Nữ thiếu âm. Long Nữ nàng O thiếu âm IO tức Khảm lấy Chàng I thiếu dương OI tức Li IOI, di thể thiếu âm IO của Long Nữ dương hóa thành thái dương II đẻ ra Âu Cơ Nàng O Thái Dương II tức Tốn OII. Nàng Thái Dương Âu Cơ Tốn OII lấy Chàng I Nước OO Lạc Long Quân tức Chấn IOO, di thể thái dương II của Âu Cơ âm hóa (vì Lạc Long Quân là nước) thành thiếu dương OI (thái dương là lão dương nên dương già cực đại thì lại âm hóa; đàn ông già thành đàn bà) nên đẻ ra vợ Tổ Hùng thế gian là Nàng O thiếu dương OI tức Cấn OOI, đất, núi.

Tương tự, theo duy dương ở ngành nọc (Chàng, lang), Đế Minh, Chàng Lửa thái dương Càn III lấy Nàng Nước thái âm Khôn OOO, di thể thái dương II của Đế Minh âm hóa thành thiếu dương OI nên đẻ ra Kì Dương Vương là Chàng I thiếu dương OI tức IOI, Li đất lửa, núi thế gian. Kì Dương Vương Chàng Thiếu Dương lấy Long Nữ Khảm OIO, di thể thiếu dương OI âm hóa thành thái âm OO nên đẻ ra Chàng I thái âm OO tức IOO, Chấn, nước-lủa sấm, nước dương biển…

Chàng Thái Âm Lạc Long Quân lấy Nàng Thái Dương  Âu Cơ, di thể thái âm OO của Lạc Long Quân dương hóa thành thiếu âm IO nên đẻ ra Tổ Hùng thế gian là bọc (O) trứng toàn con trai (I) tức 100 Chàng, Trăm Lang (I) thiếu âm IO tức Đoài IIO vũ trụ.

(còn tiếp).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: