SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VIỆT và ĐẢO BALI, NAM DƯƠNG

TƯƠNG ĐỒNG VIỆT-ĐẢO BALI

QUA CẤU TRÚC MỘT NGÔI ĐỀN BALI,

NAM DƯƠNG.

Nguyễn Xuân Quang

Về văn hóa, Bali là một hòn đảo đặc biệt của Nam Dương. Bali cũng như nhiều đảo khác của Nam Dương liên hệ ruột thịt với cổ Việt nói riêng và với Bách Việt nói chung. Sự liên hệ này đã được chứng minh qua nhiều địa hạt, qua khảo cứu đa ngành. Xin kể ra một vài điểm chính yếu:

.Cổ học: Ba Li nằm trong vùng Đất Sunda Nhỏ (Lesser Sunda Land) ngày xưa nối liền với lục địa Đông Nam Á . James Churchwards đã chứng minh có một lục địa Đất Mẹ (MotherLand) tên là Lục Địa Mu Continent of Mu (Mu chính là Việt ngữ Mụ là Mẹ) bao gồm vùng đất Nam Hải nối với Đông Nam Á. Nơi đây có một nền văn minh huy hoàng mà ông cho là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Gần đây Stenven Oppenheimer cũng chứng minh vùng Sundaland (gồm Lớn và Nhỏ) ở Nam Dương và lân cận cũng nối liền với Đông Nam Á và có một nền văn hóa huy hoàng được coi là nguồn cội của văn minh nhân loại (Địa Đàng ở Phương Đông).

Cổ học cũng tìm đào được nhiều sọ người Nam Đảo, Hắc Đảo (Melanesia) ở Bắc Việt Nam và chứng minh rằng Lạc Việt hợp chủng tộc liên bang Văn Lang Hùng Vương bao gồm cả các tộc và văn hóa Nam Đảo, Hắc Đảo.

.Ngôn ngữ học: Nam Dương ngữ liên hệ ruột thịt với Việt ngữ. Tiếng Việt hiện nay là tiếng Lạc Việt hợp chủng tộc có gốc Môn Khme thuộc nhánh Nam Á tức Lạc Việt nguyên thủy ở Lĩnh Nam. Tiếng này coi như là gốc, thân cây của tiếng Việt hiện tại. Cây ngôn ngữ Việt này có hai cành: một cành là tiếng Tầy Thái (Tai Kadai) tôi gọi là tiếng Lạc Việt Núi và cành tiếng Nam Đảo tôi gọi tiếng Lạc Việt Biển.

.Di truyền học: dân Nam Dương có DNA giống dân Đông Nam Á trong đó có cổ Việt (cùng có Mitochondrial DNA Haloptype B cũng như sự thất thoát của các cặp cơ bản số 9 giữa hai thể di truyền CO II tRNA LYS).

.Khảo cổ học tìm thấy nhiều cổ vật liên hệ giữa Nam Dương và Việt Nam ví dụ đồ đồng có văn hóa Đông Sơn tìm thấy tại Nam Dương như những loại rìu Roti, các trống đồng Đông Sơn. Tại Bali có trống của Đông Sơn xuất xứ từ Việt Nam mang xuống hay làm tại chỗ mang sắc thái Nam Dương, tại Bali có thêm một loại trống đặc biệt thuộc đại tộc Đông Sơn mà không một quốc gia nào khác có là trống Trăng Bali, Pegeng (xem Trống của Đại Tộc Đông Sơn Mang Sắc Thái Nam Dương và Trống Pejeng).

.Động-Thực Vật Học cho thấy ở Nam Dương nói chung và ở Bali nói riêng có nhiều giống cùng loại thấy ở Đông Nam Á ví dụ như cọp Bali giống cọp Đông Nam Á tuy nhỏ con hơn (ngày nay đã tuyệt chủng, hình ảnh của loài cọp này còn thấy khắc trên trống đồng Nam Dương).

Vân vân…

Như thế văn hóa cổ Bali nói riêng có cùng chung những nét với văn hóa cổ Việt là chuyện tất nhiên.

Sau này Ấn giáo tràn xuống Bali qua các thương nhân. Hơn chín mươi phần trăm dân Bali ngày nay theo Ấn giáo. Vì vậy cốt lõi của văn hóa Bali hiện nay là Ấn giáo pha trộn với văn hóa nguyên thủy bản địa Bách Việt vùng biển. Cốt lõi văn hóa Bali là Ấn giáo trộn với thần giáo, bái giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Vũ Trụ giáo của Bách Việt cổ. Cũng vì vậy mà Ấn giáo Bali có những sắc thái riêng khác hẳn với Ấn giáo ở Ấn-Độ. Vũ Trụ giáo trong Ấn giáo pha mầu với Vũ Trụ giáo của Bách Việt tạo thành những cung bậc, sắc giai mầu sắc tuyệt vời. Với sự pha trộn hài hòa này, con người Bali hàng ngày sống với các thần linh cõi trên, với con người thế phàm cõi giữa và với quỉ thần cõi dưới, cõi âm. Người Bali sống ở ba cõi thiên đường, trần thế và âm ty Ấn-Việt cùng một lúc. Văn hóa Bali tuyệt vời này đã thu hút hàng năm 8 triệu du khách trong và ngoài nước.

Một trong những nét tiêu biểu của văn hóa Bali là những đền đài Bali với cấu trúc đặc thù hết sức thần kỳ. Hiểu được kiến trúc các đền đài Bali là ta nắm vững được một phần chính yếu của cốt lõi văn hóa Bali và ta thấy rõ được sự tương đồng giữa văn hóa Việt và Bali.

Bali là đảo ngàn đền. Mỗi làng có vài ngôi đền. Mỗi nhà ít nhất có một đền nhỏ. Tất cả các ngôi đền hoặc hướng lên núi kala (theo k = v như kẻ = vẽ, ka = về, hướng về và -la là lả, là lửa, núi) hoặc hướng xuống biển kelod (, ke- = về, về phía và -lod là lạc, nác, nước, biển). Đây là chứng tích của văn hóa lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, lên non xuống biển của Việt Nam nói riêng và của Bách Việt nói chung. Hướng lên núi kala là hướng quan trọng nhất. Đây là hướng Lửa ngành nọc mặt trời Lửa ứng với Viêm Đế-Kì Dương Vương có khuôn mặt nữ là Âu Cơ. Hướng xuống biển thường cho là phụ. Mặc dù hướng xuống biển nhưng đền vẫn phải quay về phía mặt trời mọc. Đây là hướng nước ngành nọc mặt trời nước Thần Nông-Lạc Long Quân thái dương.

Trong mỗi làng có ba loại đền chính. Đền Tổ (Pura Puseh ; Puseh có Pu- là bố, phụ) quan trọng nhất do các vị thuộc ngành sáng lập làng đảm trách ở phía đầu làng hướng về núi tức kala của làng. Ở cuối làng hướng về biển tức kelod là đền của người chết (Pura Dalem), nơi đây cũng có nghĩa trang. Đền này liên hệ với Durga, khuôn mặt tàn ác của vợ thần Shiva là Parvati. Thần Shiva và Parvati có hai khuôn mặt sáng tạo và hủy diệt vì thế được thờ ở Đền Dalem này.

Ở giữa làng có Đền Thánh Thần (Pura Desa) phù hộ cho dân làng trong cuộc sống hàng ngày.

Tổng quát ta thấy rất rõ nguyên lý lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên Rồng, Núi Biển của các ngôi đền trong một làng Bali. Lệ làng còn giữ văn hóa Bách Việt. Đền hướng núi thuộc chim Âu Cơ. Đền hướng biển thuộc rắn Lạc Long Quân.

Ngoài ra ba ngôi đền trong một làng cũng cho thấy liên hệ ruột thịt với Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo. Đền đầu làng hướng núi kala ứng với thờ thượng thế, đền giữa làng thờ thánh thần trung thế cõi giữa nhân gian và đền cuối làng hướng biển kelod thờ vong nhân và các khuôn mặt âm của Shiva và Parvati ứng với cõi âm hạ thế. Ta cũng thấy rõ đền cuối làng hướng biển thờ người chết cõi âm cũng ăn khớp với khuôn mặt cõi âm của Thần Biển Lạc Long Quân.

Giống như ở Bách Việt, Bali còn giữ các tín ngưỡng thờ phượng từ thượng cổ như thờ bái vật, thần vật, phồn thực… nên ở Bali còn có các điện nho nhỏ thờ các loại này.

Hãy khảo sát kiến trúc một ngôi đền tiêu biểu.

Xin lấy ngôi đền Kehen ở Bangli, Ubud làm ví dụ.

IMG_6103 Đền Kehen ở Bangli, Ubud, Bali (ảnh của tác giả).

Đền Kehen được xây vào thế kỷ 11 là ngôi đền lớn nhất và tinh xảo nhất ở phía đông Bali. Đền ở phía bắc Bangli và là đền quốc gia, quốc tổ (state temple) của vương quốc Bangli. Bangli có gốc là Bang giri với Bang là Đỏ. Bang ruột thịt với Việt ngữ bàng có nghĩa là đỏ như cây bàng là cây có lá đỏ (cây bàng lá đỏ, Trịnh Công Sơn). Giri là con gái, nàng, nường. Giri ruột thịt với Việt ngữ gái. Bangli có nghĩa là Nàng Đỏ. Dân Bangli hiện nay hiểu theo nghĩa Bangli chỉ Núi.

Tên của một vương quốc thì Nàng Đỏ phải mang một nghĩa cao đẹp liên hệ với vũ trụ quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng của Bangli. Nàng Đỏ phải liên hệ với mặt trời nữ. Việt Nam cũng có Nàng Đỏ Âu Cơ. Ta biết Âu là au là đỏ là lửa, là mặt trời. Cơ là cô, phái nữ. Hán Việt Cơ là “mỹ hiệu của đàn bà ví dụ Âu-cơ. Cũng đọc là ky” (Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển). Mẹ Tổ Âu Cơ có một khuôn mặt là Cô Đỏ, Nàng Đỏ. Âu Cơ Việt Nam là Nàng Lửa (Vụ Tiên là Nàng Nước, Thần Long là Nàng Gió và vợ Hùng Vương thứ nhất là Nàng Đất). Nàng Lửa là Nàng Đỏ (Âu biến âm với au là đỏ, hai má đỏ au), là Nàng Tỏ, là Nàng Mặt Trời, Thái dương thần nữ Việt Nam (Khai Quật Kho Tàng Cổ Sử Hừng Việt). Âu Cơ Nàng Lửa có khuôn mặt lửa núi thế gian Li âm. Khuôn mặt núi này thấy rõ qua sự kiện là Mẹ Tổ Âu Cơ dẫn 50 con lên núi. Khuôn mặt núi Cấn này hôn phối với khuôn mặt Chấn biển Lạc Long Quân.

Như thế Bangli Nàng Đỏ Núi tương ứng với Âu Cơ cũng có nghĩa là Cô Đỏ, Nàng Đỏ có một khuôn mặt Núi. Vương quốc Bangli liên hệ với  Âu Tầy, Âu Việt phía Nàng Đỏ Núi Âu Cơ. Bangli là một thứ Âu Việt, Âu Lạc ở biển, ở hải đảo.

Đền được coi là đền thu nhỏ của đền Besakih. Tên Kehen phát gốc từ Keren có nghĩa là ngọn lửa (Keren làm liên tưởng tới dầu kerosen đốt lửa) vì thế ngày xưa gọi là đền Thần Lửa Hyang Api (God of Fire). Từ Ke- ruột thịt với Việt ngữ Kẻ, Kì có một nghĩa là cọc, lửa, Núi Trụ Thế Gian. Kì Dương Vương là vua Núi Trụ Thế Gian, lửa đất thế gian Li có một khuôn mặt tương đương với núi Meru của Ấn giáo và Phật giáo. Con dân của Kì Dương Vương là Xích Quỉ tức Kẻ Đỏ, Người Mặt Trời. Kì Dương Vương đội lốt Viêm Đế. Viêm Đế tương đương với Brahma của Ấn giáo. Viêm Đế cũng lưỡng tính phái có khuôn mặt âm là Thần Nông. Vì thế mà Viêm Đế có hiệu là Thần Nông (ở ngành âm thì ngược lại, Thần Nông có hiệu là Viêm Đế).

Đền Kehen thờ ba vị thần tối cao của truyền thuyết sáng thế Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu. Đền mang ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử Việt, ba vị thần sáng thế của Việt Mường là Đá Cần, Đá Cài và nàng Kịt. Đá Cần là thần Cọc đứng (như cần câu) biểu tượng cho nọc Lửa vũ trụ tức Càn ứng với khuôn mặt Càn của Brahma. Đá Cài là nọc ngang như cọc cài cửa biểu tượng cho nọc Lửa đất bằng thế gian Li ứng với khuôn mặt nọc lửa của Shiva và Nàng Kịt là khuôn mặt thần nữ, âm, nước ứng với khuôn mặt âm, nước của Vishnu.

Theo tên đền như vậy nên đền có khuôn mặt thờ thần lửa vũ trụ Càn của đấng tạo hóa Brahma mang tính chủ. Đấng tạo hóa Brahma trong Ấn giáo lưỡng tính phái nòng nọc, âm dương. Ở đền này thờ thần lửa là khuôn mặt dương, lửa vũ trụ Càn của thần Brahma mang tính chủ.

Đền xây trên một ngọn đồi mang hình ảnh của núi Meru. Như đã biết núi Meru có một khuôn mặt là Núi Trụ Thế Gian, Núi Thế Gian Đất Lửa hình kim tự tháp diễn tả bằng chữ viết nòng nọc vòng tròn-que là chữ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (cũng ở dưới dạng hình tám giác và trong không gian ba chiều là hình kim tự tháp) mang dương tính, lửa, mặt trời, Càn. Ta cũng thấy rõ Anh ngữ pyramid có gốc pyro- là lửa. Đền có hình đồi mang hình ảnh núi Meru kim tự tháp ăn khớp trăm phần trăm với sự thờ phượng vị Thần Lửa Brahman.

Bố cục đền làm theo Tam Thế.

Bố cục đền làm theo Tam Thế gồm có ba tầng sân có vòng thành có khắc chạm các tượng, hình và nối với nhau bằng các bậc tam cấp đi qua các cổng nhỏ khắc chạm tinh vi.

Từ chân đồi phải leo lên các bậc thang vào đền bằng ba cửa. Chiếc cửa chính chỉ mở vào dịp lễ lạc và dành cho các quan chức dùng. Bình thường dùng hai cổng phụ hai bên.

clip_image002

Một cổng phụ (ảnh của tác giả).

Cổng phụ cũng được chạm khắc trang trí rất tinh vi theo những motifs tín ngưỡng tùy theo đặc tính riêng của mỗi đền. Cổng phụ mang cấu trúc của các cổng chẻ đôi (split gates). Những cổng chẻ đôi này có hình dạng một ngọn núi nhọn đầu có lẽ mang hình ảnh của núi Meru. Tôi gọi là cổng núi chẻ đôi.

clip_image004

Cổng núi chẻ đôi mở vào trung thế.

Mặt trong của hai bên trụ cổng rất bằng phẳng và láng bóng không có trang trí khiến ta có cảm giác như trái núi bị một nhát chém của lưỡi gươm thần chẻ núi ra làm đôi tạo ra cổng. Khoảng hở của cổng là lối vào. Như đã biết núi Meru có Trục Thế Giới là đường thông thương ba cõi Tam Thế. Khoảng hở của cổng giữa hai nửa núi chính là hình ảnh của Trục Thế Giới. Đứng trước cổng ta có cảm tưởng Núi Trụ Thế Gian tách mở ra làm hai để hiện ra Trục Thế Giới. Bước qua cổng Trục Thế Giới này là bước vào thế giới linh thiêng của Tam Thế. Người Bali phải ăn mặc và hành sử đúng theo qui luật tín ngưỡng. Du khách phái nữ không được mặc áo ngắn tay, hở ngực và phải quấn sarong. Phái nam phải quấn dây lưng.

Đường lên cổng chính là một cầu thang có 38 bậc cấp .

Hai bên cầu thang là các hình tượng tạc theo phong cách các vị thần trong tuồng bóng (Việt Nam hiện nay gọi là Rối Bóng) wayang dựa theo truyện truyền kỳ Ramayana. Trong các tượng này có một pho tượng ông cả, ông tiên chỉ  làng dùng để đón chào khách thăm viếng.

IMG_6107Tượng ông cả làng đón chào khách thăm viếng (ảnh của tác giả). Lưu ý dân Nàng Đỏ Bangli đàn ông cũng quấn khăn như người cổ Âu Lạc Việt. 

Cổng là một tác phẩm điêu khắc tuyệt trần. Ở giữa trên cao có hình mặt lạ kala makara (makara có mak- là mặt), con của Shiva biểu tượng cho quỉ thần để canh gác đền.

Hạ Thế

Bước qua ba cổng này coi như bước vào thế giới thiêng liêng của thần linh. Tầng sân ngay sau cổng chính và hai cổng phụ là hạ thế.

Nơi đây thờ phượng các thần linh cõi nhân gian và là nơi có các sinh hoạt nhân sinh như hội hè, đình đám, ca vũ nhạc kịch. Đập ngay vào mắt là một cây đa cổ thụ già hơn 700 năm được coi là một cây thiêng liêng trong văn hóa Bali. Ở trên cao của cây có “lầu trống” để hai cái trống lớn

clip_image006
Lầu trống có hai chiếc trống mõ quấn sarong vàng (ảnh của tác giả).

gọi là kul-kul. Ngày nay trống được hiểu theo nghĩa duy tục là dùng để triệu tập dân làng, báo động khi có tai ách, dùng để báo tử khi có nhân vật quan trọng nào chết… Thật ra trống mang một ý nghĩa biểu tượng tín ngưỡng trong Vũ Trụ giáo (xem dưới).

Tường thành bao quanh có dát các đồ sứ Trung Hoa. Các đồ gồm sứ cổ đã bị cậy lấy mất. Các vật hiện nay đều là vật tái tạo.

clip_image008

Tường có gắn gồm sứ Trung Hoa (ảnh của tác giả).

Ở đây cũng có những người bán dạo dụ bán cho du khách những đồng tiền kim loại Trung Hoa nói là tiền cổ từ thời đền được xây vào thế kỷ 11. Sự hiện diện của gốm sứ và các tiền kim loại Trung Hoa ở đây cho thấy Bali vào thời này đã có giao thương với Trung Hoa và cũng cho thấy vương triều Bangli này rất giầu có.

Sân trong Trung Thế là jeroan, nơi có chính điện thiêng liêng nhất của đền gọi là meru có 11 mái ngự trị khu này. Điện thờ vị thần chính của đền là Thần Lửa.

clip_image010

Ngôi đền Meru chính (ảnh của tác giả).

clip_image012

Ngôi đền Meru chính nhìn bên hông. Lưu ý vào một ngôi đền Bali, phái nam phải thắt lưng và phải nữ phải quấn sarong.

Ngoài ra còn có những meru lỡ và nhỏ thờ các vị thần khác.

Ở phía bắc có một chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu.

clip_image014

Chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu (bali-travel-life.com).

Trong các hình chạm khắc có hình Shiva cùng con là Ganesha và Durga.

Đế chiếc ngai đá có con rùa biểu tượng cho thượng thế và hai con rắn quấn quanh biểu tượng cho âm thế. Như thế chiếc ngai đá có một khuôn mặt biểu tượng cho Trung Thế.
Chiếc ngai biểu tượng cho đất, núi, Trung Thế thấy rõ qua hình nữ thần Ai Cập Isis tương ứng với Âu Cơ-Núi có biểu tượng là chiếc ngai (Tương Đồng Giữa Ai Cập Cổ với Cổ Sử Việt).

Thượng Thế

Từ trung thế dùng các bậc cấp đi lên thượng thế là một khu sân nhỏ trên cao phía trong cùng. Ở bên phải của sân thượng thế có ba điện ngai (throne shrines) biểu tượng cho tam thần Brahma, Shiva và Vishnu, những vị thần sáng thế của Ấn giáo.

Cấu trúc đền theo Tam Thế với ngọn núi là trục thế giới, đền mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Ý Nghĩa Cấu Trúc Của Đền Kehen.

Như đã nói ở trên cốt lõi văn hóa Bali là sự hôn phối giữa Vũ Trụ giáo Ấn giáo với Vũ Trụ giáo Bách Việt vì thế ta hãy nhìn cấu trúc ngôi đền này Bali dưới lăng kinh chung của Vũ Trụ giáo của hai nền văn minh Ấn-Việt .

Vũ Trụ giáo đã thấy rõ qua

.chủ đích của đền là thờ ba vị thần tối cao trong truyền thuyết sáng thế của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Vishnu. Đền mang ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo.

.hình dạng đền trên núi mang ý nghĩa biểu tượng cho núi Meru của đền.

.hình ảnh núi Meru của cổng chính.

.qua bố cục Tam Thế của đền.

.cây đa cổ thụ như đã nói ở trên. Sự thờ phượng cây đa của Bali giống như trong văn hóa Việt Nam và Bách Việt. Cây đa là cây thần thường được trồng ở đình miếu, chùa chiền. Cây đa có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong Vũ Trụ giáo (xem Cây Đa Rụng Lá Sân Đình, Ca Dao Tục Ngữ Tinh Hoa Dân Việt).

Như đã nói, ở trên cao của cây đa có treo trống kul-kul. Như đã biết trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn mang trọn vẹn triết thuyết Vũ Trụ Tạo Sinh của Vũ Trụ giáo. Ở đây chỉ thờ trống mõ mà không thờ cồng, chiêng cho thấy rõ trống là biểu tượng cho Vũ Trụ Tạo Sinh của đền.

Ở đây trống thờ trên cao ở cây đa mang hình bóng Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) bắt buộc trống phải mang nghĩa tín ngưỡng của Vũ Trụ giáo.

Tóm lại thờ trống mõ ở đây cho thấy đền có một khuôn mặt Vũ Trụ giáo.

Hư Không, Vô Cực

Đỉnh núi Meru là cõi hư vô. Đền có Tam Thế tất nhiên ở cõi thượng thế có hư không.

Trở lại hai chiếc trống mõ kul-kul ở lầu trống trên cao ở cây đa. Phần chòm cây đa mang hình ảnh Cây Vũ Trụ, Cây Tam Thế là thượng thế. Dĩ nhiên thượng thề có hư không.

Ngày nay trống này được hiểu theo nghĩa duy tục là dùng để báo động khi có tai ách, dùng để báo tử khi có nhân vật quan trọng nào chết… Nhưng phải hiểu theo một nghĩa cao hơn trong tín ngưỡng. Trong Vũ Trụ giáo trống có một khuôn mặt biểu tượng cho hư không, vô cực. Trống là không. Trống có một khuôn mặt hư không (tiếng trống thu không) (Ý Nghĩa và Chức Vụ Trống Đồng trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á). Trống ở đây làm bằng một khúc thân cây khoét rỗng tức một loại trống mõ (split drum). Mõ biến âm với mo, cái bao, bọc. Mõ biểu tượng cho hư không, không gian có hình bao, bọc, túi. Ở đây trống mõ có hình trụ mang nghĩa nọc, lửa. Trống mõ nọc biểu tượng cho hư không phía nọc lửa ứng với khuôn mặt của thần lửa Brahman, của đấng tạo hóa Brahma. Ở đây có khuôn mặt lửa vũ trụ Càn mang tính chủ. Ta cũng thấy hai trống trụ nọc là hai nọc là hai dương, thái dương. Hai que nọc cũng dùng để dùi làm lửa.

Con rùa dưới chân ngai đá có mai hình vòm biểu tượng cho vòm hư vũ trụ, vòm hư không có một khuôn mặt hư vô.

Hiển nhiên đền có một khuôn mặt biểu tượng cho hư vô, vô cực.

Trứng Vũ Trụ, Thái Cực.

Đền xây trên một ngọn đồi mang hình ảnh của núi Meru. Như đã biết, đền hình kim tự tháp có là hình nọc thái dương sing động. Nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói), hình tam giác, hình kim tự tháp mang dương tính, lửa, mặt trời, Càn. Đền có 8 tầng bậc. Số 8 là số Khôn tầng 1. Ta thấy rõ có sự hôn phối Càn Khôn giữa đền hình kim tự tháp Càn với 8 tầng bậc, Khôn. Nhìn dưới dạng nhất thể đền mang tính lưỡng hợp đại vũ trụ Càn Khôn.

Cổng chính cũng mang hình ảnh núi Meru có tầng cấp bậc là mái.

clip_image016

Nhìn từ mặt sau cổng chính thấy rõ trên chỏm nóc có hình bầu nậm, nhìn, dưới diện nhất thể là thái cực.

Thấy rất rõ là trên chỏm nóc của cổng chính có hình bầu nậm, nhìn dưới diện nhất thể bầu nậm là trứng vũ trụ, thái cực.

Chiếc ngai đá có phần trên hình trụ dương, lửa dưới chân có hai con rắn âm, nước, nhìn dưới dạng nòng nọc, âm dương nhất thể cũng mang hình ảnh thái cực.

Như đã nói ở trên ở đền thờ Thần Lửa Brahman này có khuôn mặt thần tạo hóa Brahma lưỡng tính phái mang tính chủ. Khuôn mặt lưỡng tính phái ứng với trứng vũ trụ, thái cực.

Nói rộng ra trong một ngôi đền Bali vị thần sinh tạo thường mang khuôn mặt lưỡng tính phái, nòng nọc, âm dương nhất thể.

Vị này thường lớn hơn hết và đứng ở giữa tại chính điện. Ví dụ ở một ngôi đền thờ ba vị thần sáng thế chính là Brahma, Shiva và Vishnu thì vị thần tạo hóa lưỡng tính phái là vị thần chính.

Chi tiết giúp ta nhận diện ra vị này. Ví dụ thần được quấn sarong có các ô vuông (ca-rô) đen (âm) và trắng (dương) giống như mầu đen trắng của đĩa thái cực.

Lưỡng Nghi

Nhìn dưới diện lưỡng cực riêng rẽ đền có một khuôn mặt lưỡng nghi.

Ở bên cạnh điện tháp meru chính 11 mái có một khuôn mặt nòng nọc, âm dương lưỡng hợp nhất thể có hai đền tháp meru cỡ trung chỉ có 3 mái ứng với lưỡng nghi.

clip_image018

Hai đền tháp Meru cỡ trung bên đền tháp chính ứng với lưỡng nghi.

Tại chiếc ngai đá chạm hoa sen thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu thì thần Shiva có một khuôn mặt Trụ Lửa và Thần Vishnu có một khuôn mặt sông nước (sông Hằng, có biểu tượng là con cá sấu) ứng với lưỡng nghi.

Nói rộng ra trong một ngôi đền Bali thờ ba vị thần sáng thế thì hai vị thần hai bên ứng với lưỡng nghi.

Chi tiết giúp ta nhận diện ra hai vị này. Ví dụ thần được quấn sarong đen ứng với cực âm và vị quấn sarong trắng ứng với cực dương.

Tứ Tượng

Núi Meru có đế vuông diễn tả tứ tượng. Đền cũng vậy.

Cũng nên biết thêm là nếu trong một ngôi đền Bali có thờ 5 vị thần thì một vị thần chính là đấng sinh tạo, tạo hóa và bốn vị thần kia ứng với tứ phương, tứ tượng. Các chi tiết giúp ta nhận diện được các vị thần này.

Tam Thế

Đền có bố cục Tam Thế.

Các điện thờ nhỏ cũng có ba mái Tam Thế.

clip_image020

Điện thờ nhỏ ba mái Tam Thế (ảnh của tác giả).

Chiếc ngai đá thờ ba vị thần chính của Ấn giáo là Brahma, Shiva và Visnu cũng có một khuôn mặt Tam Thế. Con rùa có mai vòm biểu tượng cho thượng thế. Hai con rắn biểu tượng cho hạ thế và trụ ngai biểu tượng cho núi trụ thế gian biểu tượng cho trung thế.

Đền có cổng chính và hai cổng phụ là ba ngõ vào Tam Thế. Ba cổng này là một dạng cổng tam quan của các đền chùa, đình miếu Việt Nam.

Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Như đã nói ở trên, cấu trúc đền theo Tam Thế với ngọn núi là trục thế giới, đền mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Ở đây ta thấy rất rõ cấu trúc đền giống hệt cấu trúc đền Hùng Vương ở Vĩnh Phú Việt Nam. Đền Hùng Vương cũng có Tam Thế là đền Thượng, Hạ và Trung và núi Nghĩa Lĩnh là Trục Thế Giới mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) (xem dưới và Cấu Trúc Đền Hùng Vương).

Đền có cây đa thần mang hình ảnh Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).

Trục Thế Giới

Đền nằm trên đồi mô phỏng theo núi Meru có một khuôn mặt Trục Thế Giới.

Như đã nói ở trên , đền Tam Thế có biểu tượng là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống). Thân cây là trục thế giới.

Cổng chính với các cấp bậc đi lên có hình tháp có tầng có hình chỏm hình bầu nậm mang hình ảnh núi Meru. Như đã nói ở trên, Meru có một khuôn mặt là Trục Thế Giới.

Chiếc ngai đá thờ ba vị thần sáng thế ứng với Tam Thế có một khuôn mặt Trục Thế Giới.

Trục Thế Giới là khoảng hở của các cổng núi chẻ đôi mở vào tam thế.

Sự Tương Đồng Giữa Đền Kelen với Đền Tổ Hùng, Vĩnh Phú, Việt Nam.

Thật vắn tắt ta thấy rất rõ:

-Đền Kelen thờ ba vị thần tổ tạo hóa Brahma, Shiva và Vishnu giống như đền Tổ Hùng (xin nhắc lại tôi dùng nhóm từ đền Tổ Hùng thay vì đền Hùng Vương. Tổ Hùng kể từ Viêm Đế-Thần Nông trở xuống). Ở cõi tạo hóa, thần Brahma lưỡng tính phái nhất thể ứng với Viêm Đế-Thần Nông nhất thể. Thần Shiva ứng với Viêm Đế tạo hóa và thần Vishnu ứng với Thần Nông tạo hóa. Ở cõi sinh tạo thế gian, Brahman với khuôn mặt sinh tạo thế gian ứng Đế Minh, Shiva với khuôn mặt thế gian ứng với Kì Dương Vương thế gian và Vishnu với khuôn mặt sinh tạo thế gian ứng với Lạc Long Quân thế gian. Như đã nói ở trên, theo truyền thuyết Mường thì Đá Cần ứng với Brahma, Đá Cài ứng với Shiva và Nàng Kịt ứng với Vishnu với khuôn mặt thái âm, nước.

.Đền Kelen nằm trên sườn dốc của một ngọn đồi cao mang hình ảnh Núi Trụ Thế Gian Meru trong có Trục Thế Giới giống như Đền Tổ Hùng nằm trên sườn núi Nghĩa Lĩnh. Núi  Lĩnh cũng mang hình ảnh Trục Thế Giới. Nghĩa Lĩnh với Nghĩa là nghĩa ơn, biết ơn, tạ ơn và Lĩnh là núi nhọn đỉnh núi dương. Nghĩa Lĩnh có một khuôn mặt là Trục Thế Giới thông thương ba cõi, là trục lộ có thể dùng để dâng cúng lời tạ ơn, cầu nguyện và tế vật tạ ơn tới vũ trụ, mặt trời, thần linh, tổ tiên Việt (Cấu Trúc Đền Hùng Vương).

-Đền Kelen có 8 tầng sân ứng với Khôn và hình núi tháp trụ Meru có một khuôn mặt lửa Càn, thờ vị thần lửa Brahman ứng với Càn. Nhìn tổng quát mang tính Càn Khôn nòng nọc, âm dương giống như Tổ Hùng ứng với trứng vũ trụ phân chia ra hai ngành Lửa, Nước nòng nọc, âm dương ứng với Càn Khôn.

-Đền Kelen có phân bố (lay-out) theo Tam Thế giống hệt đền Tổ Hùng cũng gồm có ba đền Thượng, Trung, Hạ ứng với Tam Thế.

-Đền Kelen Tam Thế nằm trên đồi Trục Thế Giới diễn tả Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) giống hệt đền Tổ Hùng.

-Đền Kelen có thờ trống giống như đền Tổ Hùng cũng thờ trống đồng nòng nọc, âm dương của đại tộc Đông Sơn. Trống thuộc loại trống vũ trụ Nguyễn Xuân Quang I (Cơ Thể Trống Đồng).

-Đền Kelen tại trung thế, có điện chính thờ Thần Lửa cũng giống như ở Đền Trung tại đền Tổ Hùng có thờ Lửa.

-Đền Kelen, tại trung thế có chiếc ngai đá hình thạch trụ khắc hoa sen (loài hoa mọc dưới nước) đứng trên đế lưng rùa (biểu tượng vòm trời thiếu âm khí gió tức nòng Khôn dương) và hai con rắn quấn quanh (biểu tượng cho thái âm nước tức nòng Khôn âm) mang hình ảnh thạch trụ của ngành Khôn âm, có một khuôn mặt là mặt trời nước, êm dịu. Tại đền Tổ Hùng có một thạch trụ được gọi là tảng đá thề của An Dương Vương. An Dương Vương có một nghĩa là Vua Mặt Trời Êm Dịu ngành mặt trời nòng nước Lạc Long Quân. An Dương Vương cũng liên hệ với con Rùa Vàng Kim Qui giống ngai đá đứng trên con rùa ở đây. Dù cho có là chuyện trùng hợp thì đây cũng là điều thú vị.

-Đền Kelen có cây đa cổ thụ giống đền Tổ Hùng có cây thông cổ thụ. Cây được thờ phượng có một khuôn mặt mang hình bóng của Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống)

-Đền Kelen là đền quốc gia, là đền quốc tổ của vương triều Bangli, Nàng Đỏ, Nàng Lửa, Nàng Núi ứng với Âu Cơ là Nàng Lửa dòng Viêm Đế-Kì Dương Vương. Đền Tổ Hùng cũng thờ Âu Cơ. Đền Tổ Hùng là đền quốc tổ Việt Nam có một khuôn mặt Âu Lạc (tại đền Tổ Hùng thờ cả Lạc Long Quân và Âu Cơ).

-Đền Kelen có biểu tượng nổi bật là cổng chính hình núi Meru trên nóc cổng có hình bầu nậm biểu tượng cho nòng nọc, âm dương. Đền Tổ Hùng có biểu tượng nổi bật là Lăng Hùng Vương thứ 6, trên nóc có hình bầu nậm biểu tượng cho nòng nọc, âm dương.

-Điện meru chính có 11 mái thờ thần Lửa Brahman có số 11 là số Đoài vũ trụ tầng 2 (11 = 8 + 3) khí gió. Hùng Vương có một khuôn mặt thần bầu trời khí gió Đoài vũ trụ.

……

Kết Luận

Qua ý nghĩa và cấu trúc đền thờ Bali ta thấy rõ có sự tương đồng, hòa hợp giữ văn hóa Ấn giáo và văn hóa Việt Nam, Bách Việt. Vũ Trụ giáo của Ấn giáo đã hòa đồng với Vũ Trụ giáo của Việt Nam một cách tuyệt vời.

Điều này không có gì là nghịch lý cả vì Bali nói riêng và Nam Dương nói chung nguyên thủy cùng một đại tộc Bách Việt. Điểm thấy rõ và thuyết phục nhất là sự tương đồng đến độ kinh ngạc giữa đền Kelen và đền Tổ Hùng.

Một lần nữa cho thấy ở Nam Dương, Đa Đảo có những tộc Bách Việt Biển hay Hải Đảo. Bằng chứng hiển nhiên ở đây là Vương quốc Bangli liên hệ với  Âu Tầy, Âu Việt phía Nàng Đỏ Núi Âu Cơ. Bangli là một thứ Âu Việt, Âu Lạc ở biển, ở hải đảo.

Ngược lại cũng phản chiếu cho thấy có sự hiện diện của văn hóa Đa Đảo, Hắc Đảo trong văn hóa Lạc Việt hợp chủng tộc tức văn hóa Việt Nam ngày nay.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: