CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE (6): DẤU NỌC MŨI MÁC

(*Nếu cần click hai lần để mở bài).

CHỮ NÒNG NỌC VÒNG TRÒN-QUE

(tiếp theo)

(kỳ 6)

Ngữ Pháp (Grammar) Của Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-Que.

Dấu Chữ Viết Nòng Nọc Vòng Tròn-Que: Dấu Nọc Mũi Mác.

Nguyễn Xuân Quang

-Dấu nọc mũi mác (mũi tên, mũi dao, mũi dùi, răng cưa, răng sói).

Hai nọc que kết hợp lại có thể tạo thành hình mũi mác (mũi tên, mũi dùi, răng cưa, răng sói), hình chữ V, chữ T, chữ thập, thước thợ, chữ X…

Nọc mũi mác là do hai nọc que kết hợp lại mà thành. Hai nọc que kà hai dương, lửa, thái dương (ở tầng lưỡng nghi).

Lưu ý

Xin nhắc lại ta đã biết nọc chấm (.) có nghĩa là nọc dương, lửa, mặt trời ở cõi vũ trụ, tạo hóa, sinh tạo.

Nọc que (I) do hai nọc chấm nối lại mà thành nbhĩa là ở tầng sinh tạo thứ hai, là nọc dương, lửa, mặt trời, ở tầng lưỡng nghi. Hai nọc que là hai dương là lửa (hai cây nọc dùi thành lửa), thái dương, mặt trời ở tầng lưỡng nghi.

Nọc hay dấu mũi mác là do hai nọc que hợp lại nên cũng có nghĩa là lửa, thái dương, mặt trời ở tầng lưỡng nghi. Tuy nhiên vì có mũi nhọn nên mang tính sinh động, năng động có hoạt lực (active force) cao trong quá trình tạo sinh. Ngày nay tính năng động này còn thấy qua hai từ “mũi dùi” như mũi dùi tấn công.

Một ví dụ điển hình cho thấy chữ hai nọc que ghép lại thành hình mũi mác, mũi tên có nghĩa như trên là trong The Da Vinci Code, Dan Brown cho rằng biểu tượng nọc mũi mác này là hình tượng nguyên thủy của đực, dương (original icon for male) gọi là blade (lưỡi sắc) và là dạng sơ khai của dương vật (“a rudimentary phallus”) (The Da Vinci Code và Chữ Nòng Nọc Trên Trống Đồng Đông Nam Á).

Dấu nọc mũi mác mang tất cả nghĩa của chữ nọc mũi mác.

.Dấu mũi mác (mũi tên, mũi dùi, răng cưa, răng sói (>).

Dấu nọc mũi tên mũi mác (^) thường nhỏ hơn chữ nọc mũi mác (/\).

Xin đưa ra vài ba ví dụ:

Dấu Nọc Mũi Mác Trên Trống Đồng

.Dấu Nọc Mũi Mác Trên Thú Vật Trên Trống Đồng

Trên trống đồng dấu nọc mũi mác mũi nhọn, hình răng sói này thấy viết trên người nhiều thú vật có nghĩa là đực, lửa, mặt trời, thái dương, ví dụ dấu (>) trên mõm hươu và ở mỏ các chim nông, cò… (xem hình chim nông ở kỳ 4).

clip_image002

Một con hươu có dấu nọc mũi nhọn răng sói, răng cưa trên mõm ở trên trống Ngọc Lũ I cho bíết đây là hươu dòng nọc, dương, mặt trời thái dương.

clip_image004

Dấu nọc mũi nhọn răng sói, răng cưa trên mỏ chim cho bíết đây là chim thuộc dòng nọc, dương, mặt trời thái dương.

Trống Hữu Chung có hình tượng cóc, vành hình thái sấm gầm, hình dóng sấm, búa thiên lôi và mặt trời có 12 nọc tia sáng là trống sấm mưa (Búa Thiên Lôi Trên Trống Đồng Nòng Nọc). Cò trên trống Hữu Chung vì thế là cò sấm mưa, cò Lạc, có vạc.

clip_image006

Cò mưa, cò sấm, cò Lạc trên trống Hữu Chung.

Ta thấy rất rõ trên cánh cò có hình sóng nước. Như thế trăm phần trăm con cò này là cò nước, cò mưa. Hai đầu cánh là hai hình móc câu nước thể điệu hóa tức hai nòng nước dương chuyển động (nước mưa). Trên mỗi đầu cánh có dấu nọc mũi mác. Như thế mỗi cánh diễn tả nước-lửa, mây-chớp, có một khuôn mặt là sấm. Con cò này là cò sấm mưa.

Chữ và Nọc Mũi Mác Dùng Lẫn Lộn

Ngoài ra nhiều khi nọc mũi mác này vừa dùng như một chữ hay một dấu (nhiều khi khó phân biệt được).

Ví dụ các thú vật có hình miệng, mõm, mỏ nhọn hình mũi mác cũng mang cùng một ý nghĩa của chữ và dấu mũi mác như mõm cá sấu, miệng cá, cóc trên trống đồng và mỏ tượng đồng chim sau đây:

                                                                                                                                                     clip_image008clip_image010clip_image012clip_image014

Những thú có mõm, mỏ nhọn trên trống đồng.

Chú ý trên người con cá có dấu (hay chữ) nọc que nằm ngang mang nghĩa nọc dương, xác định củng cố thếm cho nghĩa nọc mũi mác của mồm cá.

.Nhạc Cụ Nọc Mũi Mác Trên Trống Đồng

clip_image016

Những người nhẩy múa trên trống đồng Ngọc Lũ I.

Trên trống đồng âm dương Ngọc Lũ I, một số người của nhóm 7 và 6 người nhẩy múa cầm ở tay phải, dương những cặp phách để ở dạng hình nọc mũi mác có đỉnh chỉ thiên. Những phách này mang cùng nghĩa với linh trượng cây néo nọc mũi mác của Ai Cập cổ (xem dưới).

Những phách cầm ở tay phải dương này cho thấy những người này thuộc tộc mặt trời thái dương ngành nọc (xem chương Ý Nghĩa Hình Người Trên Trống Đồng).

.Linh ttrượng cây néo hình nọc mũi mác của Ai Cập cổ.

Ai Cập cổ có những linh trượng, quyền trượng (sceptres) mang trọn ý nghĩa của Vũ Trụ giáo: Âm Dương, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Tam Thế, sự Sống, Chết, Tái Sinh, Hằng Cửu… mà ngày nay các học giả về Ai Cập cổ chỉ hiểu là biểu tượng cho sức mạnh, quyền năng ví dụ như quyền trượng was biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, linh trượng ankh, sự sống, tái sinh, linh trượng cây néo đập lúa (flail), nọc, dương, thái dương, (lửa, mặt trời, núi tháp……), linh trượng móc vòng tròn (crook) gió và linh trượng hình trụ Djed biểu tượng cho Trụ Thế Gian,Trục Thế Giới… (xem chương Biểu Tượng, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á).

Thật vậy linh trượng cây néo đập lúa gấp lại thành hình nọc nhọn mũi mác.

clip_image018

Hình Anubis với linh trượng sekhem và linh trượng hình néo (mộ Ramesses III. Thebes, Triều đại XX).

Ta thấy rất rõ phần đầu gấp lại của mũi mác mang dương tính gồm có ba thanh nhọn đầu tức ba nọc, ba dương, Càn, lửa vũ trụ, trên các thanh này có phụ đề những dấu nọc mũi mác chỉ thiên để nhấn mạnh thêm, để xác thực nghĩa nọc, dương. Cây néo này để đỉnh chỉ thiên cũng nhấn mạnh tính nọc, dương tính.

.Thần Min-Amen của Ai Cập cổ

Thần Min-Amen là vị thần biểu tượng cho hùng tính, nam tính (virility), là vị nam thần sinh dục, mắn sinh. Thầy này tương ứng với Thần Nõ của chúng ta.

Thường thường ta chỉ thấy nữ thần mắn sinh, đặc biệt Ai Cập cổ có vị thần mắn sinh nam giới, ông gieo giống tối đa.

clip_image021                            clip_image023

Tác giả đứng trước trụ cột có khắc Thần Nõ, Nam Thần Tình Dục, Mắn Sinh Min-Amen, ở Karnak, Luxor, Ai Cập.

Thần Min-Amen biểu tượng cho hùng tính, nam tính, sinh dục nam nên có nhiều chi tiết trên người thần biểu tượng cho nọc, dương. Trước hết là bộ phận sinh dục của thần ở dạng cương cứng, ở dạng nọc que sinh động. Thần chỉ có nửa người bên phải vì bên phải là chiều nọc, dương. Tay phải là tay dương và chỉ lên trời cũng là dương, (trong khi) tay chỉ xuống đất là âm như ta thấy Phật đản sinh có tay phải dương chỉ lên trời và tay trái âm chỉ xuống đất, ngài nói “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” (Trên trời, dưới thế gian duy chỉ có mình ta”). Trên bàn tay phải của thần này có úp một cây néo (flail) hình mũi mác dùng làm chữ hay dấu nọc mũi mác mang nghĩa nọc dương sinh động. Nọc néo mũi mác có đỉnh nhọn chĩ lên trời mang dương tính.

Tính nọc, dương sinh động của nọc mũi mác của cây néo được xác thực bởi tất cả các chi tiết nọc, dương khác ở đây.

.Những người đầu nhọn hình mũi mác.

Những người đầu nhọn hình mũi mác trong tác phẩm L’art des Steppes của Kart Jettmar cũng mang nghĩa này. Tác giả cho đây là các vị thần.

clip_image025

Hình người nhọn đầu trong trong tác phẩm L’art des Steppes của Kart Jettmar.

Theo tôi đây là những Người Mặt Trời thái dương đúng như ý nghĩa của chữ/dấu mũi mác. Sự hiện diện của hình hươu, thú biểu của Cõi Giữa thế gian. Hươu đực con người đầu tiên của loài người (Kì Dương Vương Lộc Tục) ở phía tay phải, phía dương cùng một vành của người nhọn đầu mũi lao xác định đây là những Người Mặt Trời. Bên trái của nhóm người có một con thú bốn chân có mõm nhọn hình mũi mác cho biết đây là con thú thái dương nhưng không có sừng biểu tượng cho vùng đất âm. Vành chủ chốt ở tâm có con dê đực rất lớn biểu tượng cho Cõi Trên ngành đất dương, biểu tượng cho mặt trời thế gian (Hán ngữ yáng, Hán Việt dương là dê và cũng có nghĩa là đực, mặt trời, người Ai Cập cổ có thần Dê biểu tượng cho mặt trời, xem yáng ở dưới). Phía sau có hình con bò mộng có sừng biểu tượng cho đất Cõi Giữa (ta thấy rõ qua con bò mộng nandi của thần Shiva, có một khuôn mặt biểu tượng cho Cõi Đất Thế Gian. Thần Shiva là Trụ Lửa “Pillar of Fire”, có biểu tượng Linga hình trụ giống như thần Đất Geb của Ai Cập cổ cũng có dương vật vươn tới vòm trời là do thân của nữ thần Nut uốn cong lại, thần Shiva sinh ra từ Núi Trụ Thế Gian Kailash ở Hy Mã Lạp Sơn. Ta cũng thấy theo s = sh= k, ta có Shi- = Kì (cây, cọc, c…c, ), rõ như “con cua tám cẳng hai càng, một mai hai mắt rõ ràng con cua” là Thần Shiva có Shi-, có kì có c…c, gọi theo tiếng Ấn, tiếng Phạn là linga. Chúng ta có núi Kì = núi Trụ Thế Gian và Kì Dương Vương, vua tổ thế gian của Đại Tộc Việt… (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Ở dưới có hình con rắn uốn khúc hình sóng biểu tượng cho nước Cõi Dưới. Như thế ta thấy rất rõ vòng tròn tâm biểu tượng Tam Thế của dòng nọc dương (dê). Tam Thế sinh ra sự sống trong đó có con người được diễn tả ở vành ngoài. Hiển nhiên những người đầu nhọn hình mũi lao thái dương này là những người mặt trời thái dương. Điều này thấy rõ qua sự kiện là người Inca thờ mặt trời có tục bó đầu trẻ em sơ sinh cho đầu dài nhọn ra mang ý nghĩa người mặt trời (ở Nazca Peru, người ta đào tìm được các xác ướp có đầu bó nhọn giống như đầu những người ngoài trái đất thấy trong các phim khoa học giả tưởng, vì thế cho nên có tác giả cho rằng các hình vẽ bí mật trên mặt đất gọi là Nazca lines là do người từ hành tinh khác xuống vẽ). Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ta thấy đây là Người Mặt Trời Xích Quỉ của Kì Dương Vương (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt).

.Hán ngữ yáng, dương

Hán ngữ yáng, Hán Việt dương là con dê đực (ram) biểu tượng cho nọc, đực, dương, mặt trời (Ai Cập cổ dê biểu tượng cho thần mặt trời) có tất cả ý nghĩa của chữ hay dấu nọc mũi mác.

clip_image027

Hán ngữ yáng (Wang Hongyuan).

Ta thấy rất rõ dê đực trong giáp cốt văn diễn tả bằng cặp sừng là hai nọc mũi mác.

Xin lưu tâm

.Dấu và chữ nọc mũi mác khi viết to bằng nhau nhiều khi khó phân biệt.

.Dấu (cũng như chữ) nọc mũi mác ngoài mang nghĩa chung là nọc sinh động (nọc, dương, mặt trời, bộ phận sinh dục nam…) còn phải hiểu theo Dịch là ngoài nghĩa tổng quát đó ra còn phải hiểu theo các khuôn mặt khác của Dịch là:

-dương của dương là thái dương, siêu dương tức Càn (lửa vũ trụ) trong trường hợp này nọc mũi mác có thể để đầu chỉ địa diễn tả ánh sáng từ mặt trời chiếu xuống như thấy nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn (cần phân biệt với dấu chữ V).

-âm của dương là thiếu dương, Li (lửa, đất dương thế gian) trong trường hợp này nọc mũi mác thường có đầu chỉ thiên diễn tả núi lửa, núi dương nhọn đầu, núi tháp nhọn. Vì dấu (hay chữ) diễn tả núi dương Li này thường để trên một mặt bằng đất thế gian nên nhiều khi mang hình ảnh hay lẫn với hình tam giác chỉ thiên, hình chữ delta mang hình ảnh của một mặt hay thiết diện đứng của kim tự tháp. Cần phải phân biệt với dấu hay chữ tam giác do ba nọc que kết hợp lại (xem dưới).

Vì vậy cần phải dựa vào các chi tiết khác để lấy đúng nghĩa của dấu nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói).

.Dấu nọc mũi mác mang nghĩa nọc, dương, thái dương, mặt trời… này thấy rất nhiều trên trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn vì trống có khuôn mặt chủ là trống (đực) và luôn luôn có mặt trời ở tâm trống (đực, dương là mặt trời) như thấy ở các loài chim thú và các biểu tượng khác.

Những Thể Biến Dạng Của Dấu, Nọc Mũi Mác

Những dấu nọc mũi mác đôi khi cũng giống như chữ nọc mũi mác biến đổi ở dưới các dạnh hình khác.

Hình tam giác.

Dấu hay chữ tam giác có thể coi như là một biến dạng của dấu hay chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).

Xin nhắc lại dấu hay chữ tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) này đã có từ hàng ngàn năm nay mà ngày nay vẫn còn thấy hàng ngày trước mắt là tấm bảng hiệu hình tam giác chỉ phòng vệ sinh phái nam (nọc, dương, đực…) thường thấy ở Hoa Kỳ và một số quốc gia khác (Hai Chữ Nòng Nọc Còn Thấy Trước Mắt Hàng Ngày).

clip_image028

Bảng hiệu phòng vệ sinh hình tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) chỉ phái nam.

Nếu là hình tam giác thường thì có nhiều triển vọng là còn giữ nguyên nghĩa của nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) vì trong trường hợp tam giác thường này thì cạnh đáy có thể coi như là một gạch nối mà không cộng thêm dương tính vào. Dạng này có thể thấy nhiều ở trường hợp nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) dùng dưới dạng hình núi tháp, hình delta để chỉ lửa thế gian Li.

Dạng thứ hai là dạng tam giác đều do ba nọc mũi mác chồng lên nhau. Trong trường hợp này hình tam giác đều dùng như một dầu có nghĩa là ba nọc lửa vũ trụ, thái dương, mặt trời sinh động Càn.

Hãy lấy một ví dụ về dấu tam giác này: con cò bay trên trống Phú Xuyên.

Cò có mỏ dài rất thẳng mang dương tính nghiêng về cò lửa.

clip_image030

Hình cò bay trên trống Phú Xuyên ở giữa cánh có tên viết bằng dấu hình tam giác.

Trong mỏ có đánh dấu hay viết chữ nọc que cho biết cò có một khuôn mặt nọc, dương lửa. Bờm hình tam giác, nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có một nghĩa là nọc, lửa, thái dương. Con cò mang tính lửa thái dương.

Ở giữa cánh có tên viết bằng dấu (ở đây tam giác nhỏ nên nghiêng hẳn về dấu hơn là chữ) hình tam giác có nghĩa là nọc, dương, phái nam, lửa đất thế gian Li, lửa vũ trụ, thái dương, Càn.

Trống Phú Xuyên có hính hươu sủa là trống biểu của ngành nọc lửa mặt trời với khuôn mặt Lửa thế gian, mặt trời thiên đỉnh trên Trục Thế Giới mang tính chủ.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt là trống biểu của ngành nọc mặt trời thái dương Viêm Đế có khuôn mặt chủ là Kì Dương Vương (xem Trống Kì Việt Phú Xuyên).

Như thế dấu hình tam giác có thể có khuôn mặt là hình thiết diện của núi tháp biểu tượng cho lửa thế gian Li. Con có này có khuôn mặt mang tính chủ là cò lửa thế gian Li, cò núi.

(xem dấu hình tam giác ở số tới).

Hình chữ vạn

Chữ vạn cũng được dùng làm một dấu.

Chữ vạn là một biểu tượng hết sức cổ thấy từ thời Cổ Thạch sau đó thấy trong mọi nền văn hóa với ý nghĩa khác nhau.

Trong Ấn giáo là biểu tượng cho của sự ban ơn, phù trợ của thượng đế, trong vài giáo phái mang nghĩa may mắn liên hệ với thần Ganesha. Trong nền văn minh Indus Valley (2.500 TTL) có một nghĩa là mặt trời. Trong tôn giáo Zoroastrian của Persian, chữ vạn biểu tượng cho mặt trời vận hành, sinh tạo, vô cựctạo hóa khôn cùng. Chữ vạn dùng trong Phật giáo từ thế kỷ thứ 3 Trước Tây Lịch vào thời đế quốc Maurya. Đức Phật sinh ra có chữ vạn trên ngực. Như thế hiểu theo nghĩa nguyên thủy của chữ vạn thì

Đức Phật là mặt trời, là lửa thái dương, là đấng sinh tạo, tạo hóa. Hiểu theo Ấn giáo là phù trợ, may mắn. Ngày nay chữ vạn trong Phật giáo có nghĩa là điềm lành, an lạc. Theo Phật giáo chữ vạn truyền đi khắp nơi. Ở Phật giáo mật tông Tây Tạng gọi là yungdrung biểu tượng cho vĩnh cửu, vĩnh hằng. Ở Trung Hoa swastika phát âm theo giọng Bắc Kinh là wàn, Nhật là manji (man tự), Đại Hàn man, Việt Nam là vạn (đồng nghĩa với 10.000). Với nghĩa rộng màn vạn (trong mạt chược con bài vạn cũng gọi là con màn) là muôn vàn (màn biến âm với muôn), hằng hà sa số (myriad) cũng hàm nghĩa tất cả, vĩnh cửu… trong Đạo Đức Kinh dùng chỉ tất cả vũ trụ, ‘muôn vàn thứ’. Đời Đường swastika dùng như một biểu tượng cho mặt trời. Davidson đưa ra nhiều ví dụ về biểu tượng swastica thấy ở các mồ mả Anglosaxon trong thời tiền-Thiên chúa giáo đặc biệt ở các tiểu mai táng (funeral urns) đựng tro than người chết ở các nghĩa trang Đông Anglia. Theo ông chúng phải có những ý nghĩa dùng làm biểu tượng cho mai táng (theo tôi có nghĩa liên hệ với sinh tử, tái sinh, vĩnh cửu của Vũ Trụ giáo).

Trong các chữ khắc Runic cho thấy swastika là biểu tượng của thần sấm Thor trong tín ngưỡn Norse thời tiền-Thiên Chúa giáo. Sấm có một khuôn mặt sinh tạo, tạo hóa, bảo vệ, trừ khử ác tà. Trong Thiên Chúa giáo, swastika dùng như một hình thức thánh giá bẻ cong, biểu tượng cho sự chiến thắng của đấng Christ vượt qua nỗi chết (hàm nghĩa phục sinh, tái sinh)

Ở Nam Á swastica ngày nay là biểu tượng cho giầu sang và may mắn…

Chữ vạn nghiêng của Đức Quốc Xã dùng với nghĩa hoàn toàn khác là biểu tượng cho sự siêu đảng của giống người da trắng, của Nazi… (Wikipedia).

Trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que của Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, Dịch thì chữ vạn vuông có góc cạnh có 4 tay là bốn nọc mũi mác có hình chữ gamma Γ. Như thế chữ vạn vuông góc có tất cả ýnghĩa của nọc nọc mũi mác (mũi tên, răng cưa, răng sói) nhưng ở đây có một khuôn mặt tạo, sinh động, sinh tác ở tầng tứ tượng.

Ta cũng thấy rõ chữ vạn có thể phát gốc từ hai nọc que thẳng góc với nhau thành hình chữ thập. Hai nọc là hai dương là lửa, thái dương, mặt trời.

Kiểm chứng lại ta cũng thấy chữ thập có một khuôn mặt là dấu cộng (+), dấu dương (phản ứng cộng là phản ứng dương). Dương có một nghĩa là mặt trời, lửa thái dương.

Như thế trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chữ vạn gồm có 4 tay hình nọc nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) hiểu theo nghĩa của 4 nọc mũi mác ghép lại hay hiểu theo chữ thập dấu cộng chuyển động xoáy tạo thành thì cũng có nghĩa là lửa, mặt trời mang tính tứ phương, tứ tượng hay Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính (Four Great Primary Forces) ở dạng vận hành, chuyển động, sinh động tức tứ hành của ngành nọc lửa dương.

Xin đưa ra làm vídụ một dạng chữ thập chuyển vận khởi đầu biến thành chữ vạn thấy trong văn hóa cổ Mễ Tây Cơ (thạch bài số 1231) mà James`Churchward đã đề cập tới trong The Sacred Symbols of Mu (Biểu Tượng Thiêng Liêng của Mu). Mu là lục địa Đất Mẹ ngày xưa nối liền với Đông Nam Á mà ông cho là có một nền văn minh huy hoàng có thể là nguồn cuội cùa văn minh loài người (gần đây Steven Oppenheimer cho đây là vùng Sunda Lands trong Địa Đàng ở Phương Đông).

clip_image032

Chữ vạn nguyên khởi sinh ra từ chữ thập dấu cộng là

Bốn Nguyên Sinh Động Lực Lớn (ứng với Tứ Tượng), là những hóa công thực thi lệnh của Tạo Hóa trong qui trình Sáng Thế.

Cần phân biệt chữ vạn với dạng có cánh tay cong tròn có thể mang âm tính.

Chữ vạn vuông nọc mũi mác lại chia ra làm hai loại.

một loại phải (dương, mặt trời mang nọc dương mang tính chủ và một loại trái (âm, không gian mang tính chủ).

Chữ vạn trái có cánh tay nằm ngang trên có đầu tận cùng

chỉ về phía tay trái có mấu nhọn khủy tay quay về tay phải. Khi chuyển vận trong qui trình sinh tạo, mấu nhọn khuỷu tay quay theo chiều kim đồng hồ (nên nhớ mũi nhọn là phần chủ yếu của nọc mũi mác), theo chiều không gian nòng âm. Đây là chữ vạn thấy trong Phật giáo. Phật giáo là tôn giáo mang tính tĩnh, âm nghiêng về vũ trụ phía Vũ nòng, âm, không gian của vũ trụ. Cấu trúc của các nơi thờ tự Phật giáo, các tu sĩ Phật giáo khi làm lễ, nhang vòng đốt cháy đều theo chiều kim đồng hồ này…

Hãy lấy một ví dụ chữ vạn dùng làm dấu trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que.

Mới đây ở Đền Hùng ở Phú Thọ có người mới khám phá

có một tảng đá bùa để ở Đền Thượng. Phần bùa ở mặt sau phần lớn có các hình học như hình tam giác, hình vuông, hình thang. Ở đỉnh và trên cạnh những hình này có các hình vòng tròn nhỏ trong có hình chữ vạn. Và cũng có các chữ vạn đứng riêng rẽ.

clip_image034

Mặt sau của tảng bùa ở Đền Hùng, Phú Thọ.

Chữ vạn này có cánh tay nằm ngang trên có đầu tần cùng

chỉ về phía tay trái có mấu nhọn khủy tay quay về tay phải. Đây là chữ vạn thấy trong Phật giáo.

Trong Vũ Trụ giáo chữ vạn với nghĩa Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính bao gồm tất cả các ý nghĩa sinh tạo, tạo hóa, mặt trời, không gian sinh tạo, sinh tử, tái sinh, hằng cửu, phồn thịnh, may mắn… Như đã thấy ở trên, mỗi nền văn hóa, văn minh thế giới lấy một ý nghĩa của chữ vạn theo một góc cạnh của Vũ Trụ giáo.

Tóm lại tôi phải viết dài dòng về chữ vạn để cho thấy trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que chữ vạn có gốc nguyên thủy là lửa, mặt trời, thái dương, tứ hành sinh tạo, khuôn mặt sinh tạo sinh động chính trong Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Chữ vạn trong các tín ngưỡng sau này với nghĩa

ban ơn, phù trợ của thượng đế, an bình, an lạc, may mắn,muôn vàn, sung mãn, giầu sang, phú quí, quyền lực, sức mạnh siêu đẳng, bá quyền, bá chủ cả loài người (theo quan niệm Đức Quốc Xã), tái sinh, vĩnh cửu, vĩnh hằng.. đều nằm trong ý nghĩa của chữ vạn trong Vũ Trụ giáo.

Tất cả những ý nghĩa của chữ vạn dùng trong tín ngưỡng đem áp dụng vào bùa ở đây đều thích hợp. Nhưng riêng ở đây, trường hợp chữ vạn được dùng như một dấu thường có nghĩa gốc là lửa, mặt trời ở cõi sinh tạo tứ tượng.

Ở đây vòng tròn đĩa tròn có một khuôn mặt là mặt trời tạo hóa nhưng trong có đánh dấu chữ vạn cho thấy đây là mặt trời sinh tạo sinh động ở cõi tứ tượng. Bốn mặt trời ở bốn đỏnh hình chữ nhật (đúng hơn là hình vuông) là 4 mặt trời tứp hương và mặt trời đứng riêng ở ngoài là mặt trời vũ trụ. Nếu nhìn dưới diện lưỡng hợp nòng nọc, âm dương thì hình chữ nhật là một biến dạng thiếu dương thế gian của nòng vòng tròn O không gian của ngành lửa thái dương vì có đánh dấu bằng hình không gian vòng tròn có chữ vạn thái dương và hình vòng tròn có chữ vạn riêng rẽ là mặt trời sinh tạo tứ tượng. Gộp lại ta có lưỡng hợp đại vũ trụ.

Ở vùng tứ tượng ta thấy rất rõ:

clip_image035

Phần diễn tả tứ tượng, tứ hành.

Phần này có bốn chữ viết nòng nọc vòng tròn-que:

.Chữ bên trái ở trên là chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình nọc tam giác chỉ thiên với nghĩa của dấu chữ vạn hiểu theo nghĩa là lửa thì chữ tam giác có nghĩa là núi lửa hình tháp.

clip_image036

Núi tháp Lửa biểu tượng cho Núi Trụ Thế Gian ứng với tượng lửa đất thế gian Li.

.Chữ bên trái ở dưới hình vòng tròn có các nọc tia sáng tam giác là mặt trời thái dương.

clip_image037

Bên trong lại có đánh dấu thêm dấu chữ vạn cho biết rõ thêm mặt trời là mặt trời thái dương, lửa vũ trụ Càn ở tầng sinh tạo tứ tượng.

.Chữ ở giữa là chữ hai vòng tròn nòng OO nối với nhau bằng một chữ nọc que ngang mang hình ảnh một gánh nước tức quẻ Khảm.

clip_image038

Nhưng ở đây trong nòng O có đánh dấu chữ vạn lửa, thái dương nên nước ở đây là nước-lửa, nước thái dương ứng với Chấn.

.Chữ cuối bên phải là chữ nòng tròn O biểu tượng cho không gian. Bao quanh bên ngoài không gian có đánh dấu bằng vòng tròn dấu chấm nọc lửa, dương nguyên tạo nên chữ này mang nghĩa không gian dương, thái dương tức Khôn dương, Đoài vũ trụ khí gió.

clip_image039

Như thế 4 chữ viết nòng nọc vòng tròn-que này diễn tả tứ tượng Lửa thế gian thiếu dương Li, Lửa vũ trụ thái dương Càn, Nước thái âm ngành thái dương Chấn và Gió thiếu âm Đoài vũ trụ của ngành nọc dương mặt trời thái dương mang

tính sinh tạo ở tầng tứ tượng.

……

Dấu Nọc Chữ V

Dấu, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que hình chữ V ngược với dấu, chữ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) vì thế suy ra có những ý nghĩa ngược với chữ, dấu nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (xem dưới).

Kết Luận

Dấu nọc mũi mác do hai nọc que ghép lại nên cũng có cùng nghĩa với dấu hai nọc que nhưng vì ghép dưới dạng có mũi nhọn nên có thêm tính sinh động, sinh tác. Dấu nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) có thể ở dưới dạng biến thể là hình tam giác. Có thể ghép các nọc mũi mác lại theo nhiều dạng dấu khác như dấu tam giác đều, dấu chữ thập-dấu cộng, dấu chữ vạn… có cùng gốc nghĩa là lửa, mặt trời, thái dương nhưng có tính sinh tạo sinh động ở các từng khác nhau trong qui trình Vũ Trụ Tạo Sinh.

(còn nữa)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: